1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 ôn thi vào 10

29 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có kỹ năngviết được đoạn văn nghị luận văn học tốt, học sinh phải nhận biết được các yếu tố của lập luận, lựa chọn luận cứ và cách đặt vấn đề, triển khai và kết luận tronglập luận giố

Trang 1

A- ĐẶT VẤN ĐỀ:

I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Mục tiêu tổng quát của chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở được cụthể hóa trong việc dạy của thầy, việc học của trò ở ba phương diện: Kiến thức, kĩnăng và thái độ, tình cảm Về kĩ năng chương trình nhấn mạnh: “Trọng tâm củaviệc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năngnghe, nói, đọc viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng

sơ giản về bước đầu phân tích, cảm nhận các tác phẩm văn học” Để giúp các

em có được những kĩ năng nghe, nói, đọc viết tiếng Việt cần thông qua việc rènnhững kĩ năng để các em có thể vận dụng vào bài viết của mình không lệ thuộcvào sách vở, những bài văn mẫu

Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở gồm có ba phần Văn học,Tiếng Việt, Tập làm văn Với mỗi phần có những yêu cầu riêng và đòi hỏi ngườigiáo viên khi dạy cần nắm bắt được những đặc trưng của từng phần để cóphương pháp dạy học sao cho phù hợp Với học sinh lớp 9 để trình bày đoạn vănnghị luận văn học với các em cũng không phải là mới bởi thực tế ở lớp 8 các emcũng đã được làm quen Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy thời lượng cáctiết học dành cho việc rèn kĩ năng tạo lập đoạn văn nói chung và đoạn văn nghịluận văn học nói riêng còn hạn chế Để tạo lập được một văn bản thì trước hếthọc sinh cần nắm chắc các thao tác, kĩ năng dựng đoạn văn Với học sinh kĩnăng viết đoạn văn nghị luận của học sinh còn chưa thật thành thạo dẫn đến chấtlượng bài văn chưa cao Học sinh thường viết sơ sài, chung chung, lan man, vừathừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề, có em còn lúng túng, hành văn chưa mạchlạc, chặt chẽ, viết đoạn văn không theo cấu trúc nhất là đối với đối tượng họcsinh từ trung bình trở xuống Hơn nữa đây là những kĩ năng vô cùng quan trọngđòi hỏi học sinh phải viết tốt đoạn văn theo yêu cầu cụ thể để thi vào 10 THPTđạt điểm cao

Từ những lí do này làm cho tôi trăn trở, suy nghĩ mong muốn nâng caochất lượng dạy và học văn nói chung, rèn luyện kĩ năng tạo lập đoạn văn nghịluận văn học nói riêng cho các em ôn tập thi vào 10 Vì vậy tôi đã chọn đề tài

“Rèn kỹ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 ôn tập thi vào 10 THPT”

1

Trang 2

II- MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA

Giúp học sinh ôn tập, củng cố kiến thức kỹ năng về hình thức, nội dungđoạn văn, hiểu được khái niệm đoạn văn, từ ngữ chủ đề, quan hệ giữa các câutrong đoạn văn và cách trình bày nội dung một đoạn văn

Có kĩ năng viết được đoạn văn mạch lạc, đủ sức làm sáng tỏ vấn đề nghịluận

Từ việc xây dựng được đoạn văn, học sinh sẽ hình thành được kĩ năng viếtđoạn, tách đoạn trong khi tạo lập văn bản, giải quyết đề thi vào 10

Là dịp để trao đổi với đồng nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ

III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN

Phạm vi: Đề tài được thực hiên dạy ôn tập thi vào 10 THPT môn Ngữ văn Đối tượng: Học sinh lớp 9

Thời gian: Học kỳ I - Năm học 2019-2020

IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Sử dụng tổng hợp các phương pháp, biện pháp nghiên cứu sau:

Khảo sát thực tiễn và đối chứng

Sưu tầm tài liệu liên quan

Các phương pháp quan sát, thống kê, tổng kết rút kinh nghiệm

Hệ thống hóa và phân giải các vấn đề lí luận liên quan

Trang 3

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.

1 Một số yêu cầu cơ bản

* Kỹ năng:Theo cách hiểu hiện nay, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến

thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Vậy kỹ năng là sự thựchiện dễ dàng, chính xác một hành động có tính phức hợp và khả năng thích ứngtrong các điều kiện đang thay đổi Thuật ngữ kỹ năng được sử dụng phổ biếntrong dạy học làm văn, dùng để đánh giá chất lượng của các hoạt động và quachất lượng của hành động mà đánh giá trình độ nắm kiến thức của học sinh

