1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông

73 459 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Trường học Trường Đại học Kinh tế Huế
Chuyên ngành Kinh doanh nông nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 560,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông

Trang 1

MINISTRY OF AGRICULTURE & RURAL DEVELOPMENT

BÁO CÁO THÀNH TỰU THEO MỐC SỰ KIỆN

ĐỆ TRÌNH CHƯƠNG TRÌNH CARD

BÁO CÁO LẦN 3 Kết quả số 2.1 và 3.1

NHU CẦU KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC NÔNG

HỘ VÀ CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG

Tháng 2, 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Các chữ viết tắt 3

1 Giới thiệu và bối cảnh 5

2 Định nghĩa mốc sự kiện và báo cáo kết quả 6

3 Phương pháp 6

3.1 Đội ngũ cán bộ điều tra 6

3.2 Phương pháp điều tra thực tế 7

3.3 Việc lựa chọn nông hộ và hình thức trang trại 7

4 Các thành tựu đã đạt được 8

4.1 Nhu cầu của các nông hộ 8

4.1.1 Hệ thống nông nghiệp vùng đồi núi 8

4.1.2 Hệ thống nông nghiệp ở vùng đồng bằng 9

4.1.3 Hệ thống nông nghiệp ở vùng duyên hải 9

4.1.4 Các chuỗi cung KDNN 9

4.2 Nhu cầu của các cán bộ cung cấp dịch vụ kinh doanh 9

4.3 Chương trình phát triển chương trình đào tạo và các modules tập huấn 10

5 Tính bền vững và các vấn đề quan trọng 11

5.1 Phương pháp thí điểm 11

5.2 Phát triển nghiên cứu trường hợp 12

Phụ lục 1: Bảng các mốc quan trọng 13

Phụ lục 2: Hội thảo đánh giá công tác điều tra thí điểm 16

Phụ lục 3: Các nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Thừa Thiên Huế 16

Phụ lục 4: Phân tích chuỗi cung KDNN tỉnh Thừa Thiên Huế 43

Phụ lục 5: Nhu cầu tập huấn KDNN của cán bộ khuyến nông tỉnh Thừa Thiên Huế 55

Trang 3

Các chữ viết tắt

Agribiz Nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ kinh doanh nông nghiệp cho các nông hộ ở Miền Trung Việt Nam CARD Chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp và nông thôn

CRD Trung tâm Phát triển nông thôn

DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

ĐHKT Đại học Kinh tế Huế

DSTs Cán bộ hỗ trợ huyện

FEDS Khoa Kinh tế và Phát triển

GO Tổng giá trị sản xuất

GoV Chính phủ Việt Nam

HCCP Hệ thống đo lường chất lượng sản phẩm

HCE Đại học Kinh tế Huế

HTX Hợp tác xã

IC Chi phí trung gian

KDNN Kinh doanh nông nghiệp

LU Đại học Lincoln

MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo

NN$PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Sào Đơn vị đo lượng diện tích của địa phương, tương đương 500m2

TLSX Tư liệu sản xuất

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ Tài sản cố định

TT-Huế Tỉnh Thừa Thiên Huế

VA Giá trị gia tăng

Trang 4

Thông tin về đơn vị

Tên dự án NÂNG CAO NĂNG LỰC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CHO CÁC

NÔNG HỘ Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM Đơn vị Việt Nam Khoa Kinh tế & Phát triển

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày kết thúc (theo dự kiến ban đầu) Tháng 12, 2007

Người liên lạc

Ở Úc: Trưởng dự án

Tên: Giáo sư Keith Woodford Telephone: +64 3 3252811, +64 3 3253604

Chức vụ: Giáo sư Nông nghiệp và quản lí Kinh doanh nông nghiệp Fax: +64 3 3253244

Ở Úc: Hành chính

Tên: Giáo sư Keith Woodford Telephone: +64 3 3252811 +64 3 3253604

Chức vụ: Giáo sư Nông nghiệp và quản lí Kinh doanh nông nghiệp Fax: +64 3 3253244

Ở Việt Nam

Chức vụ: Giám đốc Dự án Trưởng Khoa Kinh tế & Phát

triển

Trang 5

1 Giới thiệu và bối cảnh

Mục đích của Báo cáo mốc sự kiện này nhằm báo cáo những thành tựu mà Dự án Agribiz đã đạt được trong thời gian qua Thông qua báo cáo này chúng tôi nêu ra các công việc đã được tiến hành để đánh giá nhu cầu tập huấn KDNN đối với các nông hộ và các cán

bộ khuyến nông cung cấp dịch vụ kinh doanh nông nghiệp

Dự án Agribiz nhằm mục tiêu phát triển nguồn lực KDNN bền vững ở Trường Đại học Kinh tế (HCE) - Đại học Huế Dự án này được tài trợ thông qua chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn do Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID) tài trợ và được thực hiện thông qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD)

Đại học Lincoln (LU) ở New Zealand (NZ) cùng với Đại học Kinh tế Huế sẽ phát triển

và thực hiện một chương trình xây dựng năng lực nhằm đáp ứng nhu cầu về KDNN của các nông hộ ở Miền Trung Các mục tiêu và kết quả mong đợi của Dự án Agribiz bao gồm:

Mục tiêu

Mục tiêu của Dự án là nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ KDNN cho các nông hộ ở miền trung Việt Nam bằng cách cung cấp cho họ những kĩ năng KDNN cần thiết Từ đó họ có thể cải thiện được sinh kế của mình

Kết quả mong đợi

• Kĩ năng nghiên cứu ứng dụng và giảng dạy KDNN, kỹ năng tư vấn và nghiên cứu của đội ngũ cán bộ Trường Đại học Kinh tế Huế được nâng cao;

• Trường Đại học Kinh tế Huế có chương trình giảng dạy KDNN được cải thiện;

• Nâng cao kĩ năng và kiến thức KDNN cho đội ngũ cán bộ các cấp ở các tỉnh vùng

dự án, giúp họ có khả năng tiến hành các khóa đào tạo KDNN cho các nông hộ;

• Kĩ năng KDNN các nông hộ tốt hơn và được hỗ trợ hiệu quả hơn bởi các cơ quan cấp tỉnh

Tình trạng đói nghèo ở các vùng nông thôn, đặc biệt là trong các nhóm dân tộc thiểu số

là một đặc điểm nổi bật của Miền Trung Chính phủ Việt Nam (GoV) và nhiều nhà tài trợ đã

có những chương trình trong khuôn khổ của Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) nhằm giải quyết tình trạng này Tuy nhiên hiện nay nguồn lực trong các đơn

vị ở miền Trung chưa đủ khả năng để hỗ trợ cho các dự án KDNN là một lĩnh vự nghiên cứu mới ở Việt Nam Hiện nay, cả nước chỉ có hai trường đại học (trong đó có trường Đại học Kinh tế Huế) có chương trình đào tạo bậc Đại học về chuyên ngành KDNN

Các chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam bị hạn chế do sự thiếu hụt kiến thức cũng như các kĩ năng KDNN của cán bộ nông nghiệp tỉnh và các cố vấn địa phương Khi Việt Nam chuyển mục tiêu từ an ninh lương thực sang một mục tiêu mà các hoạt động tạo thu nhập được ưu tiên hàng đầu thì các kĩ năng KDNN sẽ thực sự vô cùng quan trọng

Dự án Agribiz được chính thức bắt đầu vào tháng 3 năm 2005 khi các chuyên gia KDNN của đại học Lincoln đến làm việc với trường Đại học Kinh tế Huế Một trong những kết quả của chuyến viếng thăm này là đã phát triển được phương pháp luận đánh gía nhu cầu KDNN của các nông hộ Vào tháng 7 năm 2005, dự án đã tiến hành Hội thảo khai trương dự

án Các chuyên gia của Đại học Lincoln đã thực hiện tập huấn về KDNN cho cán bộ trường

Trang 6

đã được vạch ra Đánh giá kiến thức và kĩ năng KDNN của các nông hộ và các cán bộ khuyến nông cũng là một hoạt động chính của dự án Hoạt động này được thể hiện trong các Mục tiêu

dự án 2.0 và 3.0

Mục tiêu 2.0: Các nông hộ (nam và nữ) có được cơ hội tiếp cận các dịch vụ KDNN

nhằm cải thiện thu nhập của mình ở các tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Kon Tum

Mục tiêu 3.0: Phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh và các cán bộ

cung cấp dịch vụ về các kĩ năng và phương pháp KDNN để từ đó họ có thể giúp các nông hộ (bao gồm cả phụ nữ và các dân tộc thiểu số) cải thiện sinh kế của mình tốt hơn

Báo cáo này nhằm xem xét lại các Kết quả mốc sự kiện, đồng thời thảo luận các thành tựu và đưa ra các vấn đề quan trọng có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của dự án

2 Định nghĩa mốc sự kiện và báo cáo kết quả

Báo cáo kết quả dự án Agribiz được thể hiện chi tiết trong Phụ Lục 1, phần 2 trong hợp đồng giữa trường Đại học Lincoln và Hassall & Associated International1 (xem Phụ Lục 1) Mốc sự kiện 3 được mô tả là: Nhu cầu KDNN của các nông hộ và đội ngũ khuyến nông

Các kết quả:

Kết quả 2.1: Nhu cầu của các nông hộ và các cán bộ cung cấp dịch vụ khuyến nông

(chung và riêng) được xác định; và

Kết quả 3.1: Đề cương chương trình phát triển Chưong trình đào tạo KDNN và các

Module đào tạo KDNN cho cán bộ cung cấp dịch vụ được xây dựng

3 Phương pháp

Kế hoạch sơ bộ cho công tác điều tra thực tế đã được các chuyên gia KDNN của Đại học Lincoln (gồm giáo sư Keith Woodford, tiến sĩ Sandra Martin và ông Stewart Pittaway) và các cán bộ cao cấp của các sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn thuộc 4 tỉnh vùng dự án vạch ra trong hội thảo tháng 7 năm 2005 vừa qua

