hoặc các chỉ tiêu phi tài chính, cụ thể: Các nghiên cứu ngoài nước: Palepu, Healy và Bernard 2007 trong tác phẩm Bussiness Analysis and Valuation đã nêu ra cách thực hiện phân tích báo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
TRẦN THỊ NGỌC THUÝ
HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN – CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN TỔNG CÔNG TY
XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 8340301
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Tiến
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 8
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 9
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động 9
1.1.2 Phân loại về hiệu quả hoạt động 10
1.2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 12
1.2.1 Công tác chuẩn bị phân tích 12
1.2.2 Trình tự tiến hành phân tích 14
1.2.3 Kết thúc quá trình phân tích 15
1.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 15
1.3.1 Phương pháp so sánh 15
1.3.2 Phương pháp loại trừ 17
1.3.3 Phương pháp Dupont 20
Trang 31.3.4 Phương pháp tương quan 21
1.4 NỘI DUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 22
1.4.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hoạt động 22
1.4.2 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 26
1.4.3 Phân tích hiệu quả tài chính 32
1.4.4 Phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN - CÔNG TY TNHH MTV THUỘC TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI 37
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN - CÔNG TY TNHH MTV 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm tổ chức hoạt động 38
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán 39
2.1.4 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh xăng dầu và phân cấp quản lý có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động 42
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN - CÔNG TY TNHH MTV THUỘC TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI 45
2.2.1 Thực trạng công tác tổ chức phân tích 45
2.2.2 Phương pháp sử dụng phân tích 47
2.2.3 Thực trạng về nội dung phân tích hiệu quả hoạt động 48
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN CÔNG TY TNHH MTV THUỘC TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI 66
2.3.1 Các kết quả đạt được 66
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 67
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN - CÔNG TY TNHH MTV THUỘC TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI 71
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN 71
3.1.1 Quan điểm hoàn thiện 71
3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 72
3.2 GIẢI PHÁP HOẢN THIỆN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI KHU VỰC TÂY NGUYÊN - CÔNG TY TNHH MTV THUỘC TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI 73
3.2.1 Hoàn thiện về tổ chức phân tích 73
3.2.2 Hoàn thiện về phương pháp thực hiện phân tích 74
3.2.3 Hoàn thiện về nội dung phân tích 77
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 80
3.3.1 Về phía Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên – Công ty TNHH MTV 80
3.3.2 Về phía Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội 81
3.3.3 Về phía Bộ Quốc Phòng 81
KẾT luẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN CHUNG 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ROA Sức sinh lợi của tài sản
ROE Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
HÌNH:
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 39
Hình 2.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán 41
Hình 2.3 Quy trình thực hiện kế toán trên máy 42
Hình 2.4 tình hình thực hiện kế hoạch sản lƣợng giai đoạn 2017- 2020 49
BẢNG: Bảng 2.1: Tình hình thực hiện kế hoạch sản lƣợng giai đoạn 2017- 2020 48
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu giai đoạn 2017-2020 50
Bảng 2.3: Tình hình thực hiện kế hoạch chi phí giai đoạn 2017-2020 53
Bảng 2.5: Bảng chỉ tiêu phân tích hiệu suất sử dụng của tài sản ngắn hạn 54
Bảng 2.6: Bảng chỉ tiêu phân tích hiệu suất sử dụng của tài sản dài hạn 55
Bảng 2.7: Bảng chỉ tiêu phân tích năng lực hoạt động của tổng tài sản 56
Bảng 2.8: Bảng chỉ tiêu phân tích vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền
bình quân 57
Bảng 2.9: Bảng chỉ tiêu phân tích vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay 58
Bảng 2.10: Bảng phân tích về khả năng sinh lợi của doanh thu tại Chi nhánh 60
Bảng 2.11 : Bảng phân tích về khả năng sinh lợi của tài sản (ROA) của Chi nhánh 61
Bảng 2.12 : Bảng phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sỡ hữu( ROE) và vốn cấp 63
Bảng 2.13: Bảng phân tích hiệu quả sử dụng nợ phải trả 64
Bảng 2.14 : Bảng phân tích hiệu quả hoạt động đầu tƣ tài sản cố định 65
Bảng 2.15: Bảng phân tích hiệu quả hoạt động đầu tƣ tài chính 66
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Diễn biến của thị trường xăng dầu thế giới phản ánh khá trung thực về cục diện thế giới cả về kinh tế, chính trị, an ninh, an toàn ở nhiều khu vực khác nhau Trong những năm gần đây diễn biến giá dầu thế giới có nhiều biến động Biến động thị trường xăng dầu trong nước gắn liền với biến động của thị trường thế giới Cụ thể, giá xăng dầu Việt Nam đã dựa trên cơ sở giá thế giới các sắc thuế cũng như các mức trích - xả quỹ bình ổn giá xăng dầu Đồng thời, căn cứ vào định mức chi phí kinh doanh và mức lợi nhuận hợp lý để quyết định giá cơ sở - căn cứ để điều hành bán lẻ theo chu kì 15 ngày
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì vấn đề cạnh tranh giữa các
DN là vấn đề được đặt lên hàng đầu, cạnh tranh để tồn tại và phát triển Đứng trước những cơ hội và thách thức của xu thế hội nhập như hiện nay thì các
DN kinh doanh xăng dầu không ngừng hoàn thiện và nâng cao hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời phải có những chiến lược kinh doanh thích ứng với mỗi giai đoạn phát triển Vì vậy mà việc phân tích HQHD là việc làm hết sức cần thiết đối với DN mà nhất là các nhà quản trị, các nhà quản trị phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của DN Trên cơ sở đó để tìm ra những điểm mạnh cần phát huy,
khắc phục những điểm yếu của DN mình
Thời gian gần đây, khủng hoảng Nga-Ukraine làm kinh tế Việt Nam không tránh khỏi hệ lụy Bởi cả Nga và Ukraine đều là những đối tác thương mại truyền thống và quan trọng của Việt Nam tại khu vực Á-Âu Về kim ngạch thương mại, Nga xếp thứ nhất, Ukraine xếp thứ 6 Đồng thời, việc đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch COVID-19 gây ra chưa được khắc phục thì khủng hoảng Nga-Ukraine càng làm trầm trọng hơn Điều này ảnh hưởng nặng nề tới nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất của nước ta, tác động trực tiếp đến lạm phát và tăng trưởng Trong những năm
Trang 8gần đây, nước ta nhập siêu khoảng 6 t USD đối với mặt hàng xăng dầu Khi giá xăng dầu ta ng cao, giá trị nhạ p siêu mặt hàng này cũng s ta ng Bên cạnh những mặt lợi, giá dầu tăng cũng đem lại những rủi ro cho ngành dầu khí trong nước nói chung và các DN kinh doanh xăng dầu nói riêng Mặt khác, ngành năng lượng Việt Nam phụ thuộc nhiều vào thiết bị của Nga, nên s gặp phải những khó khăn, rào cản trong tương lai nếu chưa kịp tìm được nguồn cung ứng thay thế
Nhận thấy sự tác động lớn làm biến động thị trường xăng dầu thế giới
và trong nước ảnh hưởng tới các hoạt động kinh doanh và quản lý DN đặc biệt đối với ngành kinh doanh xăng dầu Bên cạnh đó, quá trình công tác tại Chi nhánh Xăng dầu Khu vực Tây Nguyên – Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội cho thấy việc phân tích HQHĐ tại Công ty còn sơ sài, các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ chủ yếu là các chỉ tiêu tổng quát như phân tích về sản lượng hàng bán, doanh thu bán hàng, sức sinh lợi của tổng tài sản,… nên chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện và đồng bộ hoạt động của Công