* Kỹ năng của đoạn văn: Từ cách hiểu về kỹ năng nói chung và vận

dụng vào thực tế vể việc viết các đoạn văn nghị luận văn học Để có kỹ năngviết được đoạn văn nghị luận văn học tốt, học sinh phải nhận biết được các yếu

tố của lập luận, lựa chọn luận cứ và cách đặt vấn đề, triển khai và kết luận tronglập luận giống như viết đoạn văn nghị luận Tuy nhiên đoạn nghị luận văn học,như đã nói ở trên, cần dựa trên tác phẩm văn học, xoay quanh tác phẩm văn học

Do đó học sinh phải xác định được luận cứ, tính chất và hiệu lực của các luận cứ

từ đó có sự lựa chọn luận cứ phù hợp nhằm đưa ra nhận xét, đánh giá xác đáng

về tác phẩm văn học Xây dựng được lập luận bằng các phương pháp giải thích,

so sánh, chứng minh, bình luận Học sinh phải luyện tập thực hành các bài tậpviết đoạn nghị luận văn học thường xuyên để thể hiện được phong cách cá nhân,bày tỏ được quan điểm, suy nghĩ, rung cảm của mình trước cái hay, cái đẹp củatác phẩm

2 Các loại đoạn văn Nghị luận văn học

Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Đoạn văn tóm tắt tác phẩm

Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm

Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật

Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ

Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ

II- KHẢO SÁT THỰC TẾ:

1- Thực trạng khi chưa thực hiện đề tài:

Trong bộ môn Ngữ văn, tập làm văn bao giờ cũng được coi là một phân mônkhô, khó và khổ …và trong các kiểu bài Tập làm văn ở THCS thì có một kiểubài thuộc loại khó, thậm chí là rất khó đối với học sinh đó là nghị luận Phânmôn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng ở mức độ cao để tạo lập văn bản Nếukhông nắm chắc lý thuyết cơ bản, không có vốn hiểu biết thực tế sâu sắc, không

Trang 4

được rèn luyện kĩ năng viết đoạn, viết bài thường xuyên học sinh dễ sinh ra tâm

lý lười học, lười suy nghĩ Cũng vì thế mà học sinh ỷ lại vào sách tham khảo,sách bài văn mẫu rất nhiều

Thực tế cho thấy đề thi vào 10 môn Ngữ văn, phần viết đoạn văn với sốđiểm nhiều, nội dung yêu cầu khá đa dạng Để học sinh viết được tốt đoạn vănngười thầy phải tạo cho học sinh biết chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến tạo cho họctrò một “con đường” để các em tự học, tự ôn tập Cần rèn cho học sinh có đượcnhững kĩ năng, kĩ xảo khi viết đoạn văn hay làm bài văn Có như vậy học sinhmới tự tin, vững vàng đứng trước đề thi, không áp lực thi cử đạt kết quả cao,thành công

2- Khảo sát trước khi thực hiện đề tài

Khi thực hiện đề tài buổi ôn tập thi đầu tiên tôi tiến hành khảo sát học sinhbằng kiểm tra kiến thức về đoạn văn với học sinh (kiểm tra viết trực tiếp vàogiấy)

Câu 1: Tóm tắt “Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ” trong

một đoạn văn khoảng 10 đến 12 câu?

Câu 2: Hàng ngày nhớ chồng, vào buổi tối, Vũ Nương vẫn thường chỉ cái

bóng của mình in trên vách mà nói với con đó là cha Đản

Tại sao có thể nói đó chính là chi tiết nghệ thuật đặc sắc làm nên nội dungtác phẩm Hãy trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn khoảng 10 câu?Kết quả tiến hành khảo sát như sau:

Đi tìm hiểu nguyên nhân, tôi thấy sở dĩ có hiện tượng trên là vì :

- Học sinh chủ quan, dựa dẫm phụ thuộc vào tài liệu

- Khi viết đoạn văn thường không làm theo các bước mà tiện đâu, viết đấy

- Thời gian dành cho việc rèn luyện kĩ năng này còn hạn chế

- Kiến thức về văn học huy động để giải quyết vấn đề nêu trong đề bài chưađủ

Với những số liệu cụ thể trên, tôi nhận thấy cần phải tìm ra những biệnpháp phù hợp để học sinh thành thạo kĩ năng này Bởi chỉ khi có kĩ năng xây

Trang 5

dựng đoạn văn tốt các em mới có thể chủ động xây dựng được một văn bản hoànchỉnh, hay, hấp dẫn người đọc người nghe.

III- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1.Giải pháp 1 Củng cố kiến thức về đoạn văn:

Lý thuyết có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tạo dựng đoạnvăn Đây được coi là cơ sở, là nền tảng, là kim chỉ nam để xây dựng lên đoạnvăn đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức lôi cuốn, hấp dẫn Học sinhmuốn làm được bài văn, đoạn văn thì trước hết phải nắm bắt và hiểu được lýthuyết Vì vậy, giáo viên cần cho các em hiểu, khơi dậy ở các em khát khaochiếm lĩnh tri thức Từ việc hiểu vai trò của lý thuyết trong khi làm bài, học sinh

sẽ chủ động nắm chắc kiến thức trong sách giáo khoa, bên cạnh đó là nhữngkiến thức mở rộng do giáo viên cung cấp Điều này, giúp học sinh nắm bài dễdàng hơn

1.1 Khái niệm:

- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa

lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.

- Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề

Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại

nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượngbiểu đạt

Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai

thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn cónhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn

Để viết được đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp thì việcviết được câu chủ đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng (đây cũng là các kiểu đoạnvăn thường gặp khi các em thi vào lớp 10)

Bên cạnh câu chủ đề đoạn văn còn có từ ngữ chủ đề giáo viên hướng dẫnhọc sinh nắm được đặc điểm của từ ngữ chủ đề

Từ ngữ chủ đề : Là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc những từ ngữ

được lặp đi lặp lại nhiều lần( thường là các chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa)nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt trong ĐV

Ví dụ: Đoạn văn

Vẻ đẹp chung của 2 chị em Thúy Kiều được đại thi hào Nguyễn Du giới

thiệu thật ngắn gọn trong 4 dòng thơ đầu đoạn trích Chị em Thúy Kiều.(1) Chỉ

với 4 câu thơ (2 cặp lục bát), song tác giả đã giới thiệu được khá nhiều chi tiết

về gia đình, lai lịch, vị trí, của hai chị em cũng như tô đậm được nhan sắc của 2

Trang 6

chị em.(2) Họ là hai cô con gái đầu lòng rất xinh đẹp của nhà họ Vương mà

Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em (3)Hai chữ “tố nga”(chỉ người con gái đẹp)

mà tác giả sử dụng đã gợi ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp trong sáng, tròn đầy của

hai chị em.(4)Những hình ảnh ước lệ, ẩn dụ “mai cốt cách”, “tuyết tinh thần”

đã giúp ta hình dung hai nàng có cốt cách thanh cao như cây mai, phong tháitinh thần trắng như tuyết.(5) Câu thơ ý nói cả hai chị em Kiều đều mang vẻ đẹpduyên dáng thanh cao, trong trắng.(6)Câu thơ cuối khép lại như một lời bình

khái quát vẻ đẹp chung của hai nàng.(7)Thành ngữ “mười phân vẹn mười” chỉ

vẻ đẹp hoàn hảo của hai chị em nhưng “ mỗi người một vẻ”.(8)Nét riêng ấykhông chỉ là nhan sắc mà còn là phẩm chất riêng, số phận riêng của hai nàng.(9)Mới giới thiệu khái quát nhưng ta thấy được cảm hứng ngợi ca tài năng, nhansắc của con người đã tràn trề trong từng câu chữ.(10)

* Về nội dung của đoạn văn trên

- Đoạn văn trên đã trình bày cảm nhận về vẻ đẹp chung của hai chị em

Kiều được giới thiệu ở 4 câu thơ đầu đoạn trích Chị em Thúy Kiều

- Chủ đề của đoạn văn trên là Giới thiệu vẻ đẹp chung của hai chị emKiều Chủ đề này tập trung khái quát ở câu 1

- Đoạn văn trên có 3 phần;

+ Câu 1 là phần mở đoạn : Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạnvăn, gọi là câu chủ đề

+ Các câu tiếp theo là phần thân đoạn: Phần này triển khai đoạn văn, mỗicâu văn đề cập tới 1 biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạnvăn

+ Câu 10 là phần kết đoạn Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn

- Đây là đoạn văn có kết cấu đủ 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.Khi viết đoạn văn không phải bao giờ cũng nhất thiết có đủ 3 phần như vậy

* Về hình thức của đoạn văn trên

- Đoạn văn trên được viết giữa 2 dấu chấm xuống dòng chữ cái, đầu đoạnđược viết lùi vào 1 chữ và viết hoa

- Đoạn văn trên được tạo thành bằng 9 câu văn được liên kết với nhaubằng các phép liên kết hình thức: phép lặp, phép thế

1.2 Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn.