Theo kế hoạch trước đây của dự án thì việc điều tra khảo sát nông hộ sẽ được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2005 Tuy nhiên do kinh nghiệm về KDNN của cán bộ trường Đại học Kinh tế Huế còn hạn chế Vì vậy, việc phân chia công tác khảo sát thành các giai đoạn sẽ có hiệu quả hơn Và theo phương pháp này thì chúng tôi đã tiền hành điều tra thí điểm tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Đội ngũ cán bộ trường Đại học Kinh tế Huế đã hoàn thành công tác điều tra tại Thừa Thiên Huế trong tháng 8, 9 và 10 năm 2005 Công tác điều tra ở 03 tỉnh còn lại được thực hiện trong quý đầu của năm 2006

3.1 Đội ngũ cán bộ điều tra

Bốn nhóm điều tra đã được hình thành (xem trang 8 Báo cáo 6 tháng đầu) Mỗi nhóm có một trưởng nhóm Tất cả các nhóm này đều đã tham gia vào công tác điều tra thí điểm tại Thừa Thiên Huế Trong thời gian tới, mỗi nhóm sẽ được cử đến làm làm việc tại mỗi tỉnh còn lại

1 Hassall & Associates International là quản lý dự án Hỗ trợ của chương trình CARD theo hợp đồng với

AusAID

Trang 7

3.2 Phương pháp điều tra thực tế

Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) được áp dụng cho cả việc phân tích trang trại và phân tích chuỗi cung KDNN (xem phần 11 trang 25 Báo cáo 6 tháng đầu) Phương pháp nghiên cứu trường hợp mang tính toàn diện, cung cấp cho các cán bộ điều tra một khuôn mẫu để từ đó họ có thể theo đuổi các lĩnh vực quan tâm có thể nảy sinh trong quá trình thu thập thông tin

Phương pháp nghiên cứu trường hợp cũng cung cấp một nguồn tài liệu giảng dạy quý giá khi mỗi nghiên cứu trang trại và chuỗi cung được hoàn thành Một trong những lí do sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp là để cho các giáo viên của trường Đại học Kinh tế Huế phát triển nguồn tài liệu giảng dạy

3.3 Việc lựa chọn nông hộ và hình thức trang trại

Xuất phát từ các mục tiêu và tính đa dạng về điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái của 4 tỉnh mà các nông hộ và các hình thức trang trại được chọn lựa phải đảm bảo mang tính điển hình Các nghiên cứu trường hợp phải mang tính minh hoạ Khảo sát phải bao gồm các nông

hộ nghèo nguồn lực cũng như các nông hộ giàu nguồn lực ở cả vùng đồng bằng, đồi núi hay duyên hải Các hoạt động kinh doanh nông nghiệp quan trọng của mỗi vùng sinh thái, đặc biệt

là các cây trồng tạo nguồn thu tiền mặt hoặc và các loại vật nuôi mang định hướng thị trường được lựa chọn để phân tích chuyên sâu Phương pháp nghiên cứu này tránh lặp lại các trường hợp tương tự đã được nghiên cứu trước đó ở các tỉnh khác

Việc chọn lựa các trang trại/nông hộ nhằm minh hoạ được các nhu cầu sau:

• Các hệ thống nông nghiệp khác nhau ở các vùng sinh thái khác nhau;

• Các mục tiêu khác nhau của các nông hộ và các cơ sở nguồn lực khác nhau;

o Cơ cấu thu nhập và chi phí khác nhau

• Các cơ hội khác nhau;

o Cải thiện các hoạt động kinh doanh hiện tại,

o Các hoạt động kinh doanh mới,

o Các cơ hội chuỗi cung

• Thực trạng của người dân tộc thiểu số nghèo (ví dụ: tự cung tự cấp, các mục tiêu và các vấn đề)

• Các hình thức phân tích khác nhau (ví dụ: luồng tiền, thu nhập hỗn hợp )

Việc chọn lựa các chuỗi cung (supply chain) nhằm minh hoạ các nhu cầu sau:

• Các sản phẩm khác nhau và các vùng khác nhau;

• Các chuỗi ngắn, dài;

• Các chuỗi cơ hội;

• Các sản phẩm cho thị trường chính thức (xuất khẩu) hay không chính thức;

• Chuỗi cung có nhiều hay ít cơ hội cho các nông dân cải thiện vị thế của mình trong chuỗi cung;

• Các chuỗi cung với các trở ngại khác nhau (ví dụ: công tác hậu cần, bảo quản sản phẩm )

Trang 8

Công tác điều tra thực tế đã được hoàn thành ở 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và Nghệ An2 Đối với 2 tỉnh còn lại là Kon Tum và Quảng Ngãi sẽ được tiến hành điều tra vào tháng 3-2006 Kết quả điều tra thực tế ở Thừa Thiên Huế đã được báo cáo tại Seminar tổ chức ở Thừa Thiên Huế vào tháng 11 năm 2005 Hai cán bộ của trường Đại học Lincoln, Ông Stewart Pittaway

và bà Sandra Martin, cùng với một đại diện của chương trình CARD, ông Keith Milligan cũng đã tham gia vào buổi seminar đó Các báo cáo nghiên cứu KDNN ở Nghệ An đang dần được hoàn thiện

Ở Thừa Thiên Huế, 12 nghiên cứu trường hợp đã được hoàn thiện, 4 trang trại cho mỗi vùng sinh thái (duyên hải, đồng bằng và vùng đồi núi) Cần chú ý rằng 4 trang trại của các nông dân thuộc dân tộc thiểu số ở vùng đồi núi cũng đã được phân tích Đối với tỉnh Nghệ An,

6 trang trại và chuỗi cung của các doanh nghiệp quan trọng đã được đưa vào nghiên cứu Trong số đó có 2 trang trại thuộc vùng duyên hải, 2 ở vùng chuyển giao giữa vùng đồng bằng với vùng đồi núi và 2 ở các vùng cao của tỉnh

3.4 Đánh giá lại điều tra thí điểm

Phương pháp khảo sát chính là các cuộc phỏng vấn Phương pháp này cũng được áp dụng cùng với phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA) đối với các cán bộ HTX, Sở NN&PTNT, cán bộ hỗ trợ huyện Các mẫu câu hỏi điều tra đã được các cán bộ khoa Kinh tế

và Phát triển soạn thảo và được các chuyên gia Đại học Lincoln xem xét và góp ý Thêm vào

đó, phân tích thống kê mô tả cũng đã được tiến hành

Kết quả của các cuộc khảo sát đã được Tiến sĩ Sandra Martin và ông Stewart Pittaway xem xét lại trong Seminar tháng 11 năm 2005 Các chuyên gia này trước tiên xem xét các báo cáo kết quả của nhiều nghiên cứu trường hợp, sau đó trực tiếp gặp gỡ các nhóm điều tra để thảo luận về kết quả và phương pháp luận Các chuyên gia cũng đã đề xuất một số phương pháp bổ sung cho các phương pháp đang được sử dụng

Một số nghiên cứu trường hợp đã được trình bày tại hội thảo dự án được tổ chức ở Đại học Kinh tế Huế vào tháng 11 năm 2005 Việc hoàn thiện thêm phương pháp nghiên cứu đã được thảo luận và thống nhất Các chuyên gia của Đại học Lincoln và ông Kieth Milligan đánh giá cao những kết quả đạt được tại seminar này Chương trình seminar và danh sách những người tham gia được thể hiện ở Phụ lục 2

4 Các thành tựu đã đạt được

Phần này vạch ra những kết quả chính đã đạt được qua khảo sát nhu cầu đào tạo KDNN của các nông hộ, đội ngũ cán bộ khuyến nông và các chuỗi KDNN

4.1 Nhu cầu của các nông hộ

Nhu cầu của các nông hộ thay đổi theo các vùng sinh thái và các hình thức trang trại Nhu cầu của các nông hộ ở Thừa Thiên Huế và Nghệ An được thảo luận dưới đây

4.1.1 Hệ thống nông nghiệp vùng đồi núi

Công tác điều tra thực tế cho thấy nông dân vùng đồi núi muốn cải thiện hệ thống nông nghiệp của mình, đặc biệt là nâng cao thu nhập Thực tế cho thấy kiến thức và kĩ năng KDNN của các nông dân ở vùng này rất thấp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất của họ Trong các yếu tố đó có sự thiếu hụt vốn, đất và lao động cũng như các kĩ năng và kiến thức cần thiết

để tiến hành công việc kinh doanh của mình Một trong những mong muốn lớn nhất của họ là được tập huấn về lĩnh vực KDNN Hiện tại các nông dân ở vùng đồi núi gặp những trở ngại

