Bài tiểu luận vè nguồn nhân lực nói rõ vai trò của vốn nhân lực với tăng trường và phát triển kinh tế sẽ giúp các bạn khái quát được hết tầm quan trọng của nhân lực. Nó không chỉ dừng lại ở trong doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến quy mô ở tầm vóc quốc gia
Trang 1VAI TRÒ CỦA VỐN NHÂN LỰC VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ.
A Đặc vấn đề:
Trải qua hai cuộc thế chiến, hiện nay nền kinh tế thế giới đã và đang thay đổi rất nhanh chóng Trong nửa sau của thế kỷ XX, những tiến bộ đáng kể về khoa học và công nghệ, cùng với việc thành lập chính phủ rộng rãi và tăng cường thể chế khuyến khích phát triển, dẫn đến sự tiến bộ trong kinh tế xã hội và nhất là cải thiện cuộc sống của một số lượng lớn người dân của nhiều quốc gia Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khá nhiều quốc gia đang tụt lại phía sau Thực tế, hiện nay trong khu vực châu
Á thể hiện sự khác biệt đáng kể trong tình trạng phát triển kinh tế giữa các nước Ví
dụ, khi GNP thu nhập bình quân đầu người được coi là một chỉ số về phát triển kinh tế (xem hình I.1), các số liệu cho thấy hai quốc gia kém phát triển nhất châu Á và các nước đang phát triển Nam Á như India và Pakistan vẫn còn dưới mức 2000 USD trong khi những người sinh sống tại nước đang phát triển Đông Á con số này nằm trong khoảng 5000 USD cho Thailand và trên 10.000 USD cho Korea
Nguồn: World Bank, chỉ số GNI bình quân đầu người thế giới.
http://search.worldbank.org/data?qterm=GNP+%2F+person&language=EN&format=
0
1,000
2,000
3,000
4,000
5,000
6,000
7,000
8,000
9,000
10,000
Hình I.1: GNP thu nhập bình quân đầu người 2013 (đơn vị: US$)
Trang 2Để giải thích cho
sự khác biệt giữa tốc độ phát triển kinh tế của các nhóm nước, một cách lý giải phổ biến trong xã hội
là do các ngoại tác tích cực từ các nhóm khu vực của các nước tương ứng hoặc do các nước có xuất phát điểm khác nhau dẫn đến sự chênh lệch trong quá trình phát triển Trái với nhận thức chung này, cần lưu ý rằng, điều này đã không xảy ra trong quá khứ Trong thực tế, số liệu hình I.2, rõ ràng cho thấy rằng sự phát triển kinh tế tính theo GNP bình quân đầu người trong năm 1960 của tất cả các quốc gia này là khá giống nhau và so sánh với mức độ mà tất cả các nước, ngoại trừ Malaysia, có mức GNP bình quân đầu người trên 200 USD Không chỉ vậy, thu nhập bình quân đầu người của Korea chỉ có khoảng
130 USD trong năm 1966, và thậm chí còn thấp hơn so với Cambodia vào thời điểm đó
Nguồn: World Bank, chỉ số GNI bình quân đầu người thế giới.
