Mặc dù đạt được một số thành tựu trong công tác giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trong công tác giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng, nhưng hệ thống cơ qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ TRƯỜNG GIANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ TRƯỜNG GIANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thị Huyền
HÀ NỘI – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Võ Trường Giang
Trang 4MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ 8
1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự 8 1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai 8 1.1.2 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự 11
1 2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai 15 1.3 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm dân sự 18 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 34
2.1 Xem xét đơn khởi kiện và thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai 34 2.2 Chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp đất đai tại tòa án 47 2.3 Phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai 54
Chương 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH ĐẮK LẮK VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62
Trang 53.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk 62 3.1.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk 63 3.1.2 Những khó khăn, vướng mắc và hạn chế trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk 65 3.2 Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk 87 3.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai 87 3.2.2 Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk 90 3.2.2.1 Hướng dấn giải quyết tranh chấp đất đai trong một số trường hợp cụ thể 90 3.2.2.2 Về cơ chế phối hợp trong giải quyết các tranh chấp đất đai 94 3.2.2.3 Về bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho đội ngủ cán bộ, thẩm phán làm việc tại tòa án 95 3.2.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về đất đai 96
KẾT LUẬN 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án tranh chấp
đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự của các TAND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2016-2020)
63-64
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong bất kỳ xã hội nào, đất đai luôn có vai trò và vị trí quan trọng đối với con người, góp phần quyết định sự phát triển phồn vinh của mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn Xuất phát từ lợi ích của các giai tầng trong
xã hội và dựa trên đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đất đai nhằm tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết dứt điểm và có hiệu quả những tranh chấp đất đai nảy sinh Tranh chấp đất đai là một hiện tượng
xã hội xảy ra trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào
Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì tranh chấp đất đai mang màu sắc chính trị, đất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Việc giải quyết triệt để các tranh chấp đất đai ở các xã hội phải được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội Ở xã hội không tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giai cấp đối kháng, tranh chấp đất thường là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các bên Việc giải quyết tranh chấp đất đai
do các bên tự tiến hành thông qua con đường thương lượng, hòa giải hoặc do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên việc áp dụng các quy định của pháp luật
“Tranh chấp đất đai”, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất
đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng
đất đai; Theo nghĩa hẹp, “Tranh chấp đất đai” là tranh chấp phát sinh giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Theo quy định Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy
Trang 9định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Trong thực tế, tranh chấp đất
đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp
đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết)
Để giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chế
độ chính sách pháp luật về đất đai để ngày càng hoàn thiện làm căn cứ pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp đất đai và đáp ứng những tình huống thực tiễn phát sinh Thực tế, trong những năm qua, hệ thống cơ quan tòa án đã thụ lý và giải quyết hàng nghìn vụ án tranh chấp về đất đai góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Chất lượng giải quyết các vụ án ngày càng được nâng cao, tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán có xu hướng giảm dần Mặc dù đạt được một số thành tựu trong công tác giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trong công tác giải quyết các
vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng, nhưng hệ thống cơ quan tòa án vẫn còn nhiều hạn chế khi giải quyết các vụ án về tranh chấp đất đai, đó là: Tiến
độ giải quyết còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra, nhiều vụ án phải kéo dài không đúng thời hạn pháp luật quy định; công tác định giá, thẩm định, xác minh thu thập chứng cứ còn nhiều sai sót; việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn tại nhiều địa phương còn chưa nhất quán, chưa có sự thống nhất về nhận thức trong hệ thống cơ quan tòa án; nhiều vụ án sau khi xét xử sơ thẩm đều bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; một số vụ án phải xử đi, xử lại nhiều lần, kéo dài, làm người dân mất lòng tin của đối với đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước … Có thể khẳng định rằng, giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là loại án khó và phức tạp nhất trong các tranh chấp về dân sự Việc hướng dẫn giải thích cho đương sự thủ tục khởi kiện vụ án chuẩn chỉ theo đúng quy định của BLTTDS làm cơ sở cho việc thụ lý
Trang 10giải quyết vụ án nhanh gọn, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, giảm phiền hà cho các đương sự, giải quyết được mâu thuẫn gữa các bên đương sự và tạo lòng tin với nhân dân
Chính vì các lý do trên học viên chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học nhằm mục đích nghiên
cứu những quy định pháp luật về tố tụng dân sự để giải quyết vụ án tranh chấp đất đai Ngoài ra nghiên cứu đề tài cũng nhằm làm rõ thực trạng giải quyết và những vướng mắc trong quá trình thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về giải quyết tranh chấp đất đai từ 01/7/2016 đến nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong bối cảnh tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng, phức tạp, kéo dài, việc giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất thì tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết liên quan đến đề tài này dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau và dẫn đến quan điểm khác nhau, kết quả nghiên cứu khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề Liên quan đến đề tài tranh chấp đất đai, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học khác như: “Tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết của Tòa án” Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Châu Huế (2003), Khoa luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật đất đai 2003”, Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Hương Lan (2009), Viện Nhà nước và pháp luật; “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất bằng tòa án tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học của Lý Thị Ngọc Hiệp (2006), Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; “Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân” đề tài nghiên cứu khoa học cấp
bộ năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao do Nguyễn Văn Luật làm chủ nhiệm
Trang 11đề tài; “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta”, Luận án tiến sĩ luật học của Mai Thị Tú Oanh (năm 2013); Báo cáo tham luận “Tranh chấp đất đai và khiếu kiện kéo dài: Những nguyên nhân có tính lịch sử” của Tiến sĩ Nguyễn Quang Tuyến tại hội thảo “Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực trạng và giải pháp” ngày 08 – 09 tháng 10 năm