2 Công tác điều tra ở Nghệ An đã được hoàn thành trong tháng 1 và đã được trình bày trong báo cáo này

Trang 9

trong việc tiếp cận các thông tin thị trường do sự cô lập và cơ sở hạ tầng (giao thông) yếu kếm Các dịch vụ khuyến nông ở vùng này còn nghèo nàn, sự hỗ trợ và cố vấn kĩ thuật rất hạn chế Rủi ro đối với sản xuất của người dân ở đây rất cao do sự biến động của giá cả thị trường và thiên tai Những người nông dân ở đây rất mong muốn được tập huấn nhiều hơn về phân tích

và quản lí rủi ro cũng như vạch kế hoạch kinh doanh

4.1.3 Hệ thống nông nghiệp ở vùng duyên hải

Việc nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cá và cua là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất ở vùng duyên hải Những người tham gia vào hoạt động này thường là những người giàu nguồn lực Họ được tiếp cận thông tin thị trường, tín dụng và hỗ trợ kĩ thuật tốt hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc nuôi tôm thường có rủi ro cao và gây ô nhiễm môi trường Giá tôm thị trường hay biến động, và tôm lại dễ mắc bệnh Giá tôm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng sản phẩm Những người nông dân này muốn được đào tạo nhiều hơn về quản lí chất lượng để cải thiện thu nhập và hi vọng trong tương lai tôm của họ được tiêu thụ ở thị trường châu Âu Họ cũng mong muốn được học cách đối phó với các rủi ro trong nuôi tôm

4.1.4 Các chuỗi cung KDNN

Nhiều nghiên cứu chuyên sâu chuỗi cung KDNN đã được tiến hành Có hai kiểu chuỗi

cung là chuỗi cung hợp tác và chuỗi cung cơ hội Trong hầu hết các trường hợp, luồng thông

tin trong chuỗi không rõ ràng Người dân (người sản xuất) thường không biết các thành viên khác trong chuỗi, ngoại trừ các thành viên trực tiếp với họ Họ cũng không biết đến biên thị trường và tạo giá trị Điều này gây khó khăn cho họ trong việc mặc cả và định giá bán do thiếu thông tin thị trường Do đó việc cải thiện vai trò và vị trí của những người nông dân trong chuỗi cung là rất quan trọng Điều này có thể đạt được thông qua việc cải thiện tiếp cận thông tin thị trường của người nông dân và kĩ năng của họ trong việc phân tích thị trường Các cán bộ khuyến nông, những người mà nhu cầu về kiến thức và kĩ năng KDNN sẽ được phân tích bên dưới là những người có khả năng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này

4.2 Nhu cầu của các cán bộ cung cấp dịch vụ kinh doanh

Một trong những nhiệm vụ chính của những người này là giúp đỡ người nông dân làm KDNN và quản lí trang trại Tuy nhiên, kiến thức về KDNN của họ còn hạn chế và họ thường gặp phải những khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, một cuộc đánh giá nhu cầu đào tạo đã được tiến hành, xác định những kiến thức và kĩ năng gì mà họ cần Tóm tắt kết quả đánh gía nhu cầu đào tạo của các cán bộ khuyến nông được trình bày bên dưới

Những khó khăn chủ yếu mà các cán bộ khuyến nông gặp phải trong công tác của mình được trình bày trong Bảng 1, bao gồm:

Trang 10

(i) thiếu hụt kiến thức chuyên môn do đào tạo chưa đầy đủ;

(ii) thiếu kinh nghiệm thực tế;

(iii) thiếu kĩ năng về phương pháp đào tạo;

(iv) thiếu thông tin

Hầu hết các khó khăn trên bắt nguồn từ bản thân của những cán bộ này Các cán bộ của chính phủ cũng đối mặt với những khó khăn như trên nhưng chủ yếu là do thiếu đào tạo chuyên môn Điều này làm nổi rõ nhu cầu được đào tạo của các cán bộ này nhằm đáp ứng với các vấn đề nảy sinh trong công việc của mình

Bảng 1: Nhu cầu đào tạo của cán bộ khuyến nông

Vấn đề Cán bộ xã (%) Cán bộ huyện và tỉnh

(%) Thiếu kiến thức chuyên môn do chưa được đào

tao đầy đủ

Nguồn: Khảo sát thực tế, dự án Agribiz, Thừa Thiên Huế, 2005

Đối với cán bộ huyện và tỉnh, bên cạnh những khó khăn kể trên, còn có những trở ngại khác trong công việc của họ Tuy nhiên chúng không đáng kể vì chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ Những khó khăn mà các cán bộ khuyến nông này đang phải đối mặt cho thấy họ cần được đào tạo về lĩnh vực KDNN (Xem chi tiết ở Phụ lục 5)

4.3 Chương trình phát triển chương trình đào tạo và các modules tập huấn

Chương trình nhằm phát triển chương trình đào tạo cho các khoá tập huấn và các chương trình đào tạo chính quy đã được các chuyên gia KDNN Đại học Lincoln thảo luận trong tháng 11 năm 2005 vừa qua Công tác chuẩn bị biên soạn tài liệu tập huấn và xem xét chương trình đào tạo KDNN tại Trường Đại học Kinh tế Huế được thống nhất là bắt đầu vào tháng 4 năm 2005 Vẫn còn hai hoạt động chính của dự án được thực hiện vào đầu năm 2006

là phần rất quan trọng đối với sự phát triển các chương trình đào tạo và tập huấn Hai hoạt động đó là:

• Hoàn thành công tác điều tra thực tế ở 03 tỉnh còn lại và phân tích kết quả nghiên cứu;

• Chuyến đi công tác học tập, trao đổi kinh nghiệm của các cán bộ nòng cốt của dự án tới Đại học Lincoln, New Zealand

Chương trình dự kiên dưới đây đã được nhất trí và sẽ được phát triển tiếp tục trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006

Trang 11

Bảng 2: Tóm tắt chương trình dự kiến 2006

Điều tra thực tế ở Nghệ An,

Kontum và Quảng Ngãi Tháng 1 đến tháng 3, 2006 -

Phân tích kết quả điều tra và

viết báo cáo Tháng 1 đến tháng 3, 2006 -

Chuyến đi học tập, trao đổi

kinh nghiệm tại trường Đại

học Lincoln, NZ

Tháng 2, 2006 Cán bộ Đại học Kinh tế Huế

sẽ thảo luận kết quả điều tra bước đầu và sẽ được tập huấn phương pháp và cách thức tiếp cận KDNN cũng nhu phát triển chương trình đào tạo và tập huấn

Phân tích sơ bộ nhu cầu đào

tạo có được từ các cuộc điều

tra thực tế

Bắt đầu vào tháng 11,

2005 Các đề tài tập huấn sơ bộ bao gồm:

 Làm thế nào để so sánh các hoạt động kinh doanh?

 Phương pháp phân tích tài chính nào được sử dụng?

 Cách thức thu thập và sử dụng thông tin?

Kế hoạch cho Hội thảo phát

triển chương trình tập huấn và

đào tạo

Tháng 2/3, 2006 Sẽ được thảo luận sâu hơn

trong chuyến đi học tập, trao đổi kinh nghiệm tại NZ, chương trình và thời gian đã được nhất trí vào tháng 03,

Trang 12

Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu thí điểm khiến cho dự án sẽ chậm trễ hơn so với

dự kiến Theo dự kiến, việc điều tra cả 04 tỉnh phải được hoàn tất vào tháng 12 năm 2005 Các cuộc điều tra ở các tỉnh sẽ được hoàn thành vào tháng 1, 2 và 3 năm 2006 Kết quả điều tra sẽ được sử dụng để phát triển các khoá tập huấn (training course) và các chương trình đào tạo (curriculum) KDNN tại trường Đại học Kinh tế Huế Việc phát triển khoá đào tạo dự kiến bắt đầu vào tháng 4, 5 năm 2006 để không bị ảnh hưởng do việc điều tra ở 03 tỉnh khác bị chậm

5.2 Phát triển nghiên cứu trường hợp

Việc sử dụng các nghiên cứu trường hợp rất quan trọng, hỗ trợ phát triển giảng dạy KDNN tại Đại học Kinh tế Huế Mục đích của việc này là phát triển những tài liệu về các nghiên cứu trường hợp là nguồn tài liệu bổ sung cho việc giảng dạy KDNN Giáo viên sẽ sử dụng các nghiên cứu trường hợp này làm ví dụ thích hợp hỗ trợ cho bài giảng của mình Hiện tại chưa có cuốn sách KDNN nào được viết với bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam

Trang 13

Phụ lục 1: Bảng các mốc quan trọng

Trang 14

Các mốc quan trọng

STT khung lô gic Tham chiếu

3 2.1 3.1 Nhu cầu KDNN của các nông hộ và đội ngũ cán bộ khuyến nông

(cộng đồng và tư nhân) về lĩnh vực KDNN

o Vạch ra chương trình phát triển bài giảng và chương trình đào tạo đối với các cán bộ cung cấp dịch vụ

Tháng 12, 2005

6

1.3 3.2 3.3

Chương trình tập huấn và giảng dạy KDNN được phát triển

bị, chấp thuận của HCE và được đệ trình lên MOET

vụ

Tháng 10, 2006

8

1.2 2.2 3.4

Năng lực KDNN của đội ngũ cán

bộ Đại học Kinh tế, Sở NN &

PTNT và các cá nhân, những người cung cấp dịch vụ được thông qua

o Phản hồi của các thành viên tham dự về các khoá tập huấn thí điểm tại Trường Đại học Kinh tế Huế, phân tích các cán bộ cung cấp dịch vụ, bổ sung vào bài giảng tập huấn nếu cần

cho các cán bộ cung cấp dịch vụ và nông hộ được cấp bằng

o Bản sao chương trình giảng dạy chính quy bao gồm chi tiết cho mỗi môn học

giảng cho các sinh viên chưa tốt nghiệp và nông dân

o Hoàn thành khảo sát trình độ năng lực của các cán bộ khuyến nông tỉnh, các cán bộ cung cấp dịch vụ

Tháng 6, 2007

Trang 15

tóm tắt việc phát triển các kĩ năng và kiến thức cập nhật và xem xét chất lượng của việc giảng dạy KDNN