http://search.worldbank.org/data?qterm=GNP+%2F+person&language=EN&format=
0
50
100
150
200
250
300
350
400
Hình I.2: GNP thu nhập bình quân đầu người 1966 (đơn vị: US$)
Trang 3Từ vấn đề đã được nêu bên trên, câu hỏi được đặt ra là : "Yếu tố nào dẫn đến sự phát triển kinh tế đặc biệt cho một số quốc gia trong ba thập kỷ qua về tăng GNP thu nhập bình quân đầu người (Korea tăng khoảng 65 lần, Thailand 13 lần và 10 lần đối với Malaysia) Bên cạnh đó, trong cùng thời kỳ các nước châu Á và Nam Á khác, chỉ có một sự gia tăng khiêm tốn từ 2 đến ít hơn 5 lần?" Những yếu tố anh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế có thể là rất nhiều, từ xã hội đến văn hóa,
từ chính sách kinh tế và cải thiện tính hiệu quả của bộ máy quản lý, vị trí địa lý cũng như những cơ hội thuận lợi Tuy nhiên thay vì tập trung vào tất cả các yếu tố này lại với nhau, trong tiểu luận này chỉ đề cập đến yếu tố là vốn lao động của quốc gia, để xem xét mối quan hệ giữa yếu tố vốn lao động với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 4B Vốn nhân lực và tăng trưởng phát triển kinh tế:
I Quan điểm, lý thuyết:
Trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển truyền thống được phát triển bởi Robert Solow và Trevor Swan trong những năm 1950, sản lượng đầu ra của một nền kinh tế tăng lên là do ứng với quy mô đầu vào lớn hơn của yếu tố vốn và lao động (tất
cả các yếu tố đầu vào là yếu tố kinh tế) Các biến phi kinh tế như vốn nguồn nhân lực hay biến sức khỏe con người không có chức năng trong các mô hình này Hơn nữa, nền kinh tế theo mô hình nêu trên phù hợp với quy luật giảm dần theo quy mô Với giả định trên, mô hình tăng trưởng tân cổ điển này ý nói rằng nền kinh tế nếu như tăng quy mô về vốn đến mức nào đó thì tăng trưởng kinh tế chậm lại, và để giữ nền kinh tế phát triển phải tận dụng sự phát triển không ngừng của tiến bộ công nghệ Tuy nhiên, thực tế là hoàn toàn trái ngược, đặc biệt đối với các nền kinh tế đang phát triển Đông
Á đã được đề cập trước, nơi mà các nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng trong hơn ba thập
kỷ qua Điều này có nghĩa là ngoài yếu tố công nghệ còn có nhiều yếu tố khác đóng vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế nhưng không được nêu trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Giải quyết các vấn đề trên, vào giữa những năm 1980, một mô hình mới do Paul Romer phát triển được gọi là "mô hình tăng trưởng nội sinh" Bằng cách mở rộng các khái niệm về vốn bao gồm vốn nguồn nhân lực, mô hình tăng trưởng nội sinh lập luận rằng luật của hiện tượng doanh thu biên giảm dần theo quy mô có thể không đúng như trong trường hợp các nền kinh tế Đông Á Một cách nói đơn giản, điều này
có nghĩa là nếu công ty đầu tư vào vốn, và cũng sử dụng lao động được đào tạo lành nghề, khi đó không chỉ lao động có năng suất cao bên cạnh đó khả năng sử dụng đồng vốn và công nghệ cũng hiệu quả hơn Điều này sẽ dẫn đến một cái gọi là "Hicks trung tính" chuyển đổi trong hàm sản xuất và do đó có thể gia tăng chứ không phải giảm lợi nhuận để đầu tư Nói cách khác, công nghệ và vốn nguồn nhân lực là hai "nội hàm" của mô hình
Thật vậy, sự xuất hiện của "mô hình tăng trưởng nội sinh" với nguồn vốn con người đã nâng cao sự hiểu biết về tăng trưởng kinh tế cũng như giải thích một phần cho những cuộc phát triển thần
Trang 5kỳ của các nền kinh tế Đông
Á Tuy nhiên,
để chỉ ra các luận điểm rằng liệu nguồn nhân lực tốt có là một trong những yếu tố quan trọng để giải thích cho sự phát triển kinh tế cho các nước châu Á trong khu vực, ta cần phân tích các dữ liệu thực tế trên các số liệu của các nước được đề cập trước đó Mặc dù có nhiều biến có thể đại diện cho vồn nguồn nhân lực của một quốc gia, nhưng để giữ cho bài phân tích đơn giản đồng thời nắm bắt được sự tác động cơ bản của biến vốn nguồn nhân lực, bài viết này sẽ tập trung vào tổng số tỷ lệ biết chữ và tuổi thọ trung bình
II Bằng chứng thực tế:
Kiểm tra tổng số dữ liệu tỷ lệ biết chữ các nhóm nước khác nhau của châu
Á trong hình II.3, ngay cả trong những năm 1960 khi hầu hết các nước đang ở giai đoạn phát triển kinh tế tương đương nhau thì các nước đang phát triển ở Đông Á đã vượt xa nhóm ASIA LCD’s và các nước đang phát triển khu vựcNam Á Trong thực
tế, tổng số tỷ lệ biết chữ ở các nước Đông Á trong những năm 1960 đã cao đến 71% cho Korea, 68% cho Thailand và thậm chí cả Malaysia có tỷ lệ trên 50% Mặt khác, các nước châu Á kém phát triển và các nước đang phát triển Nam Á, tổng số tỷ lệ biết chữ là thấp chỉ có 9% cho Nepal, 15% cho Pakistan và Cambodia có tỷ lệ người biết chữ 38%
Nguồn: số liệu World Bank, Báo cáo phát triển thế giới 1982 (Oxford University
Press, 1982).
