BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAMñ ĐỀ CƯƠNG MÔN DẪN LUẬT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
ñ
ĐỀ CƯƠNG MÔN DẪN LUẬT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN HIỆN NAY Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Nam Khánh Giao
TP Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 1
………
………
………
………
………
Ngày … tháng … năm … Giáo viên chấm 1 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 2 ………
………
………
………
………
Ngày … tháng … năm …
Giáo viên chấm 2
Trang 3DANH SÁCH NHÓM SINH VIÊN:1/ Sinh viên: Trần Vân Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lý do chọn đề tài 5
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vấn đề tự học và ý định 5
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vấn đề tự học ở Việt Nam và ý định 7
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3.1 Mục tiêu chung 8
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 8
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu: 9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Bố cục của báo cáo 9
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
2.1: CÁC KHÁI NIỆM CHỦ YẾU 11
2.1.1: Tự học: 11
2.1.2: Kỹ năng tự học của sinh viên trong trường đại học: 12
2.1.3: Vị trí vai trò của tự học 12
2.1.4: Hành vi tự học được lựa chọn: 13
2.2 NỘI DUNG CỦA TỰ HỌC 14
2.2.1 Nội dung của quá trình tự học 14
2.2.2: Xây dựng động cơ học tập 15
2.2.3: Xây dựng kế hoạch học tập 15
2.2.4: Tự mình nắm vững nội dung tri thức 16
2.2.5: Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập 17
2.3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 18
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Quy trình nghiên cứu 19
3.2 Phương pháp nghiên cứu 19
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 24
Trang 5CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đang trên đà phát triển, đi cùng với
sự phát triển của nền giáo dục là chất lượng học tập của các bạn sinh viên cũng đang dầncải thiện Mà chất lượng học tập của các bạn sinh viên luôn là vấn đề quan tâm hàng đầucủa toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó gắn liền với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lựccho đất nước trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa
Tuy nhiên, một thực trạng đang xảy ra là có một số bạn sinh viên có kết quả học tậpngày càng kém Nguyên nhân chủ yếu là do sinh viên phải đối mặt với môi trường học tậpmới, môi trường này đòi hỏi các bạn sinh viên phải sáng tạo, tự học và tích cực cùng vớicác phương pháp học tập mới mà bản thân các bạn sinh viên chưa sẵn sàng chuẩn bị tâm
lý cho việc học tập Do đó, việc “nghiên cứu về vấn đề tự học của sinh viên” là hết sứccần thiết để góp phần vào việc cải thiện chất lượng học tập của các bạn sinh viên và gópphần nâng cao vị thế của trường Vì vậy, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề
tự học của sinh viên sẽ giúp cho các bạn sinh viên có thể tự điều chỉnh các yếu tố để cóđược khoảng thời gian tự học và nghiên cứu một cách hiệu quả nhất từ đó sẽ nâng caođược chất lượng học tập của sinh viên
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề tự học của sinh viên nói riêng đến ý định cải thiện chất lượnghọc tập nói chung, nhiều tác giả đã dày công nghiên cứu thực nghiệm, phỏng vấn sinhviên nhiều vấn đề khác nhau như: môi trường, thời gian, phương tiện học tập, được tiếnhành ở nhiều trường đại học, học viện các tỉnh thành trong cả nước
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vấn đề tự học và ý định
Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chưa trở thànhmột ngành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến việc làm saocho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hành độngtheo những điều ghi nhớ đó
Trang 6Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phíatrước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sứchọc của trò”.
Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592-1670); G.Brousseau(1712-1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-1866) trong các công trìnhnghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sángtạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng conđường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý họchành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều Phương pháp dạy học mới ra đời: “phương pháp lạcquan”,” phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”…Các phương phápdạy học này đã khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tập nhưng quá coitrọng “con người cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạphóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể
cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi được
Từ giữa những năm 1970 đã có sách hay bài viết về vấn đề này (Benn, S I viết bài
“Freedom, Autonomy and the Concept of the Person” năm 1976; Holec H.viết quyển
“Autonomy in Foreign Language Learning” năm 1981, NXB Oxford)
Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của các nghành khoa học cơbản, khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến bộ đáng kể Một trong những tiến bộ đó là: sựxích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáo viên là nơi phát động thông tin,học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và các quan điểm dạy học hiệnđại (học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn)
Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhất khẳng địnhvai trò của người học trong quá trình tự học, song bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rấtquan trọng của người thầy và các PP, phương tiện dạy học
Khái niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cựcđoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo J.Dewey: “Học sinh là mặt trời, xungquanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã
Trang 7được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác”(cooperative methods), “phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thểhóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiên cứutriển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kíchthích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quátrình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung tư tưởng “lấy họcsinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòi hỏi có sựphối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tínhnguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học chohọc sinh, sinh viên.