ty Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài luận văn “Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên – Công
ty TNHH MTV Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội” nhằm qua nghiên cứu
này đánh giá thực trạng công tác phân tích HQHĐ tại Công ty, để qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác phân tích HQHĐ tại Công ty trên các phương diện về tổ chức phân tích, phương pháp phân tích và nội dung phân tích nhằm giúp cho Ban lãnh đạo Công ty đánh giá đúng, đủ và toàn diện về HQHĐ để quản lý, điều hành đơn vị ngày một hiệu quả hơn
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Với bất kỳ DN nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh cũng đều quan tâm đến HQHĐ HQHĐ không những là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của DN khi tiến hành các hoạt động kinh doanh Chính vì điều này, việc phân tích HQHĐ từ lâu đã được các
Trang 9nhà kinh tế, nhà quản lý, nhà kinh doanh nghiên cứu, phân tích và đề xuất những chỉ tiêu đánh giá nhằm tìm kiếm các giải pháp nâng cao HQHĐ Tuy nhiên, phân tích HQHĐ là một phạm trù phức tạp, bởi vì có nhiều hoạt động kinh doanh không đánh giá trên phương diện kinh tế mà còn đánh giá trên cả phương diện xã hội, nên việc hiểu chính xác và vận dụng phù hợp vào thực tiễn phạm trù này là không đơn giản
Qua khảo sát cho thấy, có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về phân tích HQHĐ trong các DN Các đề tài nghiên cứu thường đề cập đến các chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích, phương thức đo lường HQHĐ cũng như mối quan hệ giữa HQHĐ với các yếu tố như tài sản sử dụng, vốn kinh doanh, chi phí kinh doanh Bên cạnh đó, cũng có các nghiên cứu đề cập đến phân tích hiệu quả kinh doanh trong các DN đặc thù như: chế biến gỗ, tài chính – ngân hàng hoặc các chỉ tiêu phi tài chính, cụ thể:
Các nghiên cứu ngoài nước:
Palepu, Healy và Bernard (2007) trong tác phẩm Bussiness Analysis and
Valuation đã nêu ra cách thực hiện phân tích báo cáo tài chính qua bốn phần
gồm: (1) Phân tích chiến lược kinh doanh để phát triển sự hiểu biết về chiến lược cạnh tranh của một công ty; (2) Phân tích kế toán để thể hiện chiến lược
và kinh tế kinh doanh của công ty trong báo cáo tài chính của công ty, và để phát triển các biện pháp kế toán đã điều chỉnh về HQHĐ; (3) Phân tích tài chính để phân tích t số và đo lường dòng tiền của hoạt động kinh doanh; và (4) Phân tích tương lai Ngoài ra, các tác giả còn hướng dẫn cách áp dụng các công cụ này trong nhiều bối cảnh quyết định khác nhau, bao gồm phân tích chứng khoán, phân tích tín dụng, phân tích chính sách tài chính DN, phân tích mua bán và sáp nhập cũng như phân tích quản trị và truyền thông
CFA Institute (2020) trong tác phẩm International Financial Statement
Analysis đã cung cấp chi tiết kiến thức mới nhất đánh giá thành công HQHĐ
của công ty và tình hình tài chính bất kể quốc gia xuất xứ Các khía cạnh từ
Trang 10cơ chế và tiêu chuẩn báo cáo tài chính đến hiểu thu nhập và bảng cân đối kế toán, hoàn thiện quy trình phân tích báo cáo, cộng với thông tin về kế toán thuế thu nhập, lương thưởng cho nhân viên và tác động của t giá hối đoái đối với báo cáo của các tập đoàn đa quốc gia Sách giúp người đọc khám phá sự khác biệt giữa các báo cáo từ khắp nơi trên thế giới, tìm hiểu cách mỗi yếu tố báo cáo tài chính ảnh hưởng đến việc định giá chứng khoán Ngoài ra sách còn hướng dẫn người đọc phân tích tổng thể để tìm ra manh mối về hoạt động
và đặc điểm rủi ro trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thay đổi
Hiệp hội Kế toán Công chứng ACCA (The Association of Chartered
Certified Accountants) trong chương trình đào tạo cấp chứng chỉ của ACCA,
ở học phần 3 “Phân tích KD” (ACCA, 2010a) và học phần 5 “Quản lý hiệu
quả hoat động nâng cao” (ACCA, 2010b) đã đề cập đến nhóm các chỉ tiêu
phân tích về HQHĐ như sau: (i) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi và
thu nhập, nhóm này bao gồm các chỉ tiêu như khả năng sinh lợi của vốn sử
dụng và khả năng sinh lợi của vốn CSH Trong nhóm các chỉ tiêu này, chỉ tiêu khả năng sinh lợi của vốn sử dụng hay được các nhà phân tích quan tâm sử dụng hơn; vì các tác giả cho rằng trong quá trình KD, các DN có thể huy động thêm nợ tài trợ cho quá trình KD nên vốn vay cũng cần phải được xem xét đến khi phân tích HQHĐ để đánh giá việc vay nợ tài trợ cho hoạt động có
mang lại hiệu quả hay không; (ii) Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất, nhóm
này bao gồm các chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải
thu và số ngày một vòng quay hàng tồn kho hay các khoản phải thu;(iii)
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư của cổ đông, nhóm chỉ tiêu này
nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư của cổ đông có được từ HQHĐ của DN trong quá trình đầu tư, nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu như thu nhập trên CP thường, mức LN của cổ phiếu so với cổ tức, Ưu điểm của nghiên cứu này là
đề cập đến HQHĐ thông qua cả hiệu quả và hiệu suất sử dụng Tuy nhiên, các tác giả đã đề cập khá sâu đến các chỉ tiêu phân tích hiệu quả đầu tư của các cổ
Trang 11đông, trong khi hiệu quả đầu tư của các cổ đông đã được thể hiện phần nào thông qua khả năng sinh lợi của vốn CSH và mức chi trả cổ tức còn phụ thuộc quyết định của hội đồng quản trị công ty
Các nghiên cứu trong nước:
Nguyễn Bảo Huy (2017) trong nghiên cứu “Phân tích Phân tích hiệu
quả hoạt động kinh doanh xăng dầu công ty TNHH MTV thương mại-sản xuất Quang Minh Long” Tác giả phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận,
tác giả sử dụng phương pháp phân tích so sánh và đề xuất một số biện pháp giảm chi phí, tăng doanh thu, lợi nhuận và nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên và nâng cao chất lượng quản lý
Trần Thu Xuyên (2018) trong nghiên cứu “Phân tích hiệu quả hoạt
động kinh doanh của công ty may mặc Thiên Hà Phát”, tác giả phân tích tình
hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận và có những đề xuất giảm chi phí, tăng doanh thu, lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN
Trần Thị Trúc Phương (2020) trong nghiên cứu “Phân tích hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phẩn Dược phẩm TV.Pharma năm 2020” Tác giả
đã tổ chức hoàn thiện được công tác phân tích tại DN như phân tích huy động vốn bằng kỹ thuật phân tích quan hệ giữa EBIT và EPS, hoàn thiện nội dung phân tích năng suất hoạt động của các nhà máy tại công ty, hoàn thiện nội dung phân tích hiệu quả qua phương pháp phân tích số liệu và đề xuất một
số giải pháp nâng cao HQHĐ kinh doanh và đẩy mạnh nguồn nhân lực
Từ tổng quan các nghiên cứu trên cho thấy, tùy góc độ phân tích HQHĐ và ngành nghề kinh doanh khác nhau mà có sự khác nhau về các chỉ tiêu phân tích, phương pháp và nội dung phân tích Đồng thời, thị trường xăng dầu ở nước ta có đặc điểm khác với thị trường hàng hóa thông thường Nguồn cung trên thị trường do Nhà nước bảo đảm; cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ chuyên doanh xăng dầu đều của Nhà nước Nhu cầu của thị trường xăng dầu rất đa dạng, phong phú và phức tạp Vì vậy thị trường xăng đầu không chỉ
Trang 12đơn thuần là thị trường hàng hóa, dịch vụ mà còn là vật tư, nhiên liệu cho sản xuất và dịch vụ với một cơ chế hoạt động và cơ chế bảo đảm riêng hết sức đặc thù Bên cạnh đó, cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và hiện vẫn chưa có tác giả và công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về HQHĐ kinh doanh của Chi nhánh Xăng dầu Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội Do