2008 tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk; bài viết “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án qua thực tiễn tại một địa phương” của Mai Thị Tú Oanh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 08/2009;
Các công trình này chủ yếu nghiên cứu các quy định của Luật đất đai
2003, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2005, các luật có liên quan khác về giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết bằng con đường tòa án nói riêng để thấy được những điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp để từ đó có những đề xuất để hoàn thiện những quy định của pháp luật
về giải quyết tranh chấp đất đai Đồng thời, cũng đánh giá chất lượng và hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án để từ đó đề ra các biện pháp, cơ chế bảo đảm cho việc thực thi các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp đất đai Nhìn chung những công trình nghiên cứu về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai đã làm giàu thêm kiến thức lý luận và thực tiễn về vấn đề tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai Các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên được tiếp cận, nghiên cứu, nhận định và đánh giá dưới nhiều khía cạnh và ở những mức độ khác nhau về những nội dung có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến pháp luật về tranh chấp đất đai
và giải quyết tranh chấp đất đai
Tuy nhiên, vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án chưa được nghiên cứu một cách tổng thể dưới góc độ nhìn từ thực tiễn qua công tác giải quyết tranh chấp đất đai của ngành tòa án của một địa phương cụ thể Xuất phát
từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Giải quyết tranh
chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân trên
Trang 12địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình,
trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành công của các công trình nghiên cứu trước đó để nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai nhằm đưa ra những giải pháp hiệu quả về công tác giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự tại các TAND ở tỉnh Đắk Lắk
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của đề tài là tập trung nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án theo thủ tục sơ thẩm và thực tiễn thực hiện pháp luật, qua đó chỉ ra được những hạn chế, bất cập của pháp luật và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại các TAND ở tỉnh Đắk Lắk, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết vụ án tranh chấp đất đai tại các TAND ở tỉnh Đắk Lắk
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai thủ tục tố tụng dân sự tại các tòa án
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật tố tụng dân sự giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các tòa án và thực tiễn thực hiện tại các TAND ở tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết vụ án tranh chấp đất đai tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắc Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành
Trang 13luật khác nhau Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, luận văn chỉ nghiên cứu pháp luật về thủ tục sơ thẩm dân sự giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án
mà không nghiên cứu sâu pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp đất đai Mặt khác, pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai cũng có nhiều nội dung khác nhau nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả cũng chỉ tập trung vào nghiên cứu vấn đề về thủ tục sơ thẩm dân sự giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án Luận văn không nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm dân sự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giải quyết tranh chấp đất đai
Luận văn nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp đất đai tại các tòa
án ở tỉnh Đắk Lắk từ 01/7/2016
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin là chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp Bên cạnh đó luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng cùng được sử dụng có chọn lọc để bình luận trong quá trình nghiên cứu
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn có những điểm mới và đóng góp sau đây:
- Luận văn đã làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án như: Khái niệm, đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án; cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án; nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án
- Luận văn đã đánh giá được thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục TTDS tại tòa án, chỉ ra được những hạn chế, bất cập của pháp luật về vấn đề này
Trang 14- Luận văn đã đánh giá được thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết
vụ án tranh chấp đất đai tại các TAND ở tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra được những khó khăn vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn pháp luật về giải quyết vụ án tranh chấp đất đai tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk
- Luận văn đã đề xuất được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
và bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết vụ án tranh chấp đất đai tại các tòa
án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 Chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm
Chương 3: Thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp đất đai thủ thủ tục sơ thẩm dân sự tại các tòa án nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk và một số kiến nghị
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai hiểu theo nghĩa chung nhất là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
Theo Từ điển tiếng Việt thì “tranh chấp” là giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào và đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên [63, tr.898] Dưới góc độ này, tranh chấp đất đai là tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân hoặc giữa cá nhân và tổ chức hoặc giữa tổ chức và tổ chức (giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai) với nhau về quyền sử dụng đất mà một trong các chủ thể cho rằng quyền sử dụng đất của mình bị bên kia vi phạm thì có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp buộc bên kia chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại (nếu có) do hành vi vi phạm gây ra
Theo Giáo trình Luật Đất đai của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tranh
chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp Luật Đất đai” [64,
tr.455] Tranh chấp đất đai bao gồm tranh chấp về chủ thể có quyền sử dụng đất,
tranh chấp về các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất Như vậy, chúng ta
có thể nhận thấy có sự tương đồng giữa hai thuật ngữ “Tranh chấp đất đai” và
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách nhìn của Giáo
Trang 16trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tranh chấp đất đai là một thuật ngữ rộng hơn tranh chấp quyền sử dụng đất
Theo Hiến pháp năm 1980 đến nay thì Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức sở hữu duy nhất về đất đai là sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu Do đó, tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp về sở hữu đất đai mà là tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức về quan hệ sử dụng đất đai Luật Đất đai 1987
và Luật Đất đai 1993 không sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai mà sử dụng
thuật ngữ “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, tuy
nhiên cả hai luật này không có phần giải thích thuật ngữ Khoản 7 Điều 25 BLTTDS năm 2004 quy định: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai 2003 quy định tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự hòa giải không thành hoặc không nhất trí với kết quả hòa giải thì tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có GCNQSD đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do TAND giải quyết
Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước… là tài sản
công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” Trên cơ sở đó, khoản 24 Điều
3 Luật Đất đai 2013, đưa ra định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định tranh chấp đất
đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải
Trang 17quyết như sau: “Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này
và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết Như
vậy, dưới góc độ quy định của pháp luật thì tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất nên bản chất của tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự là tranh chấp quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai có thể là: (i) tranh chấp đất đai (trên đất không có tài sản); (ii) tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất Tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Chủ thể của tranh chấp đất đai là chủ thể có quyền sử dụng đất
mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang
sử dụng Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người sử dụng đất
Thứ hai: Nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp Hoạt
động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt lớn, thường liên qua đến nhiều chủ thể nên tranh chấp thường gay gắt, số lượng người tham gia tranh chấp thường nhiều người Thông thường các tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp đơn lẻ mà thường đan xen lẫn nhau, có thể là tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
Trang 18nhưng lại liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng, hoặc hộ gia đình Ngoài ra, nhiều trường hợp tranh chấp đất đai phát sinh do UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nhưng nguyên đơn cho rằng mình mới là người có quyền sử dụng đất Do đó, khi khởi kiện yêu cầu tòa án xác định ai là người có quyền sử dụng đất, nguyên đơn thường yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất cho mình Những lý do trên dẫn đến tranh chấp đất đai thường là các tranh chấp phức tạp, có giá trị lớn, gay gắt, kéo dài và thường trải qua nhiều cấp xét xử
Thứ ba: Tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có
thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của những người thân thích, chung sống trên diện tích đất, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và xã hội
Từ các phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tranh chấp đất đai như
sau: Tranh chấp đất đai là mẫu thuẫn, xung đột phát sinh giữa các chủ thể tham gia
vào quan hệ pháp luật đất đai về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể
mà họ không thể tự mình giải quyết các tranh chấp đó mà phải thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân
sự
Trước khi làm rõ khái niệm “giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố
tụng dân sự”, tác giả làm rõ khái niệm tố tụng dân sự Theo Từ điển Luật học
của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì tố tụng dân sự là trình tự hoạt động
do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án dân sự
[72, tr.785] Giáo trình Luật tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội cũng
có quan điểm tương tự: "Trong khoa học pháp lý, trình tự do pháp luật quy định
cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được gọi là tố tụng dân
Trang 19sự " [65, tr.11] Với quan niệm này thì tố tụng dân sự bao gồm cả trình tự, thủ
tục giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự Bên cạnh đó, quan điểm khác lại cho rằng, tố tụng dân sự chỉ bao gồm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại toà án mà không bao gồm thủ tục thi hành án dân sự Tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng [49]
Với tên của đề tài luận văn, tác giả không luận giải về vấn đề thi hành án dân sự có phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự hay không, mà chỉ nghiên cứu quá trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tại tòa án Quá trình này bắt đầu từ khi tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức và kết thúc khi tòa án giải quyết xong vụ việc (khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành và không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hay kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu về giải quyết tranh chấp tại tòa án theo thủ tục sơ thẩm, không nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm dân sự tại tòa án
Như đã phân tích ở trên, tranh chấp đất đai theo nghĩa rộng là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai, bao hàm cả tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất với nhau hoặc tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính thì tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai như vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi quyền sử dụng đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, địa giới hành chính… là
Trang 20quan hệ hành chính nên nếu tranh chấp xảy ra sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự được quy định tại Điều 26 BLTTDS năm 2015 Theo đó, các tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự bao gồm các tranh chấp đất đai theo nghĩa hẹp và các tranh chấp khác liên quan đến đất đai Và để phù hợp với Luật Đất đai năm 2013, khoản 9 Điều 26 BLTTDS năm 2015 không sử dụng thuật ngữ tranh chấp quyền sử dụng đất mà quy định tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự bao gồm các dạng tranh chấp chủ yếu như: (1) tranh chấp đất đai theo nghĩa hẹp (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất); (2) tranh chấp về chia tài sản chung là quyền sử dụng đất (chia tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng, của các thành viên trong hộ gia đình
và của những người cùng góp vốn); (3) thừa kế quyền sử dụng đất (chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản); (4) các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp bằng quyền sử dụng đất…; (5) kiện đòi quyền sử dụng đất Trong phạm vi của Luận văn này tranh chấp đất đai được nghiên cứu theo nghĩa rộng
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bao gồm các tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất và các tranh chấp khác liên quan đến đất đai
Ở Việt Nam, trước BLTTDS năm 2004, thủ tục TTDS được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (viết tắt là
Trang 21PLTTGQCVADS), theo đó, TTDS là trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (theo nghĩa hẹp), các vụ án về HN&GĐ tại tòa án Thủ tục TTDS được phân biệt với thủ tục tố tụng kinh tế (thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế) được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (viết tắt là PLTTGQCVAKT) và thủ tục lao động (thủ tục giải quyết các vụ án lao động) được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm
1996 (viết tắt là PLTTGQCTCLĐ) BLTTDS năm 2004 đã nhập các thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, vụ việc HN&GĐ, vụ việc kinh doanh, thương mại, vụ việc lao động thành một thủ tục chung, gọi là thủ tục TTDS (thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng), bao gồm thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự Do đó, theo BLTTDS năm 2015, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự Theo đó, giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm dân sự tại tòa án bao gồm các hoạt động xem xét đơn khởi kiện, thụ lý vụ án tranh chấp đất đai, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử tại phiên tòa
sơ thẩm đối với tranh chấp đất đai
Từ các phân tích trên có thể rút ra kết luận: Giải quyết tranh chấp đất đai
theo thủ tục sơ thẩm dân sự là quá trình tòa án xem xét, thụ lý tranh chấp đất đai, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử tại phiên tòa sơ thẩm đối với tranh chấp đất đai
Khi giải tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm dân sự tại TAND, tòa án sẽ phải áp dụng cả pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung (pháp luật đất đai, pháp luật dân sự, pháp luật về công chứng, pháp luật về kinh doanh bất động sản…)
để giải quyết tranh chấp đất đai Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp đất đai mà không đi sâu vào nghiên cứu pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp đất đai
Trang 221.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai
- Về cơ sở lý luận: Trên nguyên tắc bảo về quyền con người, quyền công