10

1.1 2.1 3.5 (mới)

Các nông hộ, cán bộ cung cấp dịch vụ, các chương trình nghiên cứu áp dụng các kĩ năng KDNN

o Ít nhất là 12 dự án phát triển nông trại cho các nông hộ được chuẩn bị theo những người tham gia trong 4 tỉnh mục tiêu (TT-Huế, Quảng Ngãi, Nghệ An và Kon Tum)

Đại học Kinh tế Huế và đội ngũ CRD

trong nước cũng như trên thế giới

cầu của các đối tượng tham gia là những người cung cấp dịch

vụ

định các vùng phát triển để cải thiện lợi ích cho các nông hộ

Tháng 12, 2007

Tổng

Trang 16

Phụ lục 2: Hội thảo đánh giá công tác điều tra thí điểm

Trang 17

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO

HỘI THẢO PHÂN TÍCH TRANG TRẠI VÀ CHUỖI CUNG

Ngày 24 tháng 11, 2005

8:00 Đón tiếp đại biểu Hồ Thị Quý An Lê Thị Kim Tuyển

8:30 Giới thiệu thành phần tham dự TS Bùi Dũng Thể

8:40 Diễn văn khai mạc Hội thảo TS Nguyễn Văn Phát Hiệu trưởng nhà trường

8:50 Thông tin cập nhật về chương trình dự án Agribiz Ông Stewart Pittaway

9:00 Phát biểu tham dự Hội thảo của điều phối viên chương trình CARD TS Keith Milligan, Điều phối viên chương trình CARD 9:15 Phương pháp nghiên cứu TS Mai Văn Xuân, Giám đốc dự án 9:30 Giải lao

9:50 Phân tích trang trại và chuỗi cung: Nông trại vùng đồng bằng Ths Nguyễn Ngọc Châu

10:30 Phân tích trang trại và chuỗi cung: Nông trại ở vùng gò đồi Ths Trần Văn Hoà

11:30 Giải lao

13:30 Phân tích trang trại và chuỗi cung: Nông trại vùng duyên hải TS Phùng Thị Hồng Hà

14:10 Đánh giá nhu cầu đào tạo KDNN Ths Trương Chí Hiếu

14:50 Giải lao

15:10 Lập kế hoạch cho 6 tháng tiếp theo Ông Stewart Pittaway

16:30 Phát biểu kết thúc Hội thảo TS Keith Milligan TS Mai Văn Xuân

Trang 18

Phụ lục 2.2: DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM DỰ HỘI THẢO

Stt Họ và tên Đơn vị công tác

1 Ông Hoàng Trung Ân Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

2 Ông Phạm Đình Văn Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Ông Hoàng Hữu Hè Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế

4 Ông Trần Văn Hiền Liên minh HTX tỉnh Thừa Thiên Huế Đại học Lincoln, New Zealand

10 TS Nguyễn Văn Phát Đại học Kinh tế Huế

12 Ths Nguyễn Thị Thanh Bình Đại học Kinh tế Huế

13 Ths Nguyễn Ngọc Châu Đại học Kinh tế Huế

14 Ths Nguyễn Văn Cường Đại học Kinh tế Huế

15 TS Phùng Thị Hồng Hà Đại học Kinh tế Huế

16 CN Nguyễn Lê Hiệp Đại học Kinh tế Huế

17 Ths Trương Chí Hiếu Đại học Kinh tế Huế

20 Ths Phạm Xuân Hùng Đại học Kinh tế Huế

21 CN Nguyễn Quang Phục Đại học Kinh tế Huế

22 Ths Trương Tấn Quân Đại học Kinh tế Huế

24 Ths Trần Hữu Tuấn Đại học Kinh tế Huế

25 Ths Phạm Thị Thanh Xuân Đại học Kinh tế Huế

26 CN Trần Đoàn Thanh Thanh Đại học Kinh tế Huế

28 Ths Lê Nữ Minh Phương Đại học Kinh tế Huế

29 Ths Lê Thị Hương Loan Đại học Kinh tế Huế

30 CN Nguyễn Đình Chiến Đại học Kinh tế Huế

31 CN Nguyễn Bá Tường Đại học Kinh tế Huế

32 Ths Nguyễn Văn Lạc Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

33 Ths Lê Thị Kim Liên Đại học Kinh tế Huế

35 CN Trần Thị Thanh Thuỷ Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Phụ lục 3: Các nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 21

Nghiên cứu trường hợp 1

KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ VÙNG DUYÊN HẢI

Nhóm điều tra:

1 TS Phùng Thị Hồng Hà – Khoa kinh tế & Phát triển, Trường ĐHKT Huế

2 CN Phan Thị Nữ – Khoa Kinh tế & Phát triển, Trường ĐHKT Huế

Người viết báo cáo tổng hợp: TS Phùng Thị Hồng Hà

Ngày điều tra: 18/9/2005

Địa điểm: Nhà anh Trần Đức Nhơn, Đội 9, thôn Đại Thắng, xã Vinh Hưng, Phú Lộc Người trả lời phỏng vấn: Ông Trần Đức Nhơn

Thời gian: từ 9h30 đến 11h30

1.1.Giới thiệu

Phân tích kinh tế nông hộ là một trong những nội dung quan trọng của dự án Agribiz nhằm giúp các nhà nghiên cứu nắm bắt được tình hình bố trí sản xuất của các nông hộ, từ đó đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nông hộ

Mục đích

- Đánh gía thực trạng hệ thống sản xuất của các nông hộ;

- Mô tả và phân tích sơ bộ chuỗi cung một số sản phẩm quan trọng có tính chủ lực của nông hộ;

- Đánh giá nhu cầu tập huấn của các nông hộ;

- Rút ra một số nhận xét về hệ thống sản xuất nông nghiệp ở vùng đầm phá ven biển của tỉnh TT-Huế làm cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo cho các đối tượng liên quan

1.2 Phân tích trang trại

1.2.1 Một vài nét khái quát về hộ

Ông Nhơn là một nông dân 46 tuổi, ông có 5 đứa con, 3 đứa đang đi học, 2 đứa khác còn nhỏ Ông đã học hết chương trình phổ thông trung học Các con ông đã có đứa học hết lớp 12, đứa sau đang học lớp 11 và 8 Mục tiêu của ông là tăng thu nhập để có tiền nuôi các con ăn học Hiện 3 đứa con của ông đều mong muốn được vào Đại học

Trước đây, ông Nhơn chuyên sản xuất lúa Vài năm gần đây do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh, gia đình ông đã chuyển sang nuôi tôm kết hợp với trồng lúa và chăn nuôi lợn nhờ đó mà đời sống gia đình ngày một khá giả

Vinh Hưng là một xã nằm ở vùng ven phá Tam Giang - Cầu Hai, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản (đặc biệt là nuôi tôm) và sản xuất nông nghiệp Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc bố trí sản xuất của gia đình ông Nhơn Hiện tại, ông Nhơn có 1 ha đất để nuôi tôm, 4000m2 để trồng lúa Ngoài ra, ông còn có 2 sào đất vườn để trồng cây ăn quả và trồng sắn, khoai phục vụ cho việc chăn nuôi

Trang 22

Bảng 1: Cơ cấu và nguồn hình thành các loại đất của hộ

Nguồn: số liệu điều tra của tác nhóm nghiên cứu, 2005

Trong số 15000m2, có 1700m2 đất trồng lúa và 1000m2 đấtvườn được chính quyền sử dụng cấp theo nghị định 64CP Ngoài ra, gia đình ông còn khai hoang được 10.000m2 đất để làm hồ nuôi tôm và 2.300m2 đểtrồng lúa Toàn bộ số diện tích trên đã được cấp sổ đỏ Chi phí cho việc cấp sổ để làm hồ nuôi tôm là 580 ngàn đồng Hiện gia đình không phải nộp thuế cho việc sử dụng đất

Đất khai hoang 10.000m2 đã được ông đào thành 4 hồ nuôi tôm với tổng chi phí cho việc đào hồ và xây kè là 42 triệu đồng; trang bị 4 bộ máy bơm nước dùng cho việc bơm và tháo nước vào hồ tôm và ruộng lúa; xây 1 chuồng lợn với diện tích là 12m2, trị giá là 1,5 triệu đồng

Bảng 2: Tình hình trang bị máy móc thiết bị của hộ

Loại TLSX Số lượng và đơn vị tính Tổng giá trị (tr.đ) Thời gian có thể sử dụng

(năm)

Thời gian đã

sử dụng (năm)

Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghên cứu, 2005

Hiện gia đình ông có 7 người, nhưng chỉ có 2 lao động chính (ông và vợ ông) Tuy nhiên, 3 đứa con lớn của ông cũng có thể tham gia phụ giúp cho ông trong việc nuôi tôm và chăn nuôi lợn Gia đình không thuê lao động ngoài mà chủ yếu sử dụng lao động của gia đình Theo báo cáo của ông Nhơn, công việc chính của ông là nuôi tôm Bình quân 1 năm ông làm 9 tháng, các tháng mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) không nuôi tôm được ông phải nghỉ Giúp việc nuôi tôm cho ông là 2 đứa con lớn Chúng cũng phải làm việc 9 tháng liên tục Tuy nhiên, bình quân một ngày chúng chỉ làm 4 tiếng Các công việc chính mà chúng làm là đưa thức ăn từ nhà ra hồ nuôi tôm và giúp cha cho tôm ăn Vợ ông chủ yếu là làm công việc đồng áng, chăn nuôi lợn, đi chợ bán giá đỗ vào các tháng nông nhàn và làm các công việc nội trợ Giúp việc cho vợ ông là đứa con gái Nhiệm vụ chính của nó là làm nội trợ và đi làm đồng giúp mẹ khi cần