đó, luận văn nghiên cứu“Hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại Chi
nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên – Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội” là một nghiên cứu mang tính thời sự, có tính cấp
thiết và có ý nghĩa về mặt thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu luận văn
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là nghiên cứu công tác phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội trong thời gian qua như thế nào; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên
- Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội trong thời gian tới
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn hướng đến xác định các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này như sau:
Thứ nhất, phân tích và đánh giá thực trạng về công tác phân tích HQHĐKD
đang áp dụng tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công
ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội
Thứ hai, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích
HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến HQHĐ và phân tích
Trang 13HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Luận văn tập trung phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng
dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công
ty Xăng dầu Quân đội
+ Thời gian: từ năm 2017 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với nguồn dữ liệu thu thập và xử lý dữ liệu như sau
Đối với dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ các báo cáo tài chính do
Phòng Kế toán của Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội cung cấp Các
số liệu thu thập cho giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020 Đồng thời, luận văn còn thu thập số liệu trung bình ngành, báo cáo của Công ty đối thủ để làm
cơ sở cho các nhận định, đề xuất
Đối với dữ liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với
Giám đốc và Kế toán trưởng của Chi nhánh về tình hình hoạt động kinh
doanh, phương pháp phân tích và đánh giá HQHĐ tại Chi nhánh
Về xử lý dữ liệu thu thập: Đối với nguồn dữ liệu thứ cấp, tác giả tiến
hành tập hợp để phân tích, so sánh, tổng hợp thông tin từ sổ sách, báo cáo nhằm để đánh giá thực trạng công tác phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công
ty Xăng dầu Quân đội Còn đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành ghi
chép và tổng hợp lại nội dung các ý kiến để làm cơ sở cho những nhận định
của tác giả về công tác phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội
Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu
Quân đội
Trang 146 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn thông qua việc đã đánh giá được thực trạng về phân tích hiệu hoạt động tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội Dựa vào kết quả phân tích, luận văn đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của Chi nhánh Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, hình, danh mục tài liệu tham khảo Đề tài luận văn được kết cấu gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về HQHĐ và phân tích HQHĐ trong DN
Chương 2: Thực trạng phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công
ty Xăng dầu Quân đội
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Wikipedia, 2022), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn Điều này cho thấy, hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình
độ của con người sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt được kết quả với mục đích của mình Đây là một khái niệm rộng, bao gồm bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội (từ sản xuất KD đến y tế, giáo dục, quốc phòng ), nó không chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà còn có hiệu quả xã hội
Bản chất của HQHĐ là hiệu quả của nguồn lực, lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí nguồn lực, lao động xã hội
Từ bản chất của HQHĐ, có thể đúc kết lại rằng: “HQHĐ là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vào hoạt động kinh doanh sao cho hao phí nguồn lực, tài lực là thấp nhất với lợi ích mang lại là cao nhất; lợi ích mang lại bao gồm lợi ích cho bản thân DN và lợi ích cho cả
xã hội.” Với quan điểm này, tác giả đánh giá rằng HQHĐ được biểu hiện thông qua việc so sánh: so sánh giũa nguồn lực,tài lực bỏ ra với lợi ích thu được và ngược lại, có thể so sánh giữa lợi ích thu được với nguồn lực, tài lực
bỏ ra hoặc trên một đơn vị nguồn lực, tài lực bỏ ra Đồng thời, HQHĐ phải được xem xét trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể; và phải xem xét
Trang 16về phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Đồng thời, HQHĐ của DN là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh
tế, nhà quản lý DN; vì vậy, việc phân tích HQHĐ là hết sức quan trọng và cần thiết Vì phân tích HQHĐ là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánh giá HQHĐ của DN thông qua các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại với quá khứ, giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu được, giữa hoạt động này với hoạt động khác, giữa hiệu quả DN mình với hiệu quả của các DN khác trong cùng ngành kinh doanh ; các thông tin này s giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin
có cơ sở khoa học để đưa ra quyết định của mình
Tóm lại, qua phân tích nêu trên cho thấy: HQHĐ và các chỉ tiêu phân tích HQHĐ là công cụ quan trọng và hữu ích để đánh giá chất lượng hoạt động của DN; nó giúp các nhà quản lý và các bên hữu quan đánh giá chính xác việc sử dụng và khai thác các nguồn lực của DN trong quá trình hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không; để dựa vào đó đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu, mục đích mà mình quan tâm
1.1.2 Phân loại về hiệu quả hoạt động
Đứng trên mỗi khía cạnh khác nhau, HQHĐ s được đo lường và đánh giá khác nhau; do đó, hiện nay có nhiều cách thức phân loại về HQHĐ, cụ thể:
Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá hiệu quả, có hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội:
- Hiệu quả kinh tế cá biệt thể hiện kết quả kinh doanh cũng như lợi ích
mà DN thu được từ hoạt động kinh doanh Đó có thể là doanh thu hoặc cũng
có thể là lợi nhuận DN mang về
- Hiệu quả kinh tế – xã hội thể hiện sự đóng góp của DN vào sự tăng
trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế như tạo việc làm, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao đời sống người dân…
DN là một tế bào của nền kinh tế, mọi hoạt động kinh doanh của DN đều
Trang 17chịu ảnh hưởng bởi xu hướng vận động của nền kinh tế do đó hiệu quả kinh tế
cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội có mối quan hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫn nhau Hiệu quả kinh tế cá biệt của DN s ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả kinh tế – xã hội chỉ đạt được trên cơ sở hiệu quả kinh tế cá biệt
Việc phân loại trên đòi hỏi DN phải có quan điểm toàn diện khi đánh giá hiệu quả kinh tế thương mại Trong kinh doanh, DN không nên chỉ tính đến lợi ích của riêng DN mà bỏ qua các lợi ích kinh tế – xã hội
Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả, hiệu quả kinh doanh được phân loại thành hiệu quả của chi phí tổng hợp và hiệu quả của chi phí bộ phận:
Theo quy luật giá trị, trong nền kinh tế hàng hoá, trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở chi phí lao động xã hội cần thiết, điều này có nghĩa là giá trị của hàng hoá trao đổi không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của nhà sản xuất cộng thêm phần chi phí của nhà kinh doanh thương mại (nếu xuất hiện trung gian thương mại trong quá trình trao đổi hàng hoá) mà bởi lao động xã hội cần thiết Hàng hoá chỉ được trao đổi, được thị trường chấp nhận khi hao phí lao động cá biệt để tạo ra một đơn vị sản phẩm của nhà sản xuất cộng thêm phần chi phí của nhà kinh doanh thương mại (nếu có) phải bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để làm ra một đơn vị hàng hóa đó Trong hoạt động kinh doanh thương mại của DN tồn tại nhiều khoản mục chi phí như chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ thuê ngoài,… Để thuận lợi cho việc nắm rõ nội dung các khoản chi cũng như thuận tiện cho công tác quản lý, mỗi khoản mục chi phí này lại được phân loại thành các khoản mục chi phí chi tiết hơn Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, DN thương mại cần đánh giá tổng hợp các loại chi phí trên đồng thời phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp công tác quản lý tìm được hướng giảm
Trang 18chi phí tổng hợp và chi phí bộ phận, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN
Căn cứ vào chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
- Hiệu quả tuyệt đối: Là lượng hiệu quả được xác định cho từng phương
án kinh doanh trong từng kỳ kinh doanh Hiệu quả tuyệt đối chính là phần chênh lệch giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó
- Hiệu quả tương đối hay hiệu quả so sánh: Được xác định bằng cách so
sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án kinh doanh khác nhau trong một kỳ kinh doanh hoặc giữa các kỳ kinh doanh với nhau
Trong kinh doanh, để thực hiện các mục tiêu kinh doanh, DN có thể có nhiều phương án khác nhau Mỗi phương án mang lại mức hiệu quả khác nhau với mức chi phí khác nhau Việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối giúp DN lựa chọn được phương án kinh doanh tối ưu nhất
1.2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
Công tác phân tích HQHĐ ở DN phụ thuộc vào loại hình, điều kiện, quy mô KD và trình độ quản lý ở DN Do vậy, công tác tổ chức phân tích cần phải đặt ra như thế nào để thích hợp với hình thức tổ chức KD ở DN
Công tác tổ chức phân tích HQHĐ thường được tiến thành theo ba bước: Chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích, tổng hợp và đánh giá kết quả phân tích
1.2.1 Công tác chuẩn bị phân tích
Chuẩn bị phân tích hay còn gọi là lập kế hoạch cho phân tích là một khâu vô cùng quan trọng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích HQHĐ đối với việc cải tiến và hoàn thiện chế độ quản lý
KD Chuẩn bị phân tích là bước đầu tiên của tổ chức phân tích HQHĐ nhằm tạo ra tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi tiến hành phân tích HQHĐ Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu của DN mà xác định nội dung cần phân tích, thời
Trang 19gian tiến hành phân tích, nhân sự tham gia, và tài liệu chuẩn bị cho phân tích Trong giai đoạn chuẩn bị phân tích, DN cần chuẩn bị một số vấn đề sau:
- Lựa chọn loại hình phân tích HQHĐ: có nhiều loại hình phân tích
HQHĐ khác nhau tùy vào mục tiêu phân tích và nội dung phân tích cụ thể Vì vậy, DN cần phải chỉ ra và lựa chọn được loại hình phân tích phù hợp, cụ thể:
+ Dựa vào thời điểm phân tích, phân tích HQHĐ bao gồm ba loại hình thức: Phân tích trước, phân tích hiện hành và phân tích sau Phân tích trước là
việc phân tích khi mà quá trình hoạt động KD chưa diễn ra và thường được sử dụng để phân tích các dự án, các kế hoạch hay phân tích các dự toán, định mức Phân tích hiện hành là việc phân tích được tiến hành đồng thời với quá trình hoạt động KD nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giá sát tình hình thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ hoạt động KD Phân tích sau là việc phân tích diễn
ra khi kết thúc quá trình hoạt động KD, nhằm giúp các nhà quản lý DN đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch hay mục tiêu đề ra, xác định được nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả và HQHĐ đạt được
+ Dựa vào kỳ phân tích, phân tích HQHĐ có thể chia làm ba loại:
Phân tích thường xuyên được tiến hành thường xuyên hàng ngày, hàng tuần nhằm đánh giá sơ bộ tiến độ thực hiện kế hoạch KD, đầu tư và tài chính; Phân tích định kỳ được tiến hành theo thời hạn xác định trước, không phụ thuộc vào thời hạn và tiến độ KD; Phân tích đột xuất được xuất hiện đột xuất, không xác định trước nhằm phục vụ nhu cầu thông tin cho nhà quản lý
+ Dựa vào chủ thể tiến hành phân tích, phân tích HQHĐ bao gồm hai loại hình: Phân tích bên trong - do các nhà phân tích trong nội bộ DN tiến hành
nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị nội bộ; Phân tích bên ngoài - do các nhà phân tích bên ngoài DN tiến hành nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý chung
- Xác định phạm vi phân tích: Cần phải xác định rõ phạm vi phân tích
là phân tích bộ phận hay phân tích tổng thể Việc khoanh vùng phạm vi phân
Trang 20tích s là cơ sở để nhà phân tích lựa chọn và thu thập số liệu phân tích
- Xác định nội dung phân tích: Nội dung phân tích cũng khác nhau giữa
các đợt hay các đối tượng phân tích nên tùy thuộc vào mục đích phân tích từng đợt mà trong kế hoạch xác định rõ nội dung phân tích Nội dung phân tích có thể là phân tích toàn bộ hoạt động mà DN tiến hành hay phân tích một nội dung hoạt động cụ thể
- Tiến hành thu thập, xử lý thông tin để phân tích: Tùy vào nội dung
phân tích mà tiến hành thu thập và xử lý thông tin Tài liệu chuẩn bị cho phân tích có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như Báo cáo tài chính, các báo cáo của kế toán, thống kê từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các tài liệu phi tài chính khác, Các tài liệu này cần được kiểm tra tính chính xác, hợp pháp và hợp lý để đảm bảo chất lượng thông tin Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, các nhà phân tích s tiến hành xử lý, tính toán các chỉ tiêu phục vụ cho công tác phân tích
1.2.2 Trình tự tiến hành phân tích
Tiến hành phân tích là bước căn cứ trên tài liệu phân tích, xác định đối tượng phân tích, sử dụng các phương pháp phân tích riêng có để chỉ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phân loại các nhân tố theo nhiều tiêu thức khác nhau để tạo điều kiện cho việc đánh giá đúng kết quả hoạt động KD của DN Quy trình tiến hành phân tích bao gồm ba bước sau:
- Đánh giá khái quát tình hình: Đây là việc nhà phân tích nêu lên
những nhận định sơ bộ ban đầu về tình hình phân tích Việc đánh giá khái quát được thực hiện bằng phương pháp so sánh, so sánh kết quả đạt được của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối Sau đó căn cứ vào kết quả so sánh để đánh giá
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích Tùy vào mục đích và tài liệu phân tích, nhà phân tích
phải chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng cụ thể, mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh
Trang 21hưởng cụ thể, mối quan hệ giữa nhân tố ảnh hưởng với các chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
- Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng HQHĐ của DN: Dựa vào kết quả phân tích, các nhà phân tích tiến hành tổng
hợp, liên hệ các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, sắp xếp lại theo nhóm các nhân tố tác động tăng, giảm đến sự biến động tăng giảm của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu liên quan đến HQHĐ Qua đó rút ra nhận xét, chỉ ra tồn tại và nguyên nhân dẫn đến thiếu sót để có biện pháp sử dụng trong kỳ hoạt động KD tới
1.2.3 Kết thúc quá trình phân tích
Kết thúc phân tích là khâu cuối cùng của tổ chức phân tích HQHĐ Dựa trên cơ sở kết quả phân tích được, nhà quản lý phải tổng hợp và đánh giá được bản chất hoạt động KD của DN, chỉ rõ những ưu nhược điểm trong quá trình quản lý DN Từ đó đề ra biện pháp khắc phục các nhược điểm, phát huy các ưu điểm, khai thác khả năng tiềm tàng để nâng cao HQHĐ của DN