dân, pháp luật của mỗi quốc gia không chỉ ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật Đồng thời pháp luật của mỗi quốc gia đều xây dựng các cơ chế, thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan tổ chức khi có tranh chấp, vi phạm xảy ra Tùy theo tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp mà pháp luật quy định các thủ tục tương ứng để giải quyết tranh chấp, vi phạm pháp luật bao gồm thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự và thủ tục phá sản
Như đã phân tích ở trên, tranh chấp đất đai rất đa dạng, có thể là tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý đất đai (UBND) về vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hay sai, thu hồi quyền sử dụng đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, địa giới hành chính…Đây là những tranh chấp phát sinh từ quan hệ hành chính nên sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính
Đối với các tranh chấp đất đai như tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về chia tài sản chung là quyền sử dụng đất (chia tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng, của các thành viên trong hộ gia đình và của những người cùng góp vốn), tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất (chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản), tranh chấp các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp bằng quyền sử dụng đất…, tranh chấp về kiện đòi quyền
sử dụng đất bản chất là các tranh chấp dân sự Bởi quyền sử dụng đất là một loại tài sản nên các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất bản chất là các tranh chấp dân sự Do đó, khi có tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự sẽ thuộc
Trang 23thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự Và trình tự để giải quyết các tranh chấp đất đai trong trường hợp này sẽ được thực hiện như đối với trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự
- Về cơ sở thực tiễn: Tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai đặc biệt gia
tăng những năm gần đây Do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao Nhận thức của người dân về
sở hữu đất đai không đồng nhất với quy định của pháp luật; vẫn còn tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục với những quy định lạc hậu về sở hữu đất đai chưa được loại bỏ đã "ăn sâu, bám rễ" trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng vốn ít có điều kiện tiếp xúc với pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa hoặc người dân có trình độ học vấn thấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho sử dụng ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở lên có giá thì tình trạng đòi lại đất của ông cha ngày càng gia tăng Việc cho thuê, cho mượn, cầm cố đất đai trong nội bộ nhân dân, việc đưa đất đai, lao động vào các tập đoàn sản xuất, các nông, lâm trường, không có hoặc không lưu giữ được các tài liệu, sổ sách; việc trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thu hồi đất không có quyết định, chưa bồi thường hoặc đã bồi thường nhưng không lưu giữ giấy tờ, hồ sơ nên không có cơ sở để xác định khi diễn ra tranh chấp
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án, thì chủ thể áp dụng pháp luật là thẩm phán Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của thẩm phán
là yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật trong khâu thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự nói chung và tranh chấp đất đai được chính xác, khách quan và hiệu quả Thẩm phán phải có kiến thức rộng, trình độ chuyên môn sâu,
Trang 24kỹ năng thuần thục, phẩm chất đạo đức tốt và phải luôn trau dồi kiến thức, học hỏi không ngừng, cập nhật kịp thời những văn bản mới, những kiến thức khoa học mới để đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được chuẩn xác, đưa ra được những phán quyết đúng đắn, hợp tình, hợp lý
Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014), Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014, Pháp lệnh thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã quy định điều kiện, tiêu chuẩn thẩm phán, quyền hạn, nghĩa vụ của họ khi tiến hành tố tụng Những quy định đó đã góp phần nâng cao một bước chất lượng của đội ngũ thẩm phán Tuy nhiên, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị xác định: Đội ngũ cán bộ
tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận còn yếu, thậm chí có một bộ phận cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp; vẫn còn tình trạng oan, sai trong xét xử Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến kỷ cương, hiệu lực, hiệu quả của pháp luật và của bộ máy Nhà nước Công tác thụ lý giải quyết tranh chấp, khiếu kiện đất đai ở một số nơi còn dựa vào cảm tính chủ quan, nể nang, chưa đúng pháp luật và thiếu công bằng
Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan như Luật Công chứng, Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản… Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về giải quyết tranh chấp đất đai còn chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất Chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là chính sách tài chính đất đai chưa điều tiết hoặc đã điều tiết, phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại từ đất khi sử dụng đất cho các dự án đầu tư như trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi…Khi đưa ra các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc chung, đảm bảo tính thống nhất, phù hợp làm cơ sở quan trọng trong việc xây dựng các
Trang 25quy định của pháp luật về vấn đề này đạt hiệu quả cao, điều chỉnh tốt các quan
hệ về tranh chấp đất đai
1.3 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm dân sự
- Xem xét đơn khởi kiện và thụ lý tranh chấp đất đai
Về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thời hạn tòa án xem xét đơn khởi kiện và thụ lý tranh chấp đất đai được thực hiện giống như việc xem xét, thụ lý các tranh chấp dân sự nói chung Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc thù của tranh chấp đất đai
mà tòa án cần xem xét đến các điều kiện cụ thể khác
Trước hết, khi người khởi kiện tranh chấp đất đai trực tiếp nộp đơn tại toà
án hoặc gửi đơn đến toà án qua dịch vụ bưu chính thì tòa án thông qua bộ phận nhận đơn phải tiếp nhận đơn khởi kiện và phải ghi vào sổ nhận đơn Trường hợp tòa án nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi thư trực tuyến thì tòa án phải in
ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn Đối với đơn nộp trực tiếp thì tòa án có trách nhiệm cấp ngày giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp gửi đơn qua dịch vụ bưu chính thì tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp đơn khởi kiện bằng phương thức gửi thư trực tuyến thì tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện biết thông qua cổng thông tin điện tử của tòa án (nếu có)
Trong thời hạn do pháp luật quy định, Chánh án tòa án phải phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Sau khi xem xét hình thức và nội dung đơn khởi kiện, tùy từng trường hợp, thẩm phán xem xét đơn khởi kiện sẽ quyết định giải quyết vụ án theo một trong các cách sau: (1) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong trường hợp đơn khởi kiện không đúng, không đủ các nội dung theo quy định của pháp luật; (2) Chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền trong trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án khác (vụ án khởi kiện đúng thẩm quyền theo loại việc nhưng sai thẩm quyền theo cấp hoặc lãnh thổ); (3) Trả lại đơn khởi kiện cho ngưởi khởi kiện nếu thuộc các trường hợp
Trang 26như người khởi kiện không có quyền khởi kiện, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng dân sự và các trường hợp trả lại đơn khởi kiện khác theo quy định của pháp luật; (4) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu đáp ứng đúng và đủ các điều kiện về nội dung, hình thức đơn khởi kiện
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải nộp cho tòa án các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quyền khởi kiện của mình Trước hết người khởi kiện cần nộp cho tòa án các tài liệu chứng cứ để chứng minh tên, địa chỉ cư trú hoặc trụ sở của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, các tài liệu chứng cứ chứng minh giấy tờ pháp lý của diện tích đất tranh chấp Bên cạnh đó, tùy từng loại tranh chấp đất đai cụ thể mà người khởi kiện