Đồng tình với quan điểm trên, các nhà giáo dục Xô Viết đã khẳng định vai trò tiềmnăng to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả cònnghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học,trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trongquá trình dạy học
1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vấn đề tự học ở Việt Nam và ý định
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáodục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó,bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự họccủa bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấmgương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìmthấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng …”
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưngnền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổbiến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội
Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nềngiáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướngvừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người từng nói: “còn sống thìcòn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là
Trang 8một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu
và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thànhcông của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bàytrực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học học, phương pháp dạyhọc bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh Toàn(1995), luận bàn và kinh nghiệm về tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái DuyTuyên, Bùi Văn Nghị, …
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một giáoviên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhàtoán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình,bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với
tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho họcsinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”
Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã khẳngđịnh: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự pháttriển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễncho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của tròphải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học,tức là quá trình xã hội hóa việc học
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu chung
Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tự học củasinh viên hiện nay Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra một số khuyến nghị cải thiện chấtlượng, năng lực tự học của sinh viên
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát được thực trạng việc tự học của sinh viên hiện nay.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên hiện nay.
- Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến việc tự học cùa sinh viên hiện nay.
Trang 9- Kiểm định sự khác biệt về ảnh hưởng của các yếu tố trong nghiên cứu đến việc tự
học của sinh viên hiện nay theo các đặc điểm giới tính, năm học, chương trình đàotạo
- Dựa vào kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng
cũng như năng lực tự học của sinh viên hiện nay
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu hình thành nhưsau:
(1) Số giờ tự học sinh viên hiện nay bỏ ra trong một ngày là bao nhiêu?
(2) Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên hiện nay?
(3) Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tự học của sinh viên hiện nay?
(4) Có sự khác biệt mức độ ảnh hưởng theo đặc điểm giới tính, trình độ học vấn,chương trình đào tạo, tham gia các hoạt động ngoài giờ học trong nghiên cứu hay không ? (5) Các hàm ý quản trị có thể đề xuất căn cứ vào kết quả nghiên cứu nhằm nâng caochất lượng, năng lực tự học của sinh viên hiện nay?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên hiện nay
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên của các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện trên cảnước
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi cả nước
- Về thời gian: thực hiện nghiên cứu từ tháng 9/2021 đến 10/2021
1.5 Bố cục của báo cáo
Ngoài phần thủ tục thể thức, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của báo cáo gồm
5 chương với các nội dung sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Trình bày lý do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu của các đề tài, mục tiêu, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, phương pháp thu nhập và nghiên cứu dữ liệu và bố cục của báocáo
Trang 10Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trình bày khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô tả sơ lược các nghiên cứu trước về các yếu
tố ảnh hưởng đến việc tự học ở sinh viên hiện nay, rút ra kinh nghiệm từ các nghiên cứu
đó, từ đó đề xuất, xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp xây dựng mô hình và phương pháp xử
lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày kết quả nghiên cứu gồm: thống kê số liệu, mô tả và phân tích tương quangiữa các biến, kiểm định độ tin cậy của các thang đo các biến, mô hình hồi quy, sau đóđánh giá các kết quả cuối cùng
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, rút ra kết luận, đề xuất các hàm ý quản trịđồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo trongtương lai
Trang 11CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1: CÁC KHÁI NIỆM CHỦ YẾU
- Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trunghọc chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học làhoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chấtđộng cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinhnghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
- - Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”
- Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân
ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi sinh viên phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc
Trang 122.1.2: Kỹ năng tự học của sinh viên trong trường đại học:
Khả năng tự học của sinh viên là khả năng thực hiện một cách có kết quả các hànhđộng tự học, các thao tác tự học bằng cách lựa chọn và thực hiện các phương thức hànhđộng phù hợp với hoàn cảnh nhất định nhằm đạt được mục đích nhiệm vụ học tập đặt ra
2.1.3: Vị trí vai trò của tự học
- Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
- Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học
- Trong quá trình hoạt động dạy học giảng viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụnhững tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu SV ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng,
tổ chức cho SV tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoahọc Giúp SV không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy.Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì
tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tựhọc Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Bởi vì SV đạihọc không phải là những học sinh cấp bốn Họ cần có thói quen nghiên cứu khoa học, mà
để có được thói quen ấy thì không thể không thông qua con đường tự học Muốn thànhcông trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giảiquyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra
- Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
mẽ cho quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tínhtích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và, một trong những nhiệm vụ quantrọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mớimong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường laođộng, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tựhọc) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiệnđại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng
cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưngphấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới cóđược sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự
Trang 13giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiêngiữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.
- Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng địnhnăng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cốcủa sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy
bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ màcuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp.Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vậndụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học
- Tự học của SV với tư cách là một hoạt động nên nó có đặc điểm và cấu trúc của hoạtđộng nói chung Nó được thúc đẩy bởi động cơ và hướng tới mục đích với đối tượng cụthể đồng thời được thực hiện thông qua hành động cụ thể bằng những thao tác trí tuệ linhhoạt, sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau Hoạt động tự học mang màu sắc của hoạt động tâm lý thực hiện chủ yếu thông qua hànhđộng trí tuệ, thao tác tinh thần rất căng thẳng và phức tạp Tính chất này thể hiện ở tính cơbản thống nhất, tính khoa học và tính khái quát cao
- Đặc trưng của hoạt động tự học khác hẳn các hoạt động khác Nó không chủ yếu hướngvào làm biến đổi khách thể của hoạt động (tri thức, kỹ năng, ) những phương thức hành