1.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.3.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến và thường được thực hiện bước khởi đầu của việc phân tích Việc sử dụng phương pháp so sánh là nhằm các mục đích:
- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà DN đã đặt ra bằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ kế hoạch
- Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh tế thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước
- Đánh giá mức độ tiên tiến hay lạc hậu của đơn vị bằng cách so sánh giữa kết quả của bộ phận hay của đơn vị thành viên với kết quả trung bình của tổng thể hoặc so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác
Trang 22có cùng qui mô hoạt động, trong cùng một lĩnh vực hoạt động
Tuy nhiên, vấn đề cần chú ý là khi thực hiện phép so sánh, để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn, hai số liệu đưa ra so sánh phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được Các điều kiện đó là:
- Cùng nội dung kinh tế
- Phải thống nhất về phương pháp tính
- Phải cùng một đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một
độ dài thời gian
Ngoài ra, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau
Về kỹ thuật so sánh có thể so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân:
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ
tiêu kỳ phân tích so với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô biến động của các hiện tượng kinh tế
- So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế hoặc giữa trị số của kỳ phân tích
so với kỳ gốc đã được điều chỉnh theo t lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu có liên quan theo hướng dẫn quyết định quy mô chung của chỉ tiêu phân tích
Trong phân tích HQHĐ, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:
Số tương đối động thái: dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc
độ tăng trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố định kỳ gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc:
y(i + 1)/yi (i = 1, n)]
Số tương đối kế hoạch: số tương đối kế hoạch phản ánh mức độ,
nhiệm vụ mà DN cần phải thực hiện trong kỳ trên một số chỉ tiêu nhất định
Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: dùng để đánh giá mức
Trang 23độthực hiện trong kỳ của DN đạt bao nhiêu phần so với gốc Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện có thể sử dụng dưới chỉ số hay t lệ và được tính như sau:
Chỉ số (tỷ lệ %) thực hiện so
với gốc của chỉ tiêu nghiên cứu =
Trị số chỉ tiêu thực hiện
x 100 Trị số chỉ tiêu gốc
- So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt
đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay tổng thể chung có cùng tính chất
1.3.2 Phương pháp loại trừ
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có nhiều nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của DN Việc nhận thức được các nhân tố và xác định được mức độ ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác phân tích
Để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, người ta sử dụng phương pháp loại trừ tức là để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác
Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp hiệu số phần trăm, phương pháp cân đối, phương pháp chỉ số Sau đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong phân tích
1.3.2.1 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế khi các nhân tố ảnh hưởng này có quan hệ tích hoặc thương số với chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp thay thế liên hoàn được thực hiện theo nội dung và trình tự sau đây:
Thứ nhất, xác định công thức phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tố đến
chỉ tiêu kinh tế
Trang 24Thứ hai, sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định và không đổi
trong cả quá trình phân tích Theo quy ước, nhân tố số lượng được xếp đứng trước nhân tố chất lượng, nhân tố hiện vật xếp trước nhân tố giá trị Trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cũng ảnh hưởng thì xếp nhân tố chủ yếu trước các nhân tố thứ yếu
Thứ ba, xác định đối tượng phân tích Đối tượng phân tích là mức chênh
lệch giữa chỉ tiêu kỳ phân tích (kỳ thực hiện) với chỉ tiêu kỳ gốc (kỳ kế hoạch, hoặc năm trước)
Giả sử có chỉ tiêu kinh tế Y chịu tác động bởi 3 nhân tố, quan hệ giữa các nhân tố này tới chỉ tiêu là quan hệ tích số và được sắp xếp như sau:
Y = a.b.c
Ta qui ước: kỳ kế hoạch được ký hiệu bằng chỉ số 0, còn kỳ thực tế được
ký hiệu bằng chỉ số 1 Do đó, ta có:
Y = a1.b1.c1 và Yo=a0.b0.c0
Đối tượng phân tích được ký hiệu là ∆Y: ∆Y = Y - Yo
Thứ tư, Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố: Ở bước này, ta
lần lượt thay thế số kế hoạch của mỗi nhân tố bằng số thực tế Sau mỗi lần thay thế, lấy kết quả mới tìm được trừ đi kết quả trước đó Kết quả của phép trừ này là ảnh hưởng của nhân tố được thay thế
Trang 25∆c=Yc – Yb = a1.b1.c1 – a1.b1.c0
Thứ năm, tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố Tổng mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố được xác định phải bằng đối tượng phân tích:
∆Y = ∆a + ∆b + ∆c
1.3.2.2 Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn Về mặt toán học, phương pháp số chênh lệch là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn bằng cách đặt thừa số chung Vì vậy, khi thực hiện phương pháp số chênh lệch phải tuân thủ đầy đủ nội dung, các bước tiến hành của phương pháp thay thế liên hoàn Phương pháp số chênh lệch chỉ khác phương pháp thay thế liên hoàn ở bước thứ tự Có thể khái quát bước bốn bằng công thức sau:
∆Y = ∆a + ∆b + ∆C
1.3.2.3 Phương pháp cân đối
Trong quá trình hoạt động kinh doanh đã hình thành nhiều mối quan hệ cân đối Cân đối là sự cân bằng giữa các yếu tố với quá trình kinh doanh Ví
dụ như cân đối giữa vốn (tài sản) với nguồn vốn, cân đối giữa nguồn thu với chi hay cân đối giữa nguồn cung cấp vật tư với sử dụng vật tư
Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch và trong phân tích kinh tế để nghiên cứu các mối liên hệ cân đối trong quá trình
Trang 26kinh doanh, trên cơ sở đó, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động Khác với các phương pháp trên, phương pháp cân đối được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố trong điều kiện các nhân tố có quan hệ tổng (hiệu) với chỉ tiêu phân tích Như vậy, xét về mặt toán học, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố là độc lập với nhau Cụ thể, giả sử có 3 nhân tố a, b, c ảnh hưởng đến chỉ tiêu kinh tế Y theo mối quan hệ sau:
Bản chất của phương pháp này là tách một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (một
t số) thành tích của chuỗi các t số có mối liên hệ nhân quả với nhau Điều này cho phép phân tích những ảnh hưởng của các t số thành phần (t số nhân tố) đối với t số tổng hợp Với phương pháp này, nhà phân tích có thể tìm được những nhân tố, những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tốt, xấu trong mỗi hoạt động cụ thể của DN, từ đó thấy được mặt mạnh, điểm yếu trong các hoạt động của DN
Chẳng hạn, theo phương pháp Dupont, t suất lợi nhuận trên tổng tài sản
có thể được viết như sau:
Trang 27ROA = Lợi nhuận sau thuế
x Lợi nhuận sau thuế
x Doanh thu thuần Tài sản bình quân Doanh thu thuần Tài sản bình quân
= ROA x ROS x TAT
Trong đó:
ROA: Lợi nhuận trên tổng tài sản
ROS: Lợi nhuận trên doanh thu
TAT: Vòng quay tổng tài sản
Với cách tính này, có thể thấy được khả năng sinh lợi của đồng vốn DN
bỏ ra chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động bán hàng và công tác quản lý tài sản của DN
1.3.4 Phương pháp tương quan
Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với nhau Chẳng hạn, mối tương quan giữa doanh thu (trên báo cáo kết quả KD) với các khoản nợ phải thu khách hàng, với hàng tồn kho (trên bảng cân đối kế toán) Thông thường, khi doanh thu của đơn vị tăng lên thì số dư các khoản nợ phải thu cũng gia tăng, hoặc doanh thu tăng dẫn đến yêu cầu về
dự trữ hàng cho KD cũng tăng theo
Những mối liên hệ có tính chất đặc trưng giữa các yếu tố trong kinh doanh như: liên hệ cân đối; liên hệ trực tuyến và liên hệ phi tuyến trong đó, liên hệ cân đối là sự cân bằng về lượng của các yếu tố như: tổng tài sản và tổng nguồn vốn, nguồn thu và chi, hoạt động và tình hình sử dụng các quỹ,…; liên hệ trực tuyến là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu (vd:doanh thu tỉ lệ thuận vói lượng hàng bán ra); liên hệ phi tuyến có chiều hướng liên hệ luôn thay đổi, cho nên liên hệ cân đối được sử dụng phổ biến hơn cả
Hay các trường hợp khác như tương quan giữa chỉ tiêu như „Chi phí đầu
tư xây dựng cơ bản‟ với chỉ tiêu „Nguyên giá TSCĐ‟ ở DN Cả hai số liệu này đều trình bày trên bảng cân đối kế toán Một khi trị giá các khoản đầu tư xây
Trang 28dựng cơ bản gia tăng thường phản ánh DN có tiềm lực về cơ sở hạ tầng trong thời gian đến
Ngoài ra các hiện tượng và kết quả kinh doanh còn có thể được chi tiết hoá để phân tích theo những hướng khác nhau, thường là: chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu; chỉ tiêu theo thời gian, chỉ tiêu theo địa điểm
Tóm lại, phân tích tương quan s đánh giá tính hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các t số tài chính được phù hợp hơn và phục
vụ công tác dự báo tài chính, phân tích HQHĐ ở DN
1.4 NỘI DUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.4.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hoạt động
1.4.1.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng
Với các DN, HQHĐ của doanh thu được phản ánh thông qua tình hình
kế hoạch sản lượng hàng năm, nghĩa là sự chênh lệch giữa giá trị thực hiện so với kế hoạch Qua đó, có thể kết luận được HQHĐ sản xuất kinh doanh là tăng hay giảm cụ thể bao nhiêu, nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu %,
để biết được hoạt động đó có mang lại hiệu quả cho DN hay không
Chỉ tiêu này được tính dựa vào công thức sau:
Tỷ lệ hoàn thành kế
hoạch hàng năm =
Giá trị thực hiện
x 100 Giá trị kế hoạch
T lệ này được tính cho từng nội dung hoạt động của DN như tổng sản lượng qua các năm, hàng nhập, hàng xuất T lệ này nếu năm sau tăng cao hơn năm trước, chứng tỏ DN đã đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
1.4.1.2 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu
Do doanh thu bán hàng là nguồn thu nhập chủ yếu, sự thay đổi của bộ phận thu nhập này s mang lại những thay đổi to lớn trong tổng nguồn thu của
DN Hơn nữa, sự thay đổi này có thể phản ánh những thay đổi mang tính bản chất trong hoạt động kinh doanh của DN Do đó, việc tìm hiểu sự thay đổi của
Trang 29doanh thu bán hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với quá trình phân tích hiệu quả HQHĐ của DN Từ báo cáo kết quả HQHĐ dạng so sánh ngang, nhà phân tích biết được quy mô và tốc độ thay đổi của doanh thu qua thời gian Nhìn chung, chúng ta kỳ vọng doanh thu của DN s tăng lên qua thời gian Trường hợp doanh thu giảm s làm nguồn thu nhập của DN giảm và có thể ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình tài chính của DN Mặc dù vậy, ngay cả khi doanh thu tăng lên thì đánh giá của nhà phân tích cũng có thể khác nhau tùy từng trường hợp Nhà phân tích cần so sánh các con số tăng trưởng này với mức kế hoạch đặt ra đầu năm và mức tăng trưởng bình quân của ngành hoặc của đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong ngành để đánh giá cụ thể
Doanh thu tăng lên nhìn chung là dấu hiệu tốt đối với tình hình tài chính của DN bởi l nó có thể là dấu hiệu cho thấy DN đã tiêu thụ được nhiều hàng hóa hơn, tránh ứ đọng vốn Ngay kể cả khi doanh thu tăng lên không phải do sản lượng tiêu thụ tăng thì việc tăng lên đó cũng có khía cạnh tích cực là làm tăng luồng tiền vào DN Tuy nhiên, nếu muốn hiểu rõ hơn về sự thay đổi của doanh thu và dự báo được xu hướng tương lai của nó, nhà phân tích cần phải biết được nếu như doanh thu của DN thay đổi thì sự thay đổi đó là do DN tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ hay đơn thuần là do giá bán của các sản phẩm thay đổi Nhìn chung, doanh thu tăng lên do tăng sản lượng tiêu thụ được đánh giá tích cực hơn so với việc tăng giá bán bởi vì số lượng tiêu thụ tăng lên thường là biểu hiện cho thấy DN có những tiến bộ trong hoạt động sản xuất (chất lượng và mẫu mã sản phẩm được cải thiện, số lượng sản phẩm đảm bảo, kịp thời về mặt thời gian ), bán hàng quảng cáo, giới thiệu sản phẩm tốt hơn, có hệ thống bán hàng hiệu quả ) sức cạnh tranh tăng lên, chiếm lĩnh được thị trường, mở rộng thị phần Trong khi đó, giá bán sản phẩm tăng lên có thể chỉ thuần túy là kết quả của việc mức giá chung trên thị trường tăng do lạm phát hoặc do mất cân đối cung cầu của ngành hàng và không hẳn phản ánh những tiến bộ trong hoạt động của DN Gia tăng doanh thu
Trang 30thông qua con đường gia tăng sản lượng tiêu thụ s bền vững hơn so với con đường tăng giá bán
1.4.1.3 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí
Phân tích giá vốn hàng bán
Sau khi đã phân tích thấu đáo về doanh thu thuần về bán hàng của DN, nhà phân tích cần chuyển sang xem xét các khoản chi phí Trong những trường hợp mà doanh thu thuần là chỉ tiêu rất khó tăng trưởng nhanh do mức
độ cạnh tranh cao trên thị trường hoặc ngành hàng đã ở thời kỳ suy thoái thì việc quản lý chi phí tốt chính là chìa khóa để DN thành công Giá vốn hàng bán là loại chi phí đầu tiên nhà phân tích cần quan tâm vì hai lí do Thứ nhất, đây là loại chi phí mang tính trực tiếp gắn liền với các sản phẩm hay dịch vụ
mà DN đã tiêu thụ trong kì nên khi DN ghi nhận doanh thu thì cũng đồng thời ghi nhận giá vốn Thứ hai, với rất nhiều DN, đặc biệt là những DN trong lĩnh vực thương mại, sản xuất thì giá vốn hàng bán chiếm t trọng khá lớn trong tổng chi phí
Chỉ tiêu phân tích giá vốn hàng bán dựa vào t lệ sau:
Giá vốn hàng bán Doanh thu thuần/Doanh thu
Tuy có thể bao gồm nhiều khoản khác nhau, nhưng phần chủ yếu của giá vốn hàng bán vẫn là giá vốn của những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà
DN tiêu thụ trong kỳ Chi phí này lại gắn trực tiếp với khối lượng tiêu thụ trong k của DN Chính vì vậy, bước đầu tiên trong phân tích giá vốn | hàng bán, nhà phân tích cần xem xét kỹ lưỡng mối quan hệ giữa giá vốn hàng bản
và DT thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ thông qua việc so sánh tốc độ thay đổi của giá vốn với DT thuần hoặc xem xét t lệ giá vốn trên DT.Nhìn chung chúng ta kỳ vọng t lệ trên ổn định hoặc có xu hướng giảm
Phân tích chi phí tài chính
Chi phí tài chính: Chi phí tài chính của DN bao gồm nhiều khoản, nhưng
Trang 31thường gặp nhất là chi phí lãi vay, lỗ chênh lệch t giá và lỗ hoặc chênh lệch
dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính Theo quy định, các DN thường phải công bố chi tiết chi phí lãi vay ngay sau chỉ tiêu “Chi phí tài chính trên Báo cáo kết quả hoạt động KD Chênh lệch dự phòng các khoản đầu tư tài chính ngắn và dài hạn cũng có thể tính được từ các số liệu trên Bảng cân đối
kế toán Mức độ của các khoản chi phí này tùy thuộc vào mức độ vay nợ và đầu tư tài chính của DN như thế nào Để có thể hiểu về các chi phí tài chính, cần gắn chúng với chính sách tài trợ và đầu tư nói chung của DN cũng như tình hình cụ thể của các thị trường tài chính
Đánh giá hoạt động tài chính không phải là việc so sánh đơn giản doanh thu và chi phí tài chính mà cần thiết phải xem xét kĩ chính sách tài chính, đầu