sẽ phải nộp cho tòa án những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình Chẳng hạn, đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất thì người khởi kiện cần cung cấp cho tòa án bản sao giấy chứng nhận quyền sử đất, đối với tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất thì người khởi kiện cần cung cấp cho tòa án giấy chứng tử của người để lại di sản là quyền sử đất, đối với tranh chấp về hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất thì người khởi kiện cần cung cấp cho tòa án hợp đồng về quyền sử dụng đất hoặc các tài liệu chứng minh về quan hệ hợp đồng…
Sau khi xác định, đủ điều kiện thụ lý, thẩm phán sẽ thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp Đa số các tranh chấp đất đai đều là các vụ án dân sự có giá ngạch nên người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo loại vụ án dân sự có giá ngạch Riêng đối với yêu cầu kiện đòi quyền sử dụng đất cho mượn, cho ở nhờ thì áp dụng mức án phí,
tạm ứng án phí của vụ án dân sự không có giá ngạch
- Thông báo về việc thụ lý vụ án tranh chấp đất đai
Để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của bị đơn, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, sau khi thụ lý vụ án tòa án sẽ thông báo việc thụ lý vụ án cho
bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trong thời hạn do pháp luật quy
Trang 27định, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan sẽ gửi cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về việc khởi kiện của nguyên đơn Nếu bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì họ sẽ gửi đơn đến tòa án Tòa án sẽ xem xét để giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cùng với việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu các yêu cầu này
có liên quan với nhau hoặc việc giải quyết các yêu cầu đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh và chính xác hơn
- Thu thập và tiếp cận công khai chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết vụ án tranh chấp đất đai sẽ tiến hành các công việc như : Lập hồ
sơ vụ án; Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho tòa án; Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
Để xây dựng hồ sơ vụ án dân sự, thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án dân sự căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ ban đầu bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ ban đầu của nguyên đơn Trên cơ sở thông báo thụ lý vụ án của tòa án, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ có liên quan có thể gửi cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về việc khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có thể gửi cho tòa án đơn phản tố, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thể gửi cho tòa
án đơn yêu cầu độc lập và các tài liệu chứng cứ kèm theo Bên cạnh đó, trong suốt giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các đương sự có thể gửi cho tòa án các văn bản tự khai, văn bản trình bày về một nội dung cụ thể liên quan đến việc giải quyết vụ án như đơn trình bày về tài sản, các văn bản yêu cầu tòa án thu thập chứng cứ… Qua nghiên cứu hồ sơ, nếu xét thấy tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp chưa đầy đủ, chưa rõ ràng thì tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung, tài liệu chứng cứ
Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng
Trang 28cứ Tuy nhiên, không phải khi nào đương sự cũng có khả năng cung cấp tài liệu, chứng cứ cho tòa án nên tòa án cần hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa
vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ Mức độ hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động chứng minh của các đương sự phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự, mức độ tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ chế tố tụng và các điều kiện kinh tế xã hội khác Vì vậy, tùy theo truyền thống tố tụng, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân mà pháp luật của mỗi nước quy định mức độ hỗ trợ của tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự là khác nhau Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng
cứ do tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp, sẽ áp dụng các biện pháp khác nhau để thu thập chứng cứ như: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; trưng cầu giám định, yêu cầu giám định; định giá, thẩm định quyền sử dụng đất; xem xét, thẩm định tại chỗ Việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một biện pháp quan trọng đối với các vụ án tranh chấp đất đai Việc xem xét thẩm định tại chỗ thường phức tạp bởi về tâm lý đương sự đang trực tiếp quản lý tài sản là nhà đất tranh chấp không hợp tác với tòa án, gây khó khăn, cản trở hoặc không cho đo vẽ nhà đất bằng việc đóng cổng, đóng cửa, bỏ đi khỏi nhà đất tranh chấp Do đó, pháp luật của các nước đều cần xây dựng cơ chế để xử lý đối với các hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ Trong trường hợp cần thiết, tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp đất đai có thể ủy thác thu thập chứng cứ để yêu cầu tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền để lấy lời khai của đương sự, của nhân chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp tư pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh tình tiết của các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất Bên cạnh đó, tòa án còn có thể thu thập chứng cứ bằng cách yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ phải cung cấp tài liệu chứng cứ cho tòa án Ngoài ra, tòa
Trang 29án cũng có thẩm quyền xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi
cư trú đối với trường hợp người bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan
đi khỏi địa phương hoặc cố tình che giấu địa chỉ nơi cư trú dưới hình thức liên tục thay đổi địa chỉ cư trú nhằm trốn tránh nghĩa vụ dẫn đến vụ án không thể giải quyết được
Để đảm bảo quyền tranh tụng, quyền được tiếp cận yêu cầu của đương sự phía đối lập, quyền trình bày ý kiến về những vấn đề mà người khác có yêu cầu đối với mình, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã quy định việc trước khi
mở phiên tòa sơ thẩm dân sự các đương sự phải thực hiện việc đưa ra yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Chẳng hạn, theo các Điều 132, Điều 134, Điều 135 BLTTDS Cộng hòa Pháp thì bên đương
sự đưa ra giấy tờ, tài liệu, có nghĩa vụ phải trao đổi giấy tờ, tài liệu đó cho các bên khác trong cùng vụ kiện Việc trao đổi giấy tờ, tài liệu phải được tiến hành ngay Thẩm phán quyền ấn định thời hạn và nếu cần thì ấn định cả thể thức trao đổi giấy tờ, tài liệu; trường hợp vi phạm có thể bị phạt tiền để cưỡng chế Thẩm phán có thể không xem xét những giấy tờ, tài liệu không được trao đổi trong thời gian thích hợp Như vậy, trong giai đoạn thẩm cứu vụ việc, các bên phải trao đổi với nhau quan điểm của mình trong các kết luận đánh giá và phải tóm tắt quan điểm
đó trong kết luận tổng hợp Thẩm phán không xem xét những kết luận không được tổng hợp [25, tr.16-23] Theo Điều 783 BLTTDS Cộng hòa Pháp, sau khi
đã có quyết định kết thúc việc thẩm cứu, không một bản kết luận nào, không một tài liệu nào có thể được chấp nhận, nếu không sẽ đương nhiên bị coi là vô hiệu, trừ các trường hợp ngoại lệ Các kết luận đánh giá và kết luận tổng hợp là những biện pháp nhằm làm giảm nhẹ một phần nội dung bản án sau này liên quan đến việc tổng hợp lập luận của các bên Giấy tống đạt gọi bị đơn ra toà và kết luận của các bên là căn cứ để các bên tranh luận tại phiên tòa [25, tr.16-23] Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng có trường hợp chấp nhận các kết luận và chứng cứ sau khi kết thúc việc thẩm cứu Theo đó, thẩm phán có thể xem xét cả những kết luận mà
Trang 30nhằm phát triển những căn cứ được viện dẫn trong các kết luận được coi là hợp thức trước đó Dưới góc nhìn phải tôn trọng triệt để quyền bảo vệ của đương sự thì thực tiễn này đã gây nhiều tranh cãi [74, tr.78]
Theo Điều 161 BLTTDS Nhật Bản, trong giai đoạn chuẩn bị tranh tụng các bên đương sự phải gửi cho nhau bản tóm tắt vụ kiện, bao gồm các tình tiết, chứng
cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình là có
căn cứ và hợp pháp Ngoài ra, trong giai đoạn này, tòa án còn thực hiện "thủ tục
thu xếp công việc", bao gồm các thủ tục tranh tụng trù bị, chuẩn bị cho tranh tụng
và thủ tục tố tụng chuẩn bị bằng văn bản Mục đích của các thủ tục này là làm rõ các tình tiết phải chứng minh và xem xét chứng cứ có hiệu quả [20, tr.436-440]
Do đó, tại phiên tòa , "về nguyên tắc các bên không được đưa ra những bằng
chứng mới hoặc lời khẳng định mới mà họ đã không đưa ra trong giai đoạn chuẩn bị" [20, tr.79]
Đối với mô hình tố tụng theo truyền thống tranh tụng, trước khi phiên tòa sơ thẩm dân sự được diễn ra các bên đương sự phải thống nhất với nhau những vấn đề còn mâu thuẫn và chứng cứ của vụ việc, những người cần được triệu tập đến tòa án [7, tr.98] Hệ thống pháp luật của Mỹ quy định thủ tục tiết lộ các tài liệu trước phiên
tòa, có nghĩa "mỗi bên đều có quyền được biết các thông tin sở hữu của bên kia" [29, tr.161]
Như vậy, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng, pháp luật của nhiều nước quy định việc trước phiên tòa sơ thẩm dân sự nói chung và vụ án tranh chấp đất đai nói riêng có thể có nhiều phiên họp diễn ra tại tòa án và tại những phiên họp đó các bên đương sự sẽ trao đổi với nhau về chứng cứ, tài liệu và thống nhất với nhau những vấn đề còn mâu thuẫn Phiên họp tiếp theo, các bên đương sự tiếp tục xuất trình những chứng cứ để chứng minh cho vấn đề còn tranh cãi ở phiên họp trước Việc giải quyết vụ án dân sự có thể diễn ra nhiều phiên họp như vậy, cho đến khi các bên đương sự thống nhất được với nhau về những vấn đề còn mâu thuẫn và các chứng cứ gây tranh cãi thì ngày mở phiên tòa sơ thẩm dân sự
Trang 31sẽ được ấn định Tiếp thu kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, BLTTDS năm 2015 của Việt Nam đã bổ sung 04 điều luậttừ Điều 208 đến Điều 211 về
"Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ” Theo đó,
BLTTDS năm 2015 đã quy định về thông báo, thành phần, trình tự và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Song, khác với pháp luật của các nước trên thế giới, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo BLTTDS năm 2015 được tiến hành cùng với phiên hòa giải Theo đó, qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và trên cơ sở đó tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp đất đai
Căn cứ vào hồ sơ vụ án tranh chấp đất đai, các chủ thể tiến hành tố tụng
và các bên đương sự phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để đánh giá, sử dụng chứng cứ, tìm ra phương án giải quyết vụ án, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm dân sự Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự được tiến hành trong suốt quá trình tố tụng từ khi khởi kiện cho đến khi giải quyết xong vụ án Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự là quá trình tổng hợp các tình tiết, các quy định của pháp luật có liên quan Phát hiện những điểm còn thiếu, còn mâu thuẫn, từ đó có biện pháp khắc phục khuyết điểm đó, chuẩn bị cho hướng giải quyết tiếp theo vụ án dân sự và thường là chuẩn bị cho phiên tòa xét xử vụ án đó [9, tr.161-162] Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự là hoạt động của
vụ án dân sự phụ trách việc giải quyết vụ án trong việc đọc, xem xét, tìm hiểu tài liệu của vụ án nhằm xác định những căn cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự [9, tr.196] Như vậy, nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp đất đai là tổng hợp các hoạt động đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó đưa ra kết luận về các vấn đề về tố
Trang 32tụng và nội dung của vụ án Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp đất đai, tòa
án cần phải làm rõ, chính xác được các nội dung sau:
(i) Xác định được chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp, vụ án tranh chấp
đất đai có bao nhiêu quan hệ pháp luật tranh chấp, quan hệ nào là quan hệ chính, quan hệ nào là quan hệ phái sinh Việc xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp đất đai là vấn đề then chốt, quyết định và bảo đảm cho việc giải quyết chính xác vụ án, bởi nó quyết định đến các nội dung nghiên cứu hồ sơ vụ án dân
sự tiếp theo như xác định pháp luật áp dụng, xác định các vấn đề tố tụng và nội dung của vụ án cũng như phương hướng giải quyết vụ án dân sự Để xác định quan hệ tranh chấp đất đai, tòa án cần làm rõ yêu cầu của các bên đương sự, căn
cứ vào đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu, các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án, cần làm rõ các bên tranh chấp với nhau về vấn đề gì, tranh chấp giữa ai với
ai, đồng thời dựa vào văn bản pháp luật nội dung áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp đó
(ii) Xác định đúng văn bản pháp luật tố tụng và nội dung áp dụng cho việc
giải quyết tranh chấp đó là Văn bản pháp luật nào? Điều khoản cụ thể ?
Văn bản pháp luật tố tụng được áp dụng là pháp luật TTDS hiện hành tại thời điểm giải quyết tranh chấp Văn bản pháp luật nội dung áp dụng để giải quyết vụ việc dân sự thông thường là pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch hoặc sự kiện pháp lý xảy ra, trừ các trường hợp ngoại lệ Xác định đúng luật nội dung và các nguồn bổ trợ khác của pháp luật giải quyết vụ án dân sự không chỉ
có ý nghĩa trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vấn đề mấu chốt của vụ việc, thu thập, cung cấp chứng cứ, đưa ra phương án giải quyết, soạn thảo văn bản tố tụng và là một trong yếu tố quyết định, góp phần cho việc giải quyết tranh chấp dân sự đúng đắn, chính xác Xác định được chính xác, đúng, đủ luật nội dung áp dụng giải quyết vụ án dân sự đòi hỏi phân tích được trong vụ án dân sự mà mình tham gia
có bao nhiêu quan hệ pháp luật cần giải quyết, các tình tiết, sự kiện pháp lý nào
Trang 33đã được xác lập, thực hiện; thời điểm xảy ra các tình tiết, sự kiện pháp lý; tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết, sự kiện đó như thế nào từ đó tìm kiếm các văn bản pháp luật áp dụng phù hợp
Các văn bản quy phạm pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ tranh chấp đất đai rất rộng, bao gồm 02 nhóm văn bản pháp luật: (1) Luật chung: Luật dân
sự là luật chung (2) Luật chuyên ngành là Luật Đất đai Tùy theo quan hệ tranh chấp mà vụ án dân sự còn có thể phải áp dụng các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Nhà ở, Luật Thương mại… Bên cạnh đó, tòa án còn có thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng và các giải đáp pháp luật của TANDTC khi tìm kiếm giải pháp cho giải thích các quy phạm pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung
(iii) Xác định các vấn đề tố tụng của vụ án:
Các vấn đề về tố tụng cần được làm rõ trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ
án tranh chấp đất đai bao gồm: Người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không? Thẩm quyền có thuộc tòa án đang thụ lý, giải quyết hay không (thẩm quyền theo loại việc, theo cấp và theo lãnh thổ)? Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác hay chưa? Vụ án có bắt buộc phải thực hiện các thủ tục tiền tố tụng hay không? Thời hiệu khởi kiện có còn hay không? Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không? Xác định thành phần và tư cách của các đương sự Căn cứ vào yêu cầu của đương sự, tài liệu của
vụ án, vụ án dân sự cần xác định vụ án liên quan đến những ai, yêu cầu của họ là
gì để xác định đúng tư cách tố tụng của họ, bởi nếu bỏ sót người tham gia tố tụng
sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
(iv) Xác định các vấn đề nội dung của vụ án
Căn cứ vào thời điểm xác lập quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc sự kiện pháp lý và thời điểm phát sinh tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp,
Trang 34những vấn đề thống nhất, mâu thuẫn giữa các đương sự, yêu cầu, nguyện vọng
cụ thể của đương sự, từ đó, thẩm phán cần xác định vấn đề mấu chốt của vụ án là
gì hay cần làm rõ những vấn đề cần làm rõ của vụ án Trên cơ sở vấn đề mấu chốt của vụ án, thẩm phán xác định những tài liệu, chứng cứ cần thiết để làm rõ vấn đề mấu chốt, tài liệu chứng cứ của vụ án đã đủ chưa? Có cần xác minh, thu thập thêm hay không? Bằng cách nào? Ở đâu? Từ nguồn nào?