1.2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ

Hiện nay, hộ ông sản xuất 3 loại sản phẩm chính: tôm, lúa, lợn Trong đó, nuôi tôm là nguồn thu chủ yếu

Nguồn hình thành Loại đất Tổng diện tích

Trang 23

* Nuôi tôm

Đối với tôm, một năm hộ sản xuất 2 vụ: vụ thứ nhất bắt đầu từ ngày 12 tháng 1 và thu hoạch vào ngày 12 tháng 5 (theo âm lịch); vụ 2 bắt đầu ươm giống từ ngày 12 tháng 4, thả giống vào ngày 15 tháng 5, thu hoạch vào ngày 15 tháng 8 Thời gian nuôi tôm dài hay ngắn tuỳ thuộc vào mục đích lấy sản phẩm Nếu nuôi tôm để lấy sản phẩm với yêu cầu 40 con/kg thì chỉ cần 2,5 tháng là có thể thu hoạch, nếu muốn nuôi tôm to hơn với 20 con/kg thì thời gian sẽ là 3 - 3,5 tháng/lứa Mỗi vụ, anh Nhơn mua 10.000 con tôm giống về ươm, nhưng chỉ còn 7.000 con sống để thả tôm nuôi thịt Theo anh, tỷ lệ tôm sống đạt khoảng 70-80%

Bảng 3: Bố trí lịch thời vụ sản xuất của hộ

Loại sản

Vụ Đông Xuân, điều kiện canh tác thuận lợi, nên tôm phát triển tốt Có 30% số tôm thu được đạt trọng lượng 40 con/kg, số còn lại đạt 60 con/kg Tổng sản lượng đạt được ở vụ này

là 1.073kg Vụ Hè thu, do điều kiện thời tiết không thuận lợi, tôm bị nhiễm bệnh Gia đình anh phải đem bán xô với giá trung bình 45 ngàn đồng/kg Số tôm thu được là 700kg.Tổng doanh thu từ bán tôm đạt 101,20 triệu đồng

Gia đình anh Nhơn sử dụng 3 loại thức ăn: thức ăn tổng hợp, khuyếc, cá tươi để nuôi tôm Chi phí thức ăn chiếm đến 87% tổng chi phí nuôi tôm Các khoản chi phí khác chiếm tỷ

lệ đáng kể là bơm nước, và xử lý ao hồ Do tôm bị bệnh vào vụ Hè Thu nên sau khi trừ chi phí, thu nhập ròng của anh trong năm 2005 là 1,40 triệu đồng Nếu trừ chi phí khấu hao, chi phí cơ hội về lao động của chủ hộ, lợi nhuận kinh tế của nuôi tôm là - 14,0 triệu (lỗ) Tỷ suất lợi nhuận vốn của anh là - 225% Như vậy, để thu hồi các khoản chi phí đã bỏ ra, anh Ngôn phải bán được giá trung bình là 56 ngàn đồng/kg, bù đắp khấu hao và công lao động giá bán bình quân phải đạt 60,9 ngàn đồng/kg Sản lượng hoà vốn thu nhập ròng là 1.748 kg và sản lượng hoà vốn lợi nhuận kinh tế là 1.892kg

Trong cơ cấu chi phí, chi thuê dịch vụ làm đất chiếm 30%, phân hoá học chiếm 24%, còn lại là các khoản dịch vụ khác như thu hoạch, tuốt lúa và vận chuyển Tổng chi phí trung gian cho 8 sào lúa trong năm là 1.585 ngàn đồng Giá trị gia tăng đạt 1.934 ngàn đồng; lợi

Trang 24

Năm 2004, gia đình anh nuôi 5 con lợn thịt, sản lượng đạt 350kg, với giá bán 14.000đ/kg, gia đình anh đã có một khoản thu bằng tiền mặt là 4.900 nghìn đồng Phần lớn thức ăn để chăn nuôi lợn được sử dụng từ sản phẩm của cây lúa và rau lang mà gia đình anh

đã trồng được Ngoài ra, để thúc cho đàn lợn nhanh lớn, anh mua thêm 2 bao cám công nghiệp với tổng số tiềm là 120 ngàn đồng, đồng thời mỗi ngày cho ăn thêm 3 ngàn đồng cá tươi Gía trị gia tăng trong năm về chăn nuôi lợn của anh Nhơn là 2.560 ngàn đồng, lợi nhuận là 128 ngàn đồng Tỷ suất lợi nhuận vốn đạt 8,58%

Bảng 4: Kết quả và hiệu quả của 3 loại sản phẩm chính

Nguồn: số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, 2005

Trong ba loại sản phẩm, tôm là sản phẩm có doanh thu cao nhất, nhưng do gặp rủi ro nên kết quả và hiệu quả kinh doanh là thấp nhất Lúa và chăn nuôi lợn mặc dù chưa bị lỗ nhưng thu nhập ròng và lợi nhuận kinh tế đem lại không đáng kể Đặc biệt đối với chăn nuôi lợn, lợi nhuận kinh tế chỉ đạt 0,13 triệu đồng/năm

Qua phỏng vấn hộ, chúng tôi thấy có một số vấn đề nổi lên:

Đối với nuôi tôm:

* Thuận lợi cơ bản:

• Hệ thống tưới và tiêu nước khá hoàn chỉnh nên các hộ có thể điều tiết nước thuận lợi;

• HTX đã tham gia vào việc quản lý nuôi tôm nên việc bố trí thời vụ sản xuất, kiểm tra

và phòng trừ dịch bệnh được các hộ tuân thủ nghiêm ngặt, nhờ đó mà hạn chế phần nào

• Nguồn nước bị ô nhiễm nặng cho dù đã xây dựng được hệ thống kênh tưới, tiêu tốt

Lý do chính là do nước thải từ tất cả các nơi đều đưa về phá Tam Giang Từ Phá, nó lại

Trang 25

được cấp trở lại cho các hồ nuôi tôm;

• Do chưa có một cơ sở sản xuất giống trong tỉnh (huyện) có đủ khả năng cung cấp giống cho các hộ nuôi tôm trong vùng, vì thế tôm giống được đưa về từ nhiều nguồn khác

nhau Điều này có ảnh hưởng lớn đến phòng và trừ dịch bệnh

• Do không có đê ngăn mặn nên vào vụ Hè Thu không thể sản xuất được;

• Do lợi nhuận đưa lại từ sản xuất lúa thấp nên không khuyến khích các hộ đầu tư thâm canh và bảo vệ đất Hộ hầu như không sử dụng phân hữu cơ cho sản xuất lúa

kỳ thời điểm nào Sau khi thu mua xong, chị Em đem sản phẩm vào Đà nẵng bán

Ngoài ra, gia đình anh Nhơn có bán cho một số người thu gom nhỏ (số lượng không nhiều) Sau khi thu gom xong, người thu gom đem bán cho các nhà thu gom lớn trong xã hoặc đem ra chợ bán

Trước khi bán sản phẩm, anh Nhơn thường tìm hiểu thông tin về giá cả qua những người dân trong xã Giá bán sản phẩm được thoả thuận giữa người mua và người bán Tuy nhiên, vẫn có trường hợp người bán bị ép cấp, ép giá Hiện tượng bao vây khu vực không cho người ở khu vực khác đến mua vẫn xảy ra

Tiêu thụ lợn thịt

Hiện gia đình anh Nhơn chỉ nuôi lợn thịt Lợn thịt chủ yếu được tiêu thụ ở địa phương Toàn bộ sản phẩm sản xuất ra được bán cho người thu gom tại nhà Giá cả do nhà thu gom quyết định Sơ đồ chuỗi cung như sau:

Trang 26

Qua phỏng vấn một số cán bộ Phòng Nông nghiệp Huyện, chúng tôi được biết, trong quá trình nuôi tôm, các hộ thường sử dụng một số loại thức ăn tươi: khuyếc, cá tươi nhỏ Những loại thức ăn này thường gây ô nhiễm môi trường Thấy được thực trạng trên, chị Hồng ở Trung tâm Khuyến ngư tỉnh đã thử nghiệm thành công mô hình nuôi xen canh cá Rô phi đơn tính và tôm Do cá Rô phi đơn tính thường sống ở tầng đáy, có thể tận dụng thức ăn thừa do con tôm không sử dụng hết nên có thể hạn chế tình trạng ô nhiễm nước

Chăn nuôi bò cũng có thể là một công việc tạo thu nhập cho hộ mà mức độ rủi ro thấp hơn nhiều so với con tôm Tuy nhiên, để có thể phát triển chăn nuôi bò một cách bền vững, cần trồng cỏ có năng suất cao và áp dụng hình thức nuôi nhốt đàn bò

Người bán lẻ tại chợ địa phương

Lò mổ tư nhân

Thu gom

Các hộ nông dân

Trang 27

Phần II PHÂN TÍCH CHUỖI CUNG

I Giới thiệu

1 Lý do

Vùng ven biển và phá Tam Giang của Thừa Thiên Huế có lợi thế nhiều về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Trong những năm qua, nghề nuôi trồng thuỷ sản của TT-Huế có tốc độ phát triển khá cao cả về diện tích và sản lượng Tuy nhiên, hệ thống các nhà máy chế biến thuỷ sản của TT-Huế đang trong thời kỳ khó khăn do một số doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp Nhà nước) bị phá sản hoặc làm ăn không có lãi Tình hình này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ thuỷ sản của các hộ gia đình ngư dân