tư và bản chất hoạt động của DN làm phát sinh các khoản này Chi phí tài chính và doanh thu tài chính không quan hệ với nhau đơn thuần như doanh thu bán hàng với giá vốn hàng bán Việc so sánh hai chỉ tiêu này với nhau rồi kết luận về HQHĐ tài chính s mang lại những nhận định sai lầm
Chi phí bán hàng
Khi xem xét chi phí bán hàng, nhà phân tích cần hiểu về hệ thống kênh phân phối và chiến lược tiếp thị của DN Đây có l là hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới chi phí bán hàng Nếu DN xây dựng hệ thống phân phối riêng của mình thì chi phí có thể s lớn nhưng bù lại, DN có được sự chủ động nhất định trong tiêu thụ và s tiếp cận trực tiếp được với khách hàng Ngược lại, nếu DN dùng hệ thống các nhà phân phối thì chi phí bán hàng có thể giảm nhưng DN bị phụ thuộc hơn vào các nhà phân phối này
Chi phí quản lý DN
Cũng như chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN lượng nhân viên quản lý, khấu hao TSCĐ ) Nếu chi phí này tăng lên trong mối quan hệ với DT tiêu thụ, nhà phân tích cần tìm hiểu xem nguyên nhân nào dẫn tới sự gia tăng đó
Trang 321.4.2 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.4.2.1 Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản
Hoạt động kinh doanh của một DN đòi hỏi phải đầu tư vào cả tài sản ngắn hạn (hàng tồn kho và các khoản phải thu) và tài sản dài hạn (bất động sản, đất đai, trang thiết bị) Các tỉ số về năng lực hoạt động mô tả mối quan hệ giữa quy mô hoạt động của DN (thường được xác định là doanh số tiêu thụ)
và tài sản cần thiết để duy trì hoạt động bền vững của DN
Các t số về năng lực hoạt động cũng có thể được sử dụng để dự báo nhu cầu về vốn của DN (cả trong hoạt động kinh doanh và đầu tư dài hạn) Doanh thu tăng s dẫn đến nhu cầu đầu tư cho tài sản cũng tăng thêm Các t số về năng lực hoạt động có thể giúp các nhà phân tích dự báo được những nhu cầu này và đánh giá được khả năng của DN trong việc đáp ứng nhu cầu tăng lên của các tài sản cần thiết cho mức tăng trưởng dự báo đó
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn:
Để phân tích được các chỉ tiêu này, bước đầu ta phải đi tính được số vòng quay của tài sản ngắn hạn, được tính dựa vào công thức sau:
Hiệu suất sử dụng
Tài sản ngắn hạn =
Tổng Doanh thuthuần Tổng Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ tài sản ngắn hạn của đơn vị luân chuyển được mấy vòng, ngoài ra cũng có thể hiểu chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, bình quân 1 đồng tài sản ngắn hạn mà DN đã đầu tư thì mang lại được mấy đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao
Số ngày vòng quay
của Tài sản ngắn hạn =
360
Số vòng quay của Tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ hoạt động của DN, 1 vòng quay của tài sản ngắn hạn quay trong bao lâu Thời gian này càng ngắn thì hiệu năng hoạt động càng cao và ngược lại
Trang 33- Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Năng lực hoạt động của tài sản dài hạn thường được đánh giá qua chỉ tiêu:
- Hiệu suất sử dụng của tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản đo lường tổng quát về năng lực hoạt động của toàn bộ tài sản trong DN, thể hiện qua mối quan hệ giữa tổng doanh thu
và thu nhập khác trong DN (bao gồm cả doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác) với tổng tài sản hiện có của DN
Để phân tích hiệu năng hoạt động (số vòng quay của các nguồn lực) ta cần phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động của từng nguồn lực đầu vào thông qua số vòng quay của các nguồn lực sử dụng
Chỉ tiêu số vòng quay của các nguồn lực cho biết để thu được 1 đơn vị đầu ra phải tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực đầu vào; hay nói cách khác, trong một kỳ hoạt động, nguồn lực đầu vào sử dụng luân chuyển được bao nhiêu lần Chỉ số này càng lớn, phản ánh số vòng chu chuyển các nguồn lực đầu vào càng cao, hiệu suất hoạt động càng cao và ngược lại
Chỉ tiêu thời gian một vòng quay của từng nguồn lực cho biết, khoảng thời gian để nguồn lực đầu vào luân chuyển được một vòng là bao lâu Chỉ
Trang 34tiêu này càng nhỏ thể hiện các nguồn lực đầu vào sử dụng càng có hiệu quả và ngược lại
1.4.2.2 Phân tích hiệu năng hoạt động
Để phân tích hiệu năng hoạt động (số vòng quay của các nguồn lực) ta cần phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động của từng nguồn lực đầu vào thông qua số vòng quay của các nguồn lực sử dụng
Chỉ tiêu số vòng quay của các nguồn lực cho biết để thu được 1 đơn vị đầu ra phải tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực đầu vào; hay nói cách khác, trong một kỳ hoạt động, nguồn lực đầu vào sử dụng luân chuyển được bao nhiêu lần Chỉ số này càng lớn, phản ánh số vòng chu chuyển các nguồn lực đầu vào càng cao, hiệu suất hoạt động càng cao và ngược lại
Còn chỉ tiêu thời gian một vòng quay của từng nguồn lực cho biết, khoảng thời gian để nguồn lực đầu vào luân chuyển được một vòng là bao lâu Chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện các nguồn lực đầu vào sử dụng càng có hiệu quả và ngược lại Thông thường, hiệu năng hoạt động được đánh giá qua
ba chỉ tiêu là vòng quay và số ngày vòng quay của tài sản ngắn hạn, vòng quay và số ngày vòng quay của hàng tồn kho, vòng quay và số ngày vòng quay của các khoản phải thu
Cụ thể:
- Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình
Vòng quay các khoản phải thu thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng với các khoản phải thu của DN và được xác định như sau
Vòng quay các
khoản phải thu =
Doanh thu thuần trong kỳ Các khoản phải thu bình quân
Các khoản phải thu bình quân được xác định bằng các khoản phải thu đầu kỳ cộng với các khoản phải thu cuối kỳ đem chia cho hai
Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho DN, qua đó có thể
Trang 35đánh giá hiệu quả của một chính sách đầu tư của DN
Một chỉ tiêu ngược của vòng quay các khoản phải thu là kỳ thu tiền trung bình Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian trung bình từ khi DN xuất hàng đến khi DN thu được tiền về
Kỳ thu tiền
trung bình =
Các khoản phải thu bình quân * Số ngày trong kỳ phân tích
Doanh thu bình quân trong kỳ
Trong đó: số ngày trong kỳ phân tích được xác định thường là 90, 360 ngày nếu kỳ phân tích là 1 quý, 1 năm
- Vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần trung bình hàng tồn kho luận chuyển trong một kỳ và được xác định bằng:
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán trong kỳ Hàng tồn kho bình quân
Hàng tồn kho của DN cũng được xác định theo phương pháp bình quân
số học giống như xác định các khoản phải thu Vòng quay của hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho luân chuyển bình quân trong một kỳ
Muốn biết thời gian luân chuyển của một vòng quay hàng tồn kho có thể xác định bằng:
1.4.2.3 Phân tích khả năng sinh lợi hoạt động kinh doanh
Phân tích khả năng sinh lời là một trong những nội dung phân tích được các nhà quản trị tài chính, các nhà cho vay, đầu tư quan tâm đặc biệt, vì nó gắn liền với lợi ích của họ trong hiện tại và tương lai Khả năng sinh lời có thể được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt ch với
Trang 36nhau như khả năng sinh lời hoạt động, khả năng sinh lời kinh tế, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu với các chỉ tiêu được sử dụng như sau:
- Phân tích khả năng sinh lợi của doanh thu:
Đánh giá khả năng sinh lời doanh thu là xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu T suất lợi nhuận doanh thu thể hiện trong một trăm đồng doanh thu mà DN thực hiện trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =
Lợi nhuận
x 100 Doanh thu