(v) Ra các quyết định tố tụng
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ vào các quy định của pháp luật, thẩm phán sẽ ra một trong các quyết định tố tụng như: Chuyển vụ án dân sự, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
- Phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai
Về cơ bản phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện giống như phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự nói chung và bao gồm các thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng, nghị án và tuyên án Tại thủ tục bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa sẽ thực hiện các thủ tục để đảm bảo cho phiên tòa được diễn ra như đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; kiểm tra căn cước của đương sự
và những người tham gia tố tụng; phổ biến quyền và nghĩa vụ tố tụng cho các đương sự, người tham tố tụng; cách ly người làm chứng nếu xét thấy cần thiết; giải quyết vấn đề hoãn phiên tòa và các yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; xác định chính xác phạm vi xét xử bằng cách hỏi các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và sự thỏa thuận về giải quyết nội dung vụ án
Tại thủ tục tranh tụng tại phiên tòa các bên đương sự theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trình bày về nội dung vụ án, yêu cầu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu Sau đó, các bên đương sự, những người tham gia tố tụng và các thành viên hội đồng xét xử hỏi để làm rõ nội dung
Trang 35vụ án, những nội dung mà các bên đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn Trong quá trình hỏi, tòa án có thể cho công bố các tài liệu của vụ án, cho xem đĩa ghi hình, nghe băng ghi âm, công bố lời khai của những người tham gia
tố tụng Trên cơ sở các tài liệu của vụ án và những chứng cứ được xác định tại thủ tục tại phiên tòa, các bên đương sự tranh luận với nhau về yêu cầu, chứng cứ
và quan điểm giải quyết vụ án Hội đồng xét xử không hạn chế thời gian tranh luận tại phiên tòa Các bên đương sự có quyền đối đáp với nhau về những nội dung có mâu thuẫn Nếu qua tranh luận, xét thấy các tài liệu, chứng cứ của vụ án chưa rõ thì hội đồng xét xử có thể quay lại thủ tục hỏi Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử sẽ nghị án, ban hành bản án giải quyết tranh chấp đất đai và tuyên án
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự
- Về chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và hoạt động xây dựng pháp luật về đất đai nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, kỹ thuật soạn thảo, xây dựng pháp luật chưa cao, thuật ngữ và các khái niệm pháp lý trong các quy phạm pháp luật về đất đai muốn áp dụng trên thực tế lại cần có văn bản hướng dẫn để thi hành của các cơ quan có thẩm quyền Tính ổn định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật về đất đai không ổn định lâu dài, trong những năm qua chu kỳ 10 năm lại sử đổi, bổ sung một lần Thực tế, một số văn bản pháp luật về đất đai đã được ban hành nhưng không có tính khả thi hoặc khả năng áp dụng pháp luật vào thực tiễn giải quyết tranh chấp không sát với thực tế,
và thậm chí không theo kịp với thực tế dẫn đến hiệu lực và hiệu quả thấp…
Để giải quyết tranh chấp đất đai nhanh chóng, hiệu quả thì bản thân pháp luật về đất đai và hệ thống pháp luật phải có chất lượng cao, phải sát với thực tế
và theo kịp với đời sống xã hội; hệ thống pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn phải có tính đồng bộ, thống nhất về nội dung văn bản (không mâu thuẫn,
Trang 36chồng chéo nhau) Các văn bản pháp luật được ban hành phải phù hợp giữa nội dung và hình thức, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao và đảm bảo ổn định tương đối, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp mặt khác việc hướng dẫn, thi hành các văn bản pháp luật cần được tập huấn thường xuyên
và cập nhật liên tục Trong hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai của TAND thì chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng áp dụng pháp luật và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích cũng như nghĩa vụ của công dân khi tham gia quan hệ tranh chấp
đó, khi áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai thì toà án phải căn
cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật nội dung và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến đất đai Do vậy nếu hệ thống pháp luật
và các văn bản quy phạm pháp luật không đảm bảo chất lượng tốt, thiếu tính chính xác, không có khả thi sẽ không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, không thể hiện được pháp chế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Vì thế chất lượng của hệ thống pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật phải tốt thì việc áp dụng pháp luật mới đảm bảo được tính hiệu quả và hiệu lực cao, theo sát với thực tiễn và đi vào cuộc sống
- Về công tác quản lý, lưu trữ các thông tin về đất đai và trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Trong giải quyết tranh chấp đất đai, các thông tin về đất đai như tờ bản đồ,
sơ đồ, trích lục bản đồ, quy hoạch, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mốc giới đất là những tài liệu, chứng cứ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến kết quả giải quyết vụ án tranh chấp đất đai Đó là những tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, xác định nguồn gốc đất, quá trình quản lý sử dụng đất, xác định tài sản chung, riêng hay xác định
di sản, hay hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng hay xác định chủ thể có quyền
sử dụng đất, đường lối giải quyết vụ án Những chứng cứ đó nhiều khi nằm trong sự lưu giữ và quản lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Đối với tranh
Trang 37chấp về đất đai các chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất, sự thay đổi, chuyển dịch quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, các tờ bản đồ về nhà đất, hiện trạng nhà đất do cơ quan quản lý đất đai ở địa phương quản lý Vì vậy, để đương sự