Vì thế, nghiên cứu chuỗi cung tiêu thụ thuỷ sản sẽ chỉ cho chúng ta thấy bức tranh chung về tình tình hình tiêu thụ thuỷ sản của các hộ gia đình nông dân để từ đó tìm ra các giải pháp thúc đẩy hơn nữa tiêu thụ thuỷ sản

2 Phương pháp

Như đã phân tích ở phần trước, hiện gia đình anh Nhơn sản xuất 3 loại sản phẩm là: tôm, lợn và lúa Trong đó, lúa được sản xuất ra để tiêu dùng trong gia đình; Sản lượng lợn sản xuất ra trong năm không nhiều (được khoảng 3 tạ), việc tiêu thụ không gặp nhiều khó khăn Trong khi đó, tôm có diện tích nuôi trồng lớn nhất lại là nguồn thu nhập chính của hộ Tuy nhiên, quá trình tiêu thụ cũng gặp nhiều vướng mắc Vì lý do trên, chúng tôi quyết định chọn sản phẩm tôm nuôi làm đối tượng phân tích chuỗi cung

Chuỗi cung của tôm được mô tả ở sơ đồ sau:

Chuỗi cung của tôm có thể đi theo 2 hướng:

1 Hướng thứ nhất: Hộ nông dân thu gom nhỏ thu gom lớn

2 Hướng thứ 2: Hộ nông dân thu gom lớn

Ở hướng thứ nhất, chuỗi cung ngắn, số lượng tiêu thụ nhỏ.Vì thế chúng tôi không đi sâu phân tích Chuỗi thứ 2 dài, phức tạp hơn, lại chiếm một tỷ lệ lớn (khoảng trên 90%) lượng tôm bán ra Vì thế chúng tôi sẽ đi sâu phân tích chuỗi này

Để có thể nghiên cứu chuỗi thứ 2, ngoài anh Nhơn là chủ hộ nuôi tôm, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 3 nhà thu gom lớn ở xã Các doanh nghiệp và nhà bán buôn ở Đà Nẵng chưa tiến hành phỏng vấn được do chưa có điều kiện

3 Mô tả chuỗi cung

3.1 Chuỗi cung các yếu tố đầu vào

- Thức ăn nuôi tôm: Hiện ở xã có 3 - 4 nhà cung cấp thức ăn cho tôm Các nhà cung

cấp thức ăn cho tôm có thể đồng thời là các nhà thu gom lớn ở xã (ông Đương), cũng có thể chi là những người chỉ bán thức ăn tôm nuôi

Trang 28

SƠ ĐỒ CHUỖI CUNG SẢN PHẨM TÔM NUÔI

- Thức ăn được cung cấp từ đại lý ở Huế hoặc trực tiếp từ các công ty Việc bán thức

ăn cho người nuôi tôm có thể thực hiện theo hai hình thức Bán trực tiếp và trả tiền ngay hoặc ghi nợ đến khi tôm thu hoạch mới trả Nếu trả sau khi tôm được thu hoạch thì người nuôi tôm phải trả với giá cao hơn Ví dụ: nếu trả ngay, 1 bao thức ăn 20kg giá 240 ngàn đồng, nếu nợ thì phải trả 250 - 260 ngàn đồng/bao

Hình thức thứ hai là đầu tư thức ăn và thu sản phẩm Các nhà thu gom trong xã đầu tư thức ăn cho các hộ nuôi tôm Cuối vụ, các hộ sẽ thanh toán tiền qua việc bán sản phẩm cho chính những nhà thu gom đó Hình thức này có ưu điểm nhờ có đầu tư ứng trước của người thu gom, người nông dân có thể giải quyết được một phần sự thiếu hụt về vốn và nhà thu

gom có nguồn cung ứng ổn định Tuy nhiên, hình thức này có thể có 2 mặt trái Thứ nhất, do

bắt buộc phải bán tôm cho những nhà thu gom, nên có thể người nông dân sẽ bị ép giá, ép

cấp Thứ hai, do việc thu hồi nợ chỉ có thể thực hiện khi người nông dân có sản phẩm Vì vậy

đã có một số trường hợp, hộ nông dân không bán sản phẩm cho nhà đầu tư mà bán cho người khác, hoặc vay đầu tư ứng trước của nhiều người nên cuối vụ không thể bán cho tất cả các nhà đầu tư Tình trạng này đã làm cho các nhà đầu tư bị mất vốn hoặc thu hồi nợ khó khăn

Tư thương từ Thanh Hoá Bán lẻ

Người tiêu dùng

Nhà hàng,

khách sạn

Thu gom lớn tại xã

Trang 29

Ông Huỳnh Diện một nhà thu gom ở xã là một điển hình Hiện nay, số vốn của ông đang bị đọng tại các hộ (hộ cao nhất 20 triệu, thấp nhất 3 triệu, không có số liệu về tổng số vốn bị nợ đọng)

- Dầu chạy máy: Dầu chạy máy do một số đại lý bán, các đại lý thường bán trực tiếp

cho các hộ ngư dân dưới hai hình thức: bán trả tiền ngay và bán chịu Bán trả tiền ngay, giá bán 7800đ/lít; bán chịu cuối vụ trả thì giá bán là 8000đ/lít

- Vôi: Do nhu cầu vôi chỉ xuất hiện vào đầu vụ nhằm xử lý ao hồ nên lượng bán không

nhiều Theo anh Đương, việc cung cấp vôi của các nhà kinh doanh cho các hộ rất tận tình và chu đáo, thậm chí nhà kinh doanh chấp nhận lỗ để giữ khách Ví du: anh Đương cần vôi, nhà kinh doanh đã phải thuê cả một chuyến xe để chở chỉ 3 bao vôi đến cho anh

Chuỗi cung tôm

Như đã phân tích ở phần trước, chuỗi cung đầu ra của tôm có thể đi theo 2 kênh Ở

hướng thứ nhất các nhà thu gom nhỏ có thể thu mua tôm bằng 2 cách: thứ nhất, khẩn khoản (nài nỷ) các hộ nông dân và nhà thu gom lớn nhượng lại cho một ít Thứ hai, mua tôm của

những người đi mót, lượm tôm trên đồng Sau khi thu gom được một lượng đáng kể, các nhà thu gom nhỏ hoặc là lại bán lại cho các nhà thu gom lớn, hoặc là đem ra chợ bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Ở kênh thứ hai các hộ nông dân bán sản phẩm cho nhà thu gom lớn Người nông dân thường gọi điện thoại cho nhà thu gom lớn đến mua Số lượng tôm bán mỗi lần tùy thuộc vào thời điểm bán và tình trạng sức khoẻ của đàn tôm

Về thời điểm bán: vào đầu vụ tôm Xuân, các nhà thu gom tôm sống ở Thanh Hoá thường hay vào Huế để mua tôm sống ra bán cho các nhà hàng do vào thời điểm này, ở ngoài Bắc chưa có tôm Loại tôm mà họ mua thường to (40, 30 và 20 con/kg) Giá tôm bán lúc này cũng khá cao (120 - 150 và 200 ngàn đồng/kg tuỳ kích cỡ) Do bán tôm sống và to nên lượng bán tôm ở giai đoạn này không nhiều Bán hết cả hồ sẽ xảy ra khi phát hiện tôm bi bệnh hoặc vào cuối vụ Hè Thu khi chuẩn bị bước vào mùa mưa lũ Bán tôm trong trường hợp này gọi là bán tôm xô (không phân loại) Giá bán tôm sẽ được thoả thuận đôi bên Ngoài hai thời điểm trên, các hộ thường bán tôm có phân loại cho các nhà thu gom lớn ở xã Những con to bán, con nhỏ thì có thể dồn sang hồ khác nuôi

Cách xác định giá cả: Nhà thu gom và hộ kéo thử một mẻ lưới để xác định tỷ lệ tôm các loại nhằm xác định giá trung bình của cả hồ Sau khi bàn bạc thống nhất, thoả thuận nhất trí, tôm sẽ được kéo lên, cân và thanh toán theo mức giá thống nhất Sau 5 - 7 ngày, chậm nhất 10 ngày sau khi bán, nhà thu gom lớn sẽ thanh toán tiền mặt cho các hộ Việc bán tôm cho các nhà thu gom trên địa bàn có thuận lợi cơ bản là các hộ không phải chịu chi phí vận chuyển, bảo quản Tuy nhiên người nông dân dễ bị ép cấp, ép giá dưới nhiều hình thức Sau khi kéo tôm lên bờ, nhà thu gom không cân ngay mà để tôm thật khô mới cân Đôi lúc, họ cho rằng việc xác định tỷ lệ các loại tôm lúc ban đầu chưa chính xác buộc các chủ hộ phải giảm phẩm cấp từ đó phải giảm giá bán

Trong trường hợp có nhiều gia đình cùng có nhu cầu bán tôm tại cùng một thời điểm, nhà thu gom có thể hạ giá mua (đôi lúc giá mua có thể hạ xuống đến 20 ngàn đ/kg trong cùng một ngày - trường hợp bán tôm sống vụ Xuân)

Nhà thu gom bán tôm cho tư thương ở Thanh Hoá: Có đến 50% lượng tôm thu gom

được ở vụ Xuân được bán cho các tư thương ở Thanh Hoá Giá tôm do 2 bên thoả thuận

