1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

18 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 358,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người trái với quy định của pháp luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại

Trang 1

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN I

Đề tài:

VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tên học phần : Pháp luật đại cương

Lớp học phần : 2111POLI190317

Sinh viên thực hiện : Lạc Ngọc Nhi

Thành phố Hồ Chí Minh - 2022



Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 Lý luận chung về vi phạm pháp luật 3

1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 3

1.1.1 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 3

1.1.2 Các loại vi phạm pháp luật 4

1.1.3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật 6

1.2 Tiểu kết chương 1 10

CHƯƠNG 2 Thực tiễn vi phạm pháp luật của sinh viên hiện nay 11

2.1 Tình hình vi phạm pháp luật của sinh viên hiện nay 11

2.1.1 Thực trạng 11

2.1.2 Nguyên nhân 12

2.1.3 Hậu quả 14

2.1.4 Một số giải pháp giúp hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật ở sinh viên 15

2.2 Tiếu kết chương 2 15

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ở nước ta hiện nay có hơn 25% dân số là thanh niên, bao gồm cả sinh viên

Có thể nói, sinh viên là một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu thanh niên Việt Nam, đây là lực lượng nòng cốt, kế thừa và phát huy nguồn trí tuệ của nước nhà, là lực lượng then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước Sinh viên sẽ là những nguồn nhân lực dồi dào bởi sinh viên là những tri thức trẻ, có sự sáng tạo phong phú cho công việc và cuộc sống, có ý chí và thực lực để hướng đến một tương lai tốt đẹp Tuy nhiên, trước những tác động, những cạm bẫy của mặt trái xã hội đã làm cho nhiều sinh viên trở nên mất phương hướng, đi sai quỹ đạo mà họ đã đề ra, lười học tập, sa vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật Đây thật sự là một thực trạng đáng báo động Do đó, việc nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật của sinh viên hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm ra phương hướng và giải quyết, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của thế hệ trẻ Tuy nhiên, vi phạm pháp luật là gì? Những vấn đề lý luận và thực tiễn ra sao? Ta sẽ phân tích và làm rõ chúng trong bài tiểu luận này

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người trái với quy định của pháp luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ Vi phạm pháp luật là trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, gây tác động tiêu cực đến xã hội

1.1.1 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật

- Thứ nhất, hành vi xác định của cá nhân, pháp nhân hay cụ thể

Hành vi của con người là sự thể hiện ý chí ra bên ngoài bằng hành động (hoặc không hành động) một cách có ý thức nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật Có thể nói theo một cách khác, bất kỳ một sự việc nào mà con người tạo nên bắt nguồn từ những hành động, nguyên nhân nào đó và được thực hiện, sự thực hiện thể hiện bằng hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động nhằm đạt được mục đích nào đó

- Thứ hai, hành vi xác định phải trái pháp luật hiện hành

Một hành vi được coi là trái pháp luật khi hành vi đó không phù hợp với các quy định của pháp luật, tức là làm những điều mà pháp luật cấm hay không làm những điều mà pháp luật yêu cầu phải làm Hành vi bất hợp pháp ấy của chủ thể có thể là hành vi của cá nhân hay tổ chức, xâm hại đến các quyền công dân, quyền tài sản dưới

sự quản lý của Nhà nước, … Sự quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý để xác định hành vi của một chủ thể cụ thể nào đó có trái với pháp luật hay không Một người sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý của mình khi hành vi đó không nằm trong những điều mà pháp luật đã quy định Hành vi của con người có thể được cái quy phạm xã hội khác điều chỉnh

Trang 5

Các hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới dạng như:

- Làm một việc (hay một hành động) mà pháp luật cấm không được làm

- Không làm một việc (hay không hành động) mà pháp luật đòi hỏi

- Sử dụng quyền hạn vượt quá quy định của pháp luật

- Thứ ba, hành vi trái pháp luật đó phải có lỗi của chủ thể

Lỗi là yếu tố không thể thiếu để xác định hành vi vi phạm pháp luật Đây là yếu tố thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của chính mình, tức

là mặt chủ quan của hành vi, hay lỗi của chủ thể Chủ thể có khả năng nhận thức về hành vi của mình nhưng cố ý hay vô ý thực hiện hành vi trái pháo luật thì bị coi là có lỗi Do đó, có những hành vi trái pháp luật nhưng họ bắt buộc phải thực hiện trong hoàn cảnh khó, không còn cách xử sự nào khác thì hành vi trái pháp luật này không được coi là có lỗi và không cấu thành hành vi vi phạm pháp luật được Ví dụ như A đang đi trên đường vắng, đi một mình và vào buổi tối thì đột nhiên B xuất hiện, đuổi theo A và cướp lấy điện thoại mà A đang cầm trên tay Lúc đó, A đã đuổi theo B và dùng chân đá B, làm cho B bị té xuống và bị tay phải Lúc này, không thể nói A đã

vi phạm pháp luật được do A đã ở trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng và bảo vệ tài sản của mình

- Thứ tư, chủ thể vi phạm pháp luật phải có đủ năng lực chủ thể

Người có đủ năng lực chủ thể là người có khả năng nhận thức được hành vi,

có khả năng lựa chọn cách hành động, cách xử sự của mình, có thể nhận biết được hành vi của mình có thể gây nên những hậu quả như thế nào mà vẫn thực hiện thì đây được xem là hành vi vi phạm pháp luật Vậy nên những hành vi trái pháp luật do những người không thể nhận thức được, do những người không có năng lực hành vi như mất trí, bị bệnh tâm thần, … thực hiện thì không được xem là hành vi vi phạm pháp luật được

1.1.2 Các loại vi phạm pháp luật

Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật, chúng được chia thành tội phạm và các vi phạm pháp luật khác mà không phải là tội phạm Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội ở mức cao nhất Còn các vi

Trang 6

phạm pháp luật khác là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, nhưng ở mức thấp hơn tội phạm

Vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại là: Vi phạm hình sự (tội phạm),

vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật Cơ sở để chia thành bốn loại này là các yếu tố bao gồm khách thể, chủ thể, hậu quả, cách thức thực hiện hành vi

- Vi phạm hình sự (tội phạm): là hành vi trái pháp luật được quy định trong bộ luật hình sự, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý gây ra một cách vô ý hoặc cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chế độ Nhà nước; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân Chủ thể của vi phạm hình sự có thể là cá nhân, pháp nhân Ví dụ như giết người, buôn lậu…

- Vi phạm hành chính: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do cá nhân, tổ chức có năng lực pháp lý thực hiện, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải

là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Vi phạm hành chính là loại vi phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn vi phạm hình sự Vi phạm hành chính có thể được thể hiện trên hai khía cạnh, một là, khách thể của vi phạm hành chính có tầm quan trọng đối với đời sống xã hội thấp hơn so với khách thể của tội phạm, hai là, tính chất và mức độ thiệt hại cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính thấp hơn so với tội phạm… Quy tắc quản lý của Nhà nước rất đa dạng: Quản lý trật tự an toàn xã hội; trật tự quản lý văn hóa, giáo dục, đất đai, tài nguyên môi trường; trật tự an toàn giao thông Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là chá nhân hoặc tổ chức Vi phạm hành chính được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực cụ thể Ví dụ như trốn thuế, phá hỏng tài sản thuộc quản lý của Nhà nước

- Vi phạm dân sự: là những hành vi xâm hại đến quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản hoặc không liên quan đến tài sản được quy định trong

Bộ luật Dân sự Đây là loại vi phạm mà trong trường hợp chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ pháp luật dân sự cụ thể nào đó Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người về những