Bang
lade
sh
Cam
bodi a
Lao
PDR Nepa
l In a
Pakis
tan
Kore
a, D
em R
ep.
Mal
aysia
Thai nd 0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Hình I.3: Tỷ lệ người biết chữ năm 1960 và 2012 (đơn vị: %)
1960 2012
Trang 6Phân tích yếu tố sức khỏe tính theo tuổi thọ trung bình trên
ba nhóm nước trong khu vực châu Á, như tỷ lệ biết chữ, số liệu thể hiện tương tự giữa các nhóm nước Ví dụ, trong những năm 1960, tất
cả các nước châu Á kém phát triển và các nước đang phát triển Nam
Á có tuổi thọ trung bình dưới 45 năm với Bhutan, và Nepal có con số thậm chí còn nhỏ hơn nhiều so với 40 năm như hình I.4 Mặt khác, trong cùng thời kỳ, các nước Đông Á đã có tuổi thọ trung bình cao hơn 50 năm, ở Korea có một con số hơn 54 năm, 53 năm đối với Malaysia và 51 năm đối với Thái Lan Trong năm 2012, mặc dù các nước kém phát triển châu Á và các nước Nam Á nâng cao tuổi thọ của họ đến một mức độ xấp xỉ 60 năm ít nhất là trong trường hợp của Bangladesh, Bhutan, India và Pakistan, tuy nhiên, khu vực Đông
Á đang phát triển tuổi thọ trung bình quốc gia, trong cùng thời điểm, lớn rất nhiều
Bangladesh Bhutan Cambodia Lao PDR Nepal India Pakistan Malaysia Korea, Rep Thailand 0
20 40 60 80 100
Hình I.4: Tuổi thọ trung bình năm 1960 và 2011 (đơn vị: năm)
1960 2011
Nguồn: số liệu World Bank, Báo cáo phát triển thế giới 1984 (Oxford
University Press, 1984)
III Phân tích vấn đề từ các số liệu trên:
Trang 7Trước hết, các dữ liệu thực nghiệm cho thấy một cách rỏ ràng, trong ba thập kỷ qua, ba nhóm nước châu Á được xem xét trong bài viết này bắt đầu với tình hình kinh tế không chênh lệch nhau nhiều nhưng cho đến thời gian hiện tại, có một sự khác biệt đáng kể trong con số thống kê trên tài khoản thu nhập bình quân đầu người của họ Các nước đang phát triển Đông Á đang vượt ra ngoài tầm với của các nước châu Á kém phát triển cũng như các nước đang phát triển Nam Á về mặt phát triển kinh tế
Thứ hai, mặc dù trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người tất cả các nhóm nước khá tương đồng trong những năm 1960 Tuy nhiên, trong số liệu về trình độ và sức khỏe của nguồn nhân lực, giữa các nhóm nước này đã có sự khác biệt rất lớn Ngay cả trong những năm 1960, và cho đến nay, các nước phát triển Đông Á vẫng đang là mục tiêu hướng đến của cả hai nhóm nước, quốc gia châu Á kém phát triển cũng như các nước đang phát triển Nam Á đối với chất lượng nguộn nhân lực Riêng về trình độ nguồn nhân lực, trong những năm gần đây, dân số nước Đông Á gần như hoàn toàn xóa được nạn mù chữ trong khi các nước còn lại vẫn còn một chặng đường dài
Thứ ba, dựa trên các phân tích bày ở trên, rõ ràng là sự đột phá của phát triển kinh tế ở Đông Á vào những năm 1980 xảy ra cùng với các khoản vốn đầu tư vào nguồn nhân lực hợp lý để phát triển tốt về trí thức và sức khỏe,nhờ đó mà họ bắt đầu có được những động lực dể tăng trưởng và phát triển bền vững trong những năm 1960 hoặc thậm chí sớm hơn
IV.Các yếu tố dẫn đến sự khác biệt về vốn nguồn nhân lực các quốc gia:
Như đã chứng minh ở trên, cơ sở nguồn nhân lực phát triển tốt của một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế và về mặt này, các nước Đông Á đã vượt xa các nhóm nước còn
Trang 8lại ở châu Á ngay cả ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh
tế Một câu hỏi về vấn đề chính sách công trong bối cảnh này , là làm thế nào các nước Đông Á quản lý cơ sở nguồn nhân lực phát triển tốt hơn rất nhiều so với các nước kém phát triển châu Á và các nước đang phát triển Nam Á, ngay cả khi thu nhập bình quân đầu người cho tất cả các quốc gia là khá tương tự nhau trong giai đoạn trước Nói cách khác, trong những năm 1960, tất cả các nhóm của các quốc gia có thể được quan niệm là nền kinh tế như nhau, nhưng
về phát triển nguồn nhân lực , họ đã xa cách nhau Điều gì đã dẫn đến sự khác biệt trong việc phát triển nguồn nhân lực giữa các nhóm nước? Nghiên cứu này lập luận rằng đó là hướng ưu tiên của quốc gia và cam kết về nguồn lực thực tế dành cho ngành giáo dục
đã dẫn đến sự khác biệt trong vốn nguồn nhân lực giữa các nhóm nước Quan điểm này được hỗ trợ bởi các dữ liệu về các khoản đầu
tư của chính phủ bình quân đầu người trong giáo dục cũng như sức khỏe của các nước trong khu vực như thể hiện trong bảng I.1
Số liệu bảng I.1 rõ ràng cho thấy rằng trong những năm 1970 (hoặc sớm hơn), các chính phủ ở các nước kém phát triển châu Á và các nước đang phát triển Nam Á
đã chi tiêu một lượng ít ỏi của 40 cent tới 1,60 $ trên đầu người cho giáo dục Tuy nhiên cùng giai đoạn đó, trong điều kiện kinh tế tương đồng, các chính phủ Đông Nam Á đã đầu tư một khoản tiền lớn hơn nhiều cho giáo dục trên bình quân đầu người khoảng $ 9,10 ở Korea và cao nhất là 16,40 $ tại Malaysia Đối với các lĩnh vực y tế, mặc dù đầu tư bình quân đầu người trong những năm 1970 (hoặc sớm hơn) đã phần nào hẹp hơn, một nước như Malaysia vẫn chi tiêu trên $ 5,5 người so với chỉ 12 cent Pakistan như trong bảng I.1 Nhưng cho đến nay, sự chênh lệch trong chi tiêu bình quân đầu người trên cả giáo dục và y tế giữa các nước đang phát triển Đông Á với các nước kém phát triển châu Á và các nước Nam Á là đáng kinh ngạc, chi tiêu cho giáo dục trên cơ sở bình quân đầu người ở Hàn Quốc nhiều hơn 26 lần so với Ấn Độ và Pakistan và gấp 95 lần của Campuchia
Trang 9Các cuộc thảo luận trước đó dựa trên số liệu thực nghiệm được trình bày trong bảng I.1, rõ ràng ủng hộ quan điểm rằng, bằng cách của không ngừng đầu tư một khoản tiền lớn tiền ngay cả trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế các nước Đông Á đã cam kết đưa ra
ưu tiên cao cho giáo dục và ngành y tế so với các nước khác ở khu vực châu Á Tác động của các khoản đầu tư làm gia tăng về tỷ lệ biết chữ và cải thiện rõ rệt năm tuổi thọ trung bình làm tăng chất lượng vốn nguồn nhân lực từ đó dẫn đến thu nhập cao hơn bình quân đầu người và phát triển kinh tế
Trang 10C Thời kì đầu trong việc đầu tư nguồn nhân lực
Được sự chấp nhận của việc đầu tư nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế, một câu hỏi thích ứng được đặt ra rằng liệu khoảng thời gian thực hiện hoặc thời kì thai nghén của những khoản đầu tư này để phát sinh những tác động dự tính liên quan đến những công nhân trí thức lành nghề so với việc đầu tư cơ sở hạ tầng như đường xá, cao tốc và đập thủy điện Cần phải nhấn mạnh rằng, trong khi các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng thông thường có thể phải mất một khoảng thời gian dài để hoàn thành, thì thời gian tác động đối với đầu tư nguồn nhân lực có thể thậm chí lâu hơn nếu như buộc phải giả mạo kết quả Không những thế, trong khi có thể rút ngắn thời kì thai nghén đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua vay mượn hoặc viện trợ nước ngoài, ta cũng không thể áp dụng cho các khoản đầu tư nguồn nhân lực Dù cho với quy mô và tốc