Trang 30

Bán tôm cho tư thương ở chợ Cồn và chợ Hàn, Đà Nẵng: 40% lượng tôm còn lại

của cả năm của nhà thu gom được bán cho các tư thương ở chợ Hàn và chợ Cồn Hàng ngày, sau khi thu gom tôm ở Huế, các nhà thu gom đem tôm vào Đà Nẵng bán trực tiếp cho các tư thương Giá cả được thoả thuận sau khi khảo sát giá ở chợ Thỉnh thoảng, khi có nhu cầu đột xuất, các tư thương gọi điện đến đặt hàng cho các nhà thu gom (bao gồm: số lượng, chất lượng và giá) Tôm sau khi bán cho các tư thương sẽ được bán lại cho các nhà bán lẻ Từ đó, tôm có thể được đem đến cho các nhà hàng, cho người bán lẻ khác hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng ở các chợ khác Thông thường việc thanh toán được tiến hành ngay sau khi bán Đôi lúc họ có thể để đến ngày hôm sau mới thanh toán.Nhìn chung việc bán tôm cho các

tư thương ở các chợ Đà nẵng không gặp khó khăn gì

Bán tôm cho các công ty xuất nhập khẩu 32 và 86: 40% lượng tôm còn lại, các nhà

thu gom ở xã Vinh Hưng thường đem bán cho 2 công ty này Mặc dù là công ty xuất khẩu nhưng họ lại mua tất cả các loại tôm (cả to và nhỏ, phần lớn là tôm đã chết và ngâm nước đá) Giá thu mua tôm của 2 công ty trên đã được công bố (in ấn) trên bảng giá Cụ thể như sau: Loại 100 con/kg giá 42 ngàn đ/kg, loại 40 con/kg, giá 72 ngàn đ/kg Bình quân giá mua tôm từ 55-65 ngàn đồng/kg Với những loại tôm nhỏ, nếu số lượng con tăng lên 10 con/kg thì giá tôm sẽ giảm xuống 1 ngàn đồng/kg Với loại tôm lớn (20 - 60 con/kg) cứ lệch 1 con thì giá sẽ tăng hoặc giảm xuống 1 ngàn đồng Các công ty chỉ liên lạc với các nhà thu gom khi giá tôm có sự thay đổi Việc bán tôm cho 2 công ty trên khá thuận lợi Công ty có thể mua hết số tôm, loại tôm mà các nhà thu gom đem đến Để giữ được nguồn hàng, các công ty trên thường nâng một đến 2 giá cho các nhà thu gom là những bạn hàng thường xuyên của công

ty Việc thanh toán tiền được thực hiện sau 2 - 10 ngày

Bán tôm cho các tư thương ở Huế: (tư thương Thanh Tin ở Quốc Lộ 49, Cu Ba ở khu

Kiểm Huệ, Dung Diệp ở đường Nhật Lệ) Đôi khi, các nhà thu gom tôm cũng bán tôm cho những tư thương ở Huế Tuy nhiên, lượng bán không nhiều vì giá cả thấp hơn so với giá bán

ở Đà Nẵng

4 Phân tích chuỗi cung

Do không có điều kiện đi vào Đà Nẵng khảo sát nên việc phân tích chuỗi cung chỉ dừng lại ở các tư thương và các công ty ở Huế Nhìn chung khẩu độ của chuỗi không dài, Các đối tượng trên chưa phải là người tiêu dùng cuối cùng Tuy nhiên, mỗi đối tượng lại có một yêu cầu về thuộc tính sản phẩm khác nhau Các tư thương ở Thanh Hoá thường yêu cầu loại tôm to, vẫn còn sống Ngược lại, các tư thương và các doanh nghiệp ở Đà Nẵng có thể tiêu thụ loại tôm đã chết và ướp đá Họ có thể tiêu thụ tất cả các loại tôm ở các kích cỡ khác nhau Hoạt động bảo quản chế biến được tiến hành chủ yếu ở các nhà thu gom ở Vinh Hưng

Để bảo quản tôm, nhà thu gom thường sử dụng thùng nhựa có bỏ đá để giữ cho tôm được tươi lâu đồng thời cũng là biện pháp tăng trọng lượng và kích cỡ tôm (theo ông Diện, nếu ngâm tôm vào thùng đá, để từ 6 giờ sáng đến 16 giờ, 100kg tôm sẽ tăng lên 5-7kg) Riêng ông Diện còn có một xe lạnh để bảo quản tôm

Chi phí cho việc thu mua và bảo quản tôm khá cao Theo ông Diện, để thu mua một ngày 2 tấn tôm, cần 3 chiếc thuyền nhôm để chở tôm từ hồ về nhà, 100 thùng nhựa xanh; 100 cây đá và 20 người làm nhiệm vụ phân loại Chi phí cho việc thu mua và bảo quản hết khoảng 2 triệu đồng (500 ngàn tiền đá, 800 ngàn tiền công lao động, 320 ngàn tiền dầu máy, khấu hao thuyền và thùng chứa tôm) Việc vận chuyển tôm vào Đã Nẵng hết khoảng 1 triệu đồng, bao gồm: thuê ô tô 700 ngàn và 300 ngàn tiền xăng xe

Nhìn chung, chuỗi đã tập trung vào người tiêu dùng để phục vụ Các bộ phận trong chuỗi nhìn chung có sự hợp tác và khá ổn định Riêng mối quan hệ giữa các hộ gia đình ngư dân với các nhà thu gom đôi lúc có biểu hiện ép nhau

Trang 31

Mức độ cạnh tranh trong chuỗi không cao Hiện ở trong vùng chỉ có khoảng 6 nhà thu gom lớn Các Nhà thu gom này thường không hợp tác với nhau trong việc mua tôm, nhưng

họ không gây khó dễ cho nhau mà chủ yếu cạnh tranh nhau qua cách thức phục vụ và giá cả thu mua Các nhà thu gom ở vùng khác không thể đến Vinh Hưng để mua trực tiếp từ các hộ

Thông tin trong chuỗi

Người nông dân thiếu những thông tin về thị trường và giá cả Họ chỉ biết sản xuất những gì mà họ có thể, giá bán phụ thuộc vào người mua Thông tin giá cả giữa người thu gom với các doanh nghiệp ở Đà Năng khá đầy đủ do họ có điều kiện khảo sát giá thị trường trước khi quyết định bán sản phẩm (có thể tham khảo sơ đồ trang sau) Thông tin về giá cả sản phẩm giữa nhà thu gom lớn ở Vinh Hưng với các nhà thu gom tôm ở Thanh Hoá không

rõ ràng Họ không biết thông tin giá cả sản phẩm ở Thanh Hoá Giá cả được thực hiện qua

sự thoả thuận đôi bên

Thông tin về sản phẩm: theo quan điểm của các nhà thu gom và các hộ nông dân, các thông tin về số lượng, chất lượng sản phẩm là không cần thiết do ở Vinh Hưng chỉ có thể sản xuất duy nhất 1 loại tôm với các kích cỡ khác nhau Tuy nhiên, xét về lâu dài, khi quy mô sản xuất tăng nhanh, việc xuất khẩu sẽ là lối ra duy nhất thì các thông tin thị trường: giá, yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm cần phải đặt lên hàng đầu

Những trở ngại trong hoạt động của chuỗi

1 Mặc dù có 6 nhà thu gom tôm lớn ở Vinh Hưng nhưng cơ sở vật chất phục vụ cho việc bảo quản để duy trì chất lượng tôm còn khá đơn giản Nếu thị trường có biến động thì sẽ ảnh hưởng lớn đến vấn đề tiêu thụ tôm Trong tương lai, cần phải có hệ thống kho lạnh để bảo quản tôm hoặc có nhà máy chế biến tôm ở TT-Huế

2 Với hình thức tiêu thụ như hiện nay thì luồng thông tin như trên là có thể chấp nhận được Tuy nhiên, về lâu dài, cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân và những nhà xuất khẩu trong việc cung cấp các thông tin thị trường trên thế giới

3 Hệ thống quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn HCCP chưa được đặt ra Đây là một trở ngại lớn nếu muốn xâm nhập vào thị trường Đông âu và các thị trường khó tính khác Trong tương lai, để con tôm của Thừa Thiên Huế có thể xuất khẩu ra nước ngoài, cần thiết phải có

sự hợp tác chặt chẽ giữa các hộ nuôi tôm và các nhà xuất khẩu trong việc xây dựng và thực hiện hệ thống quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn HCCP

Trang 32

SƠ ĐỒ: DÒNG THÔNG TIN TRONG CHUỖI CUNG TÔM

Tư thương từ Thanh Hoá

Nhà hàng,

khách sạn

Thức ăn

Thu gom lớn tại xã

Tôm giống

Trang 33

Nghiên cứu trường hợp 2

KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG Nhóm điều tra

1 Ths Nguyễn Ngọc Châu

2 Ths Phạm Thị Thanh Xuân

Chủ hộ: Nguyễn Hữu Hiền (tên khác là Nguyễn Hữu Sở)

Thôn: Liễu Thượng

Xã: Hương Xuân

Huyện: Hương Trà

Tỉnh: Thừa Thiên Huế

Người viết báo cáo: Nguyễn Ngọc Châu

Ngày điều tra lần 1: 14/10/2005

Ngày điều tra lần 2: 15/10/2005

A PHÂN TÍCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ

I GIƠÍ THIỆU

Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang phát triển dần theo hướng

sản xuất hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Chính điều này đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi lớn, đời sống của người dân nông thôn từng bước được cải thiện Tuy nhiên, trước bối cảnh tất yếu nền kinh tế nước ta đã và đang hòa nhập vào thị trường khu vực

và thế giới thì một vấn đề đặt ra là nhiều cán bộ xã, cán bộ khuyến nông và bản thân các nông hộ còn thiếu kiến thức và khả năng về kinh doanh nông nghiệp Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải làm sao giúp đỡ người nông dân nâng cao hiểu biết của họ về kinh doanh nông nghiệp Từ đó giúp họ nhận thức, tính toán và lựa chọn sản xuất cây, con, ngành nghề gì? sản xuất như thế nào cho có hiệu quả và có thể cạnh tranh được trên thị trường đầy biến động này