Trang 7

lợi ích về vật chất được tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất của xã hội như: quan

hệ sở hữu, quan hệ thừa kế… Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn liền với một tài sản bất kỳ nào đó Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về những lợi ích phi vật chất, không có giá trị về mặt kinh tế, không tính ra được thành tiền hay không thể chuyển giao vì nó gắn liền với một cá nhân, tổ chức nhất định Nó ghi nhận đặc tính riêng biệt về sự đánh giá của xã hội đối với cá nhân hay tổ chức đó Quan hệ nhân thân thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành Luật dân sự gồm quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản (như: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghệ, …), quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản (như: danh dự, nhân phẩm, …) Chủ thể của vi phạm dân sự là cá nhân hoặc tổ chức Vi phạm dân sự dẫn đến việc áp dụng các chế tài do những quy phạm pháp luật dân sự quy định Ví dụ như tranh chấp đất đai, nhà cửa…

- Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi, trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật

tự trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp, trường học, … Vi phạm kỷ luật dẫn đến việc áp dụng các biện pháp thi hành kỷ luật khác nhau như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, … Chủ thể của vi phạm pháp luật có thể là cán bộ - công chức Nhà nước, học sinh – sinh viên, … Ví dụ sinh viên dùng tài liệu trong giờ thi (đề đóng) là hành vi vi phạm kỷ luật

1.1.3 Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật

Các yếu tố cấu thành là dấu hiệu đặc trưng của một hành vi vi phạm pháp luật

cụ thể Trong khoa học pháp lý, về mặt cấu trúc vi phạm pháp luật thường được xem xét trên những yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt chủ thể và mặt khách thể

- Mặt khách quan:

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật, bao gồm các yếu tố: hành vi trái pháp luật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm…

a Hành vi trái pháp luật là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, trái với các yêu cầu của pháp luật, nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Hành vi trái pháp luật có thể thể hiện dưới dạng hành động như đâm,

Trang 8

chém người, cướp giật, …; hành vi trái pháp luật cũng có thể thể hiện dưới dạng không hành động như không tố giác tội phạm, trốn tránh nghĩa vụ, …

b Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là kết quả trực tiếp của hành vi vi phạm pháp luật, là những thiệt hại gây ra cho xã hội Bất cứ một hành vi vi phạm pháp luật nào cũng gây ra hoặc đe dọa gây ra một hoặc một vài thiệt hại nhất định Hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật được biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các quan hệ xã hội bị xâm hại Hậu quả mà vi phạm pháp luật gây ra có thể là những hậu quả nhìn thấy được như thiệt hại về vật chất, về tính mạng, về sức khỏe con người Ngoài ra, nó cũng có thể là những thiệt hại trừu tượng mà con người khó nhận biết được như thiệt hại bề tinh thần, mức độ nguy hiểm của tính mạng con người Hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật là cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm gây ra cho

xã hội của hành vi vi phạm pháp luật đó

c Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội tức

là giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau Hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó phải xảy

ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành

vi đó mà không phải là của một nguyên nhân khác

d Thời gian vi phạm pháp luật là thời điểm hoặc khoảng thời gian, là giờ, ngày, tháng, năm mà hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện

e Địa điểm vi phạm pháp luật là nơi xảy ra vi phạm pháp luật

f Phương tiện vi phạm pháp luật là công cụ mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật của mình Chẳng hạn như mã tấu để chém, giết người; xe máy

để chạy đi cướp, …

g Phương pháp, thủ đoạn là cách thức thực hiện hành vi vi phạm, cách thức

sử dụng công cụ vi phạm

- Mặt chủ quan:

Mặt chủ quan là toàn bộ diễn biến tâm lý của chủ thể, là diễn biến bên trong của con người mà bằng giác quan thì người khác không thể nào nhìn thấy được Các

Trang 9

dấu hiệu của mặt chủ quan bao gồm lỗi, động cơ, mục đích của chủ thể đối với hành

vi và hậu quả của sự vi phạm pháp luật

- Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật, lỗi là một yếu tố quan trọng để đánh giá, phản ánh mức độ nguy hiểm mà hành

vi vi phạm pháp luật đó gây ra cho xã hội Căn cứ vào dấu hiệu ý chí và lý trí, lỗi bao gồm hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý

+ Lỗi cố ý gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp

• Lỗi cố ý trực tiếp: là lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ được hành vi của mình đang làm là trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mong muốn điều đó xảy ra Ví dụ:

A và B xảy ra mâu thẫu, A đã dùng dao đâm B với ý muốn đâm chết, giết chết

B Như vậy, rõ ràng A có thể nhận thức được việc mình làm là hoàn toàn nguy hiểm cho xã hội và A có mong muốn hậu quả chết người xảy ra Vì vậy A có lỗi cố ý trực tiếp

• Lỗi cố ý gián tiếp: là lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhận thức rõ được hành vi của mình đang làm là trái pháp luật, nhìn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra Ví dụ: A đang đi trên đường đi làm về và gặp B bị trượt chân té xuống sông Tuy nhiên A đã làm ngơ, bỏ mặc đến tính mạng của B và

A đã tiếp tục đi mà không cứu giúp, kêu gọi cứu giúp B Như vậy, A đã có ý thức bỏ mặc hậu quả nguy hiểm chết người xảy ra, A có lỗi cố ý gián tiếp + Lỗi vô ý gồm lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

• Lỗi vô ý vì quá tự tin: là lỗi của chủ thể vi phạm tuy thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm nhưng tin rằng nó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Ví dụ: A lái xe quá tốc độ và A tin rằng tay lái của mình rất chắc chắn, không thể xảy ra tai nạn được Tuy nhiên, thực tế A

đã gây ra tai nạn giao thông Vậy nên A có lỗi vô ý vì quá tự tin

• Lỗi vô ý do cẩu thả: là lỗi của chủ thể vi phạm không nhận thức được hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình mặc dù trách nhiệm phải biết và có thể biết

Trang 10

Ví dụ: A là kế toán của công ty B, trong lúc kết sổ vào cuối ngày, vì sự cẩu thả của mình mà A đã nhập liệu thiếu một số 0, việc này làm tổn thất đến công

ty Có thể thấy A là một kế toán, A có trách nhiệm phải xem xét kỹ những chi tiết nhập liệu, nhưng do cẩu thả nên A đã nhập thiếu và gây ảnh hưởng đến công ty Vì vậy, A có lỗi vô ý do cẩu thả

- Động cơ vi phạm pháp luật là động lực bên trong, là những nguyên nhân bên trong (các nhu cầu thỏa mãn) thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Mặc nhiên, chỉ những trường hợp có lỗi cố ý thì mới có yếu tố động cơ, bởi

vì những người có lỗi vô ý thì họ không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hoặc họ hoàn toàn tin rằng hành vi mình đã và đang làm là đúng

và hợp pháp Chẳng hạn như ghen tuông, đố kỵ, lòng tham, … là những động cơ thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật để thỏa mãn nhu cầu của chính mình

- Mục đích vi phạm pháp luật là kết quả, mục tiêu trong ý thức mà chủ thể vi phạm pháp luật đã đặt ra và mong muốn đạt tới khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Chỉ những hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý trực tiếp thì mới có mục đích vi phạm pháp luật bởi chủ thể vi phạm pháp luật muốn đạt được mục tiêu, múc đích mà mình đề ra để thỏa mãn mình

- Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức phải có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý đã có hành vi vi phạm pháp luật Năng lực trách nhiệm pháp lý của

cá nhân căn cứ vào độ tuổi, vào khả năng nhận thức điều khiển hành vi của họ Mọi tổ chức hợp pháp đều có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý về mọi hành vi của

họ, điều này dựa trên cơ sở địa vị pháp lý của tổ chức họ Tùy thuộc vào khách thể được pháp luật bảo vệ mà quy định năng lực chịu trách nhiệm pháp lý trong các ngành Luật Ở mỗi loại vi phạm pháp luật, tùy theo quy định của pháp luật đều có chủ thể riêng

- Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo

vệ nhưng lại bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại Khách thể là một yếu tố quan trọng trong việc xác định tính chất nguy hiểm của hành vi Một vi phạm pháp luật

Ngày đăng: 24/06/2022, 15:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w