độ đầu tư đối với nguồn nhân lực, vẫn cần một khoảng thời gian cố để hình thành một thế hệ lực lượng lao động được đào tạo và có tay nghề cao
Bảng IV.1 Chi tiêu bình quân đầu người vào các lĩnh vực giáo dục và y tế (đơn vị: US$), 1970 và 2000
Các nước châu Á kém phát triển
Các nước Nam Á đang phát triển
Các nước Đông Á phát triển
Nguồn: Tính toán dựa trên Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Phát triển Thế giới 1982
(Oxford University Press, 1982) và các chỉ số phát triển thế giới năm 2001 (Washington
Trang 11DC, 2001) Ngân hàng Phát triển Châu Á, chỉ số chính của các nước Châu Á và Thái Bình Dương đang phát triển (Oxford University Press) các vấn đề khác nhau.
Một điểm khác biệt quan trọng nữa giữa đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực là các phương thức đầu tư theo truyền thống trước đây đòi hỏi chi phí một lần trong khi các phương thức sau này đã ràng buộc các khoản đầu tư trên cơ sở suy rộng Ví dụ, một khi dự án đập thủy điện hoàn thành, nó sẽ tạo ra nguồn điện trong dài hạn mà không phát sinh thêm chi phí lớn trong tương lai Mặt khác, một hình mẫu thế
hệ công nhân được đào tạo sẽ kéo theo các khoản đầu tư vào nguồn nhân lực trên cơ
sở dài hạn Vì vậy, sự trở lại của việc đầu tư vào lĩnh vực xã hội là một đề xuất lâu dài, do đó, sự liên kết của nó đối với tăng trưởng kinh tế phải được đi sâu và phân tích trong khuôn khổ, với một quan điểm mang tính dài hạn hơn Đề xuất này cũng được tác giả chứng minh thực nghiệm đối với Pakistan trong hai nghiên cứu khác trước đó (Pasha, Hasan và cộng sự, 1996a, và 1996b) Dựa trên mô hình kinh tế lượng rộng lớn với 200 phương trình của Pakistan, Những phát hiện của các nghiên cứu này ám chỉ rằng một sự thay đổi trong ưu tiên đầu tư phát triển xã hội (ví dụ như ngành giáo dục)
sẽ gây ra những tác động tích cực lâu dài đối với tăng trưởng kinh tế với độ trễ khoảng
8 năm Kết quả của các nghiên cứu tiếp tục cho rằng, trong ngắn hạn và trung hạn, tác động của việc đầu tư nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế đất nước có thể không mấy nổi bật, tuy nhiên, sau giai đoạn quan trọng tám năm tăng trưởng kinh tế đất nước nó sẽ trở nên đáng kể và bền vững đối với chính sách công?
D Kết luận
Trước tiên, nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng trong ba thập kỉ qua, ngoài những nước khác, các quốc gia châu Á với nguồn nhân lực lành mạnh trên diện rộng (như các quốc gia đang phát triển ở Đông Á) đã tăng trưởng nhanh hơn so với các quốc gia khác ở châu Á không có yếu tố này Như vậy, kết quả thực nghiệm này
đã chứng minh mối liên hệ giữa một nguồn nhân lực khỏe mạnh và sự tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, dưới những dự đoán kinh tế tương tự so với từng quốc gia (như các quốc gia đang phát triển ở Đông Á) đã được đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực và trong lĩnh vực y tế tính trên bình quân đầu người so với các quốc gia đang phát triển ở châu Á Kết quả này chứng minh một