Đoạn văn diễn dịch:

Là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ đề mang ý nghĩakhái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội dung chi tiết cụthể ý tưởng của chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác

Trang 7

giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánhgiá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết

Mô hình:

(1): Câu chủ đề

… (2.3.4.5): Câu khai triển

Ví dụ: Đoạn văn diễn dịch trình bày cảm nhận về bốn câu thơ đầu đoạn trích “Cảnh ngày xuân” trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Bốn câu thơ đầu trong đoạn trích Cảnh ngày xuân trích trong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du đã tái hiện một bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong trẻo, tinhkhôi, tràn đầy sức sống.(1)Hai câu thơ đầu vừa gợi tả về thời gian, vừa mở ra

không gian của ngày xuân.(2)Hình ảnh“con én đưa thoi”rộn ràng bay lượn đó là

tín hiệu của mùa xuân.(3)Cánh én chao liệng rất nhanh như thoi đưa khiến ta cóthể cảm nhận trong đó cả nhịp điệu của thời gian.(4)Đặc biệt thời gian đã vào

những tháng cuối cùng của mùa xuân nhưng ánh sáng vẫn tràn ngập“thiều

quang”- ánh sáng trong trẻo gợi tả một không gian khoáng đạt, tinh khôi của tiết

trời mùa xuân.(5)Hai câu thơ sau, Nguyễn Du đã đặc tả bức họa mùa xuân vớinhững nét vẽ bằng ngôn từ tuyệt diệu.(6) Không gian mở ra khoáng đạt, trongtrẻo.(7)Trên nền màu xanh non của cỏ, điểm xuyết một vài bông hoa hoa lêtrắng thanh khiết đang e ấp khoe sắc, khoe hương.(8)Sắc màu hài hòa của cỏ hoagợi sự tươi tắn thanh khiết, tinh khôi Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng từ

“điểm” làm cho cảnh vật trở nên có hồn, chứ không tĩnh tại.(9)Chữ trắng được

thêm vào đảo lên trước động từ và danh từ tạo sự bất ngờ, mới mẻ khiến nét vẽcảnh sắc trở nên có hồn, tinh khôi, thanh thoát.(10)

Mô hình đoạn văn trên:

- Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý nghĩa của đoạn gọi là câu chủ đề

- 9 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề

- Đây là đoạn văn giải thích có kết cấu diễn dịch

Đoạn văn qui nạp:

Là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi tiết, cụ thểđến ý khái quát Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Các câu trên được trình bày bằngthao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung

- Mô hình:

1

Trang 8

“Kết thúc đoạn trích “Cảnh ngày xuân”trích trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du là hình ảnh thiên nhiên đã “ Tà tà bóng ngả về tây”.(1)Cảnh vât hiệnlên vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, mộtnhịp cầu nhỏ bắc ngang.(2)Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngảbóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh nao nao.(3)Tuynhiên, không khí rộn ràng nhộn nhịp của lễ hội đã không còn nữa, tất cả đangnhạt dần, lặng dần.(4)So với bốn câu thơ đầu trong đoạn trích, ở những câu thơnày, thời gian và không gian đã thay đổi: sáng và chiều tà, lúc vào hội và lúc tanhội nhưng điều quan trọng hơn là cảnh đã nhuốm màu tâm trạng.(5)Thời gianđược nhắc tới trong đoạn thơ là buổi hoàng hôn – thời gian muôn thuở gợi

buồn (6)Chữ“thơ thẩn”diễn tả tâm trạng bần thần, tiếc nuối kết hợp với hàng loạt các từ láy giảm nghĩa“thanh thanh, nao nao, nho nhỏ”không chỉ diễn tả sắc thái của cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng của con người.(7)Từ“nao nao” gợi

dòng nước lững lờ, quanh co và gợi cả cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về mộtngày xuân đang còn và sự linh cảm về điều sắp xảy ra.(8)Đó là cuộc gặp gỡ vớinấm mồ Đạm Tiên – một ca nhi tài sắc mà yểu mệnh và hặp chàng thư sinh KimTrọng (9)Tả cảnh ngụ tình như thế đã khéo, chuyển ý như thế lại càng tự nhiên.(10)Như vậy, với từ ngữ chọn lọc, tinh tế, bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo, sáucâu thơ đã gợi tả khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về trong buổi hoànghôn vừa đẹp vừa buồn”.(11)

Mô hình đoạn văn:

Mười câu đầu triển khai cảm nhận về cảnh thiên nhiên và tâm trạng của

con người trong đoạn cuối bài thđoạn trích “Cảnh ngày xuân”, từ đó khái quát

vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện ý chính của đoạn văn Đây là đoạn văn phân tích thơ có kết cấu quy nạp

Đoạn văn tổng phân hợp:

Là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậcmột, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc haimang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khai triển được thực hiện bằngthao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm

5

Trang 9

tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêmgiá trị của vấn đề

- Mô hình:

(1): Câu khái quát bậc 1 (2.3.4.5): Câu khai triển (6): Câu khái quát bậc 2

Ví dụ: Đoạn văn tổng- phân – hợp

“Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”(trích trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du) đã diễn tả rất xúc động và sâu sắc nỗi nhớ Kim Trọng và cha

mẹ của Thúy Kiều nơi đất khách quê người”.(1)Trong dòng cảm xúc, Thúy Kiều

đã nhớ tới Kim Trọng trước, cha mẹ sau, điều này vừa phù hợp với qui luật tâm

lí, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du.(2)Đối với Kiều