có thể thực hiện được việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình cần phải có sự hợp tác tích cực từ những cơ quan, tổ chức, cá nhân này Những chủ thể này cần phải nhận thức rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp chứng cứ, tài liệu Song, việc quản lý đất đai của nhiều chính quyền địa phương trong thời gian vừa qua thực hiện không tốt, khi đương sự hay tòa án yêu cầu cung cấp thông tin, nhiều ủy ban nhân dân không trả lời hoặc trả lời chậm, thậm chí không trả lời Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả giải quyết tranh chấp đất đai Do đó, cần có quy định cụ thể về hệ thống quản lý các
dữ liệu về đất đai và chế tài đủ mạnh đối với các tổ chức lưu trữ, quản lý thông tin về đất đai nhưng không sẵn sàng cung cấp thông tin cho đương sự và tòa án khi có yêu cầu
- Về trình độ, phẩm chất đạo đức và các chế độ chính sách đãi ngộ đối với thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Giải quyết các vụ việc nói chung và vụ án tranh chấp đất đai nói riêng là chức năng, nhiệm vụ đặc thù của TAND nhằm bảo vệ công lý, đảm bảo sự công bằng, ổn định, phát triển kinh tế xã hội Cán bộ, thẩm phán toà án và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn tốt, có năng lực trong công việc, có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, có cách ứng xử tốt, có tư cách đạo đức mẫu mực Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai của TAND được chuẩn mực, khách quan và hiệu quả cao
Để làm tốt công tác này thì thẩm phán và Hội thẩm nhân dân luôn trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, tập huấn nghiệp vụ và có các thẩm phán chuyên biệt để giải quyết các tranh chấp đất đai Trong thực tế những năm gần đây đã có trường hợp áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp đất đai của TAND còn tình trạng
Trang 38giải quyết thiếu khách quan, không thấu tình đạt lý dẫn đến các bản án bị huỷ, sửa nhiều, nguyên nhân do trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán Đối với Hội thẩm nhân dân phải là người có am hiểu pháp luật
có trình độ kiến thức pháp luật thì hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng mới có hiệu quả cao
Để có hiệu quả cao trong áp dụng pháp luật nói chung thì Nhà nước cần quan tâm hơn nữa để đảm bảo chế độ chính sách đối với đội ngũ thẩm phán và quan trọng nhất về tiền lương và phụ cấp Khi có một mức lương xứng đáng đảm bảo được cuộc sống của mình và con cái của họ thì chắc chắn rằng hạn chế được việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra Trên cơ sở họ cân nhắc những thiệt hơn chắc rằng họ sẽ không có việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra Sự quan tâm này là sự tác động lớn thúc đẩy các thẩm phán và Hội thẩm nhân dân làm việc công tâm, khách quan, cống hiến hết mình cho sự nghiệp
- Về cơ sở vật chất, các chế độ bảo vệ thẩm phán và Hội thẩm nhân dân để đảm bảo cho hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai
Để đảm bảo cho cán bộ toà án, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, những người làm công tác áp dụng pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, một trong những điều kiện hết sức quan trọng phải quan tâm là vấn đề trụ sở, những thiết bị làm việc và xét xử Xét xử là công việc phức tạp, bản án, quyết định của Hội đồng xét xử sẽ dẫn đến một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm pháp lý nhất định, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản, danh dự của người phải thi hành Chính điều này đã trở thành sự ganh ghét, hằn thù, đe doạ, trả thù trong cuộc sống Ai cũng phải có các mối quan hệ xã hội Nếu thẩm phán không biết phân biệt thì dễ dẫn đến những cám dỗ vật chất đời thường, nhất là điều kiện kinh tế vật chất hiện nay đang thiếu thốn Do tính chất đặc thù của công việc, thẩm phán phải được bảo vệ tuyệt đối an toàn Để giúp các Thẩm phán yên tâm công tác, Nhà nước nên có quy định những biện pháp đặc biệt để đảm bảo an toàn cho thẩm phán có như vậy các thẩm phán mới yên tâm, chuyên tâm vào
Trang 39công việc trọng trách được giao Việc áp dụng pháp luật để giải quyết và xét xử các vụ án tranh chấp đất đai được đảm bảo chính xác và đúng pháp luật
Bên cạnh đó, cần xây dựng các điều kiện nhằm đảm bảo tính độc lập, khách quan của thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong để giải quyết tranh chấp đất đai Trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai không được bất kỳ ai can thiệp hoặc tác động đến đường lối giải quyết của thẩm phán Năng lực, sự cẩn trọng của thẩm phán là tiền đề để thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử của mình đúng quy định của pháp luật và đảm bảo tính công bằng khi giải quyết Năng lực chuyên môn đó được thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án (từ khi thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử, điều khiển phiên toà, ra bản án, quyết định của Hội đồng xét xử) đảm bảo chính xác, khách quan, toàn diện đúng pháp luật
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tranh chấp đất đai là mẫu thuẫn, xung đột phát sinh giữa các chủ thể tham gia
vào quan hệ pháp luật đất đai về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể
mà họ không thể tự mình giải quyết các tranh chấp đó mà phải thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bao gồm các tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất và các tranh chấp khác liên quan đến đất đai Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm dân sự là quá trình tòa án xem xét, thụ lý tranh chấp đất đai, chuẩn bị xét
xử sơ thẩm và xét xử tại phiên tòa sơ thẩm đối với tranh chấp đất đai
Việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp đất đai cần được dựa trên cơ sở bản chất của tranh chấp đất đai là tranh chấp dân sự và thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai Về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thời hạn tòa án xem xét đơn khởi kiện và thụ lý tranh chấp đất đai được thực hiện giống như việc xem xét, thụ lý các tranh chấp dân sự nói chung Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc thù của tranh chấp đất đai mà tòa án cần xem xét đến các điều kiện cụ thể khác về thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật
về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự phụ thuộc vào các
yếu tố như chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, công tác quản lý,
lưu trữ các thông tin về đất đai và trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, trình độ, phẩm chất đạo đức và các chế độ chính sách đãi ngộ đối với thẩm phán và Hội thẩm nhân dân