Lợi nhuận được xác định trong công thức trên có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hay lợi nhuận trước thuế hay lợi nhuận sau thuế Tượng ứng với chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu được xác định mẫu số trong công thức trên có thể là doanh thu thu được từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ (doanh thu thuần), doanh thu hoạt động kinh doanh (bao gồm cả doanh thu thuần và doanh thu hoạt động tài chính) hoặc cũng có thể là tổng doanh thu và thu nhập khác của DN trong kỳ (bao gồm cả doanh thu thuần, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác) Việc sử dụng mỗi chỉ tiêu tính toán khác nhau nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của mỗi hoạt động khác nhau hoặc hiệu quả toàn bộ hoạt động của DN
Để đánh giá khả năng sinh lời cho hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
Khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh được xem xét qua t số:
Tỷ suất lợi nhuận thuần
từ hoạt động kinh doanh =
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
x 100 Doanh thu hoạt động kinh doanh
Thông thường, những DN có các chỉ tiêu t suất lợi nhuận doanh thu
Trang 37cao là những DN quản lý tốt chi phí trong hoạt động hkinh doanh hoặc thực hiện các chiến lược cạnh tranh về mặt chi phí
- Phân tích khả năng sinh lợi của tài sản
Đối với một DN hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản là cơ sở vật chất kỹ thuật, phản ánh tình hình hiện có của DN Chính vì vậy, sử dụng tài sản hiện có một cách có hiệu quả vào hoạt động kinh doanh là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao HQHĐ của DN Hiệu quả sử dụng tài sản của DN thể hiện qua khả năng sinh lợi của tài sản Vì vậy, về thực chất, quá trình phân tích hiệu quả sử dụng tài sản chính là phân tích khả năng sinh lợi của tài sản; để qua đó xem xét các nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của tài sản và đề ra giải pháp quản lý phù hợp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, góp phần bảo toàn vốn, nâng cao HQHĐ Đồng thời, trong quá trình phân tích, ngoài việc phân tích khả năng sinh lợi của tổng tài sản, để đánh giá đầy đủ, toàn diện về khả năng sinh lợi của các loại tài sản của DN khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, người phân tích còn có thể đi sâu phân tích khả năng sinh lợi của từng bộ phận tài sản như: tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn, tài sản cố định
Khả năng sinh lợi của tài sản được phản ánh rõ nét nhất thông qua chỉ tiêu sức sinh lợi của tài sản, chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình Sức sinh lợi của tài sản được trình bày theo các công thức sau:
Sức sinh lợi của
Lợi nhuận sau thuế
x 100 Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong DN mang lai bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của DN càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của DN
Trang 381.4.3 Phân tích hiệu quả tài chính
1.4.3.1 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận với phần vốn của chủ DN và được xác định:
Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận
x 100 Vốn chủ sở hữu bình quân
Lợi nhuận trong công thức có thể sử dụng lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế được ưa dùng hơn
Chỉ tiêu này nói lên với một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng cao và ngược lại Nếu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cao thì s tạo nên sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, giúp DN có thể tìm được nguồn vốn mới trên thị trường tài chính để tài trợ cho tăng trưởng Ngược lại, nếu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu thấp hơn mức bình quân trên thị trường thì chắc chắn DN s gặp khó khăn trong việc thu hút vốn
1.4.3.2 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn cấp
Chỉ tiêu khả năng sinh lợi của vốn cấp = Lợi nhuận trong kỳ
Tổng vốn cấp trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của DN; một đồng vốn tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh trình độ lợi dụng yếu
tố vốn của DN
1.4.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng nợ phải trả
T số nợ được đo bằng t số giữa tổng số nợ phải trả với tổng tài sản hay nguồn vốn của DN
Tổng nguồn vốn (Tổng tài sản)
Trang 39T số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của DN, nguồn vốn | từ bên ngoài (từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần trăm
Nếu so sánh nợ phải trả với tổng tài sản thì t số nợ còn thể hiện mức độ tài trợ cho số tài sản hiện có của DN từ nguồn vốn từ bên ngoài Một cách viết khác của t số nợ có thể được dùng:
Nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu =
Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu
T số vốn chủ sở hữu hay t suất tự tài trợ là cách viết ngược của t số
nợ Sử dụng t số vốn chủ sở hữu để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu | trong tổng nguồn vốn của DN Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ số vốn
Vốn chủ sở hữu
= 1-Tỷ số nợ Tổng nguồn vốn
Thông thường một DN có t số nợ thấp (hay t số vốn chủ sở hữu cao) được đánh giá là ít bị phụ thuộc vào chủ nợ trong hoạt động kinh doanh và do vậy dưới góc độ các chủ nợ, món nợ của họ càng được đảm bảo an toàn khi rủi ro xảy ra
1.4.4 Phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư
1.4.4.1 Phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư tài sản cố định
Để phân tích HQHĐ đầu tư tài sản cố định, các nhà phân tích thường đánh giá trên hai khía cạnh là quy mô đầu tư thông qua chỉ tiêu t số vốn đầu
tư tài sản cố định so với tổng tài sản và HQHĐ đầu tư tài sản cố định thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư TSCĐ, cụ thể:
- Tỷ số vốn đầu tư tài sản cố định so với tổng tài sản:
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá quy mô đầu tư vào tài sản cố định trong tổng giá trị tài sản của DN Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ số vốn đầu tư tài
sản cố định so với
tổng tài sản
= Giá trị tài sản cố định đã và đang đầu tư
Tổng giá trị tài sản
Trang 40Chỉ tiêu này cho biết trong tổng tài sản của DN, giá trị tài sản cố định
đã và đang đầu tư chiếm bao nhiêu lần Chỉ số này càng lớn chứng tỏ DN đang đầu tư nhiều vào tài sản cố định để mở rộng quy mô sản xuất KD và ngược lại Tuy nhiên, việc nhận xét chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào lĩnh vực
KD hay ngành nghề KD của DN là sản xuất hay thương mại hay dịch vụ
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài sản cố định:
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá việc đầu tư vốn vào tài sản cố định của
DN có đem lại hiệu quả hay không, đánh giá chỉ tiêu này khác với hiệu quả sử dụng tổng tài sản do chỉnh tính đến lượng vốn đầu tư vào tài sản cố định Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư tài sản cố định =
Lợi nhuận sau thuế
(1.28) Giá trị tài sản cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng giá trị tài sản cố định đã đầu
tư trong kỳ mang lại mấy đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này tính ra giá trị càng cao chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản cố định là có hiệu quả và ngược lại
1.4.4.2 Phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính
Để phân tích HQHĐ đầu tư tài chính, các nhà phân tích thường đánh giá trên hai khía cạnh là quy mô đầu tư tài chính thông qua chỉ tiêu t số vốn đầu tư hoạt động tài chính so với tổng tài sản và HQHĐ đầu tư tài chính thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài chính, cụ thể:
- Tỷ số vốn đầu tư tài chính so với tổng tài sản:
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá quy mô đầu tư vào các khoản đầu tư tài chính trong tổng giá trị tài sản của DN Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng tài sản của DN, giá trị các khoản đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu lần Chỉ số này càng lớn chứng tỏ DN đang đầu tư