Trong phạm vi báo cáo này, chúng tôi phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh của nông hộ điển hình ở vùng đồng bằng huyện Hương Trà Hai lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu là phân tích sản xuất cấp nông hộ và phân tích chuỗi cung một số sản phẩm chủ yếu của nông hộ

Phương pháp nghiên cứu điều tra phỏng vấn trực tiếp chủ hộ, phỏng vấn đầu mối tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu thị trường bán buôn và bán lẻ nông sản chủ yếu Đồng thời tham khảo các tài liệu liên quan đến định mức kinh tế kỹ thuật của một số cây trồng và vật nuôi liên quan Phương pháp chuyên gia cũng được áp dụng để kiểm tra lại thông tin phỏng vấn Báo cáo này nhằm mục đích phân tích tình hình hoạt động sản xuất nông nghiệp của một nông hộ trên địa bàn xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Qua đó

Trang 34

II NỘI DUNG

2.1 Khái quát về hộ điều tra

2.1.1 Chủ hộ

Gia đình ông Nguyễn Hữu Hiền và bà Trần Thị Màu sống ở thôn Liễu Thượng, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ lâu đời Ông Hiền 46 tuổi, trình độ văn hoá 9/12, vợ ông hiện nay 44 tuổi Gia đình ông Hiền hiện nay có 6 nhân khẩu và 2 lao động chính Còn 4 người con trong độ tuổi lao động trong đó, 1 người đang học tại Trường Đại học Khoa Học Huế và 3 người còn lại đang trong giai đoạn học nghề ở xa

Nghề nghiệp chính của ông Hiền là làm nông nghiệp Gia đình ông Hiền sản xuất các

mô hình lúa xen cá, sắn xen lạc, nuôi heo nái và heo thịt Ngoài ra vợ ông Hiền ngoài việc làm nông còn buôn bán hoa quả nhằm tăng thu nhập cho gia đình Mới đây Ông còn đấu thầu chung với ông Kha thêm 10.000m2 để đào ao thả cá

Xã Hương Xuân thuộc huyện Hương Trà cách thành phố Huế 6 – 7 km về phía Bắc Đặc biệt xã Hương Xuận còn tiếp giáp với quốc lộ 1A và tuyến đường tránh Huế nên rất thuận lợi cho việc giao thông mua bán và trao đổi hàng hoá Địa bàn xã Hương Xuân nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Nam và miền Bắc nước ta Nhiệt độ trung bình năm là 25,2oC, biên độ nhiệt độ các tháng chênh lệch nhau từ 7oC – 9oC, lượng mưa bình quân 2560mm/năm, độ ẩm 84% Nhìn chung khí hậu thời tiết khá phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại cây trồng như lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm

2.1.2 Cơ sở vật chất hiện có của hộ điều tra

2.1.2.1 Tư liệu sản xuất

Tình hình trang bị các tư liệu sản xuất của hộ được thống kê ở bảng 1

Bảng 1: Tình hình trang bị các tư liệu sản xuất của hộ

Loại tài sản

Số lượng (cái, bộ)

Giá trị mua sắm (1000đ)

Thời gian có thể sử dụng (năm)

Thời gian đã

sử dụng (năm)

Trang 35

Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, 2005

Trong đó diện tích đất canh tác được tưới tiêu chủ động là 2500m2 (5 sào trồng lúa nuôi cá theo mô hình lúa-cá) Diện tích ao nuôi cá 5.000m2 ở mục 4 của bảng là do cuối năm

2004 ông Hiền đấu thầu chung với ông Kha thêm 10.000m2 trong thời gian 5 năm để đào ao thả cá

Gia đình ông Hiền thuộc loại hộ trung bình khá của xã về mặt nguồn lực sản xuất và cách thức làm ăn Chính vì vậy ông vẫn thường được ưu tiên của xã trong việc tham gia tập huấn hoặc xây dựng mô hình sản xuất theo các dự án

2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ điều tra

2.2.1 Phân tích hiện trạng sản xuất của hộ điều tra

+ Cây Lạc : Hộ gia đình ông Hiền trồng 3 sào chuyên lạc và hiệu quả cụ thể như sau :

Bảng 3 : Kết quả và hiệu quả trồng lạc của hộ năm 2004

+ Lạc xen sắn : Ngoài trồng lạc 1 vụ như trên ông Hiền còn trồng 3 sào sắn xen lạc

trồng từ tháng 1, thu hoạch lạc vào cuối tháng 4 và thu hoạch sắn vào tháng 9 đến tháng 12 Kết quả và hiệu quả mô hình săn xen lạc được thể hiện ở bảng số 4

Trang 36

Bảng 4 : Kết quả và hiệu quả mô hình Sắn xen Lạc năm 2004

Nguồn: số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, 2005

Năm 2004 ông Hiền thu hoạch sắn vào tháng 9 Theo ông nếu để đến tháng 12 thu hoạch sắn thì sản lượng sẽ tăng thêm 300kg và giá cuối năm là 600 đồng/kg Như vậy giá trị gia tăng sẽ tăng thêm 180.000 đồng (vì ít người bán và hàm lượng bột cao hơn)

+ Vườn: Với 3 sào đất vườn Ông Hiền trồng rau khoai, sắn để lấy thức ăn cho lợn và

trồng khoảng 300 cây ổi từ năm 2002, chi phí trồng ước tính 1.000.000 đồng Ổi chỉ có hiệu quả cao trong vòng 4 năm sau đó phải trồng lại Hiện nay là năm thứ tư, ổi bắt đầu chết dần

và ông đang xen sắn và cây khoai vào để làm thức ăn cho lợn Năm 2004 gia đình ông Hiền bán được khoảng 1.200kg ổi giá trung bình 2.500 đồng/kg, thu nhập (VA) cho hộ là 3.000.000đ

+ Mô hình Lúa - Cá

Với 5 sào ruộng chủ động tưới tiêu ông Hiền đã đào 3 mặt xung quanh ruộng lúa để làm rãnh nuôi cá (diện tích bờ mất khoảng 150m2), ở giữa trồng lúa, khi thu hoạch lúa thì tháo nước cho cá xuống rãnh, thu hoạch xong thì lại cho đầy nước Đối với cá trên đất lúa ông Hiền chỉ cho ăn 2 tháng đầu sau đó không cho ăn nữa Mỗi năm ông trồng 2 vụ lúa, vụ Đông Xuân từ tháng 1 đến tháng 4, vụ Hè từ tháng 4 đến tháng 8 và thả 1 vụ cá từ tháng 2 đến tháng 12 trong năm Kết quả và hiệu quả mô hình lúa - cá được thể hiện ở bảng 5

Bảng 5 : Kết quả và hiệu quả mô hình lúa - cá năm 2004

5 Tổng giá trị sản xuất (GO) 1000đ 5.880

9 Lợi nhuận từ mô hình lúa cá 1000đ 1.535

Nguồn: số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu, 2005

Theo Ông Hiền nếu xã cho phép thì ông sẽ chuyển đổi 5 sào ruộng lúa này sang đào ao nuôi cá toàn bộ

Ngày đăng: 23/02/2014, 23:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhu cầu đào tạo của cán bộ khuyến nông - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ khuyến nông (Trang 10)
Bảng 2: Tóm tắt chương trình dự kiến 2006 - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 2 Tóm tắt chương trình dự kiến 2006 (Trang 11)
Bảng 2: Tình hình trang bị máy móc thiết bị của hộ - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 2 Tình hình trang bị máy móc thiết bị của hộ (Trang 22)
Bảng 3: Bố trí lịch thời vụ sản xuất của hộ - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 3 Bố trí lịch thời vụ sản xuất của hộ (Trang 23)
Bảng 4: Kết quả và hiệu quả của 3 loại sản phẩm chính - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 4 Kết quả và hiệu quả của 3 loại sản phẩm chính (Trang 24)
ăn cho người nuôi tơm có thể thực hiện theo hai hình thức. Bán trực tiếp và trả tiền ngay - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
n cho người nuôi tơm có thể thực hiện theo hai hình thức. Bán trực tiếp và trả tiền ngay (Trang 28)
Bảng 2: Tình hình đất đai của hộ - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 2 Tình hình đất đai của hộ (Trang 35)
2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ điều tra - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
2.2 Hiện trạng sản xuất của hộ điều tra (Trang 35)
Bảng 4: Kết quả và hiệu quả mơ hình Sắn xen Lạc năm 2004 - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 4 Kết quả và hiệu quả mơ hình Sắn xen Lạc năm 2004 (Trang 36)
+ Mơ hình Lúa-Cá - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
h ình Lúa-Cá (Trang 36)
bảng 6: - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
bảng 6 (Trang 37)
Bảng 8: Bảng tính kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt nếu mua giống - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 8 Bảng tính kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt nếu mua giống (Trang 38)
Bảng 7: Kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 7 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt (Trang 38)
Bảng 9: Hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh hộ năm 2004 - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
Bảng 9 Hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh hộ năm 2004 (Trang 39)
Qua so sánh hiệu quả kinh tế hiện tại thì mơ hình lúa-cá có hiệu quả cao hơn mơ hình lúa-lúa (tính cho 5 sào) và thấp hơn mơ hình ni cá tồn bộ diện tích nếu có thể - nhu cầu kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ và cán bộ khuyến nông
ua so sánh hiệu quả kinh tế hiện tại thì mơ hình lúa-cá có hiệu quả cao hơn mơ hình lúa-lúa (tính cho 5 sào) và thấp hơn mơ hình ni cá tồn bộ diện tích nếu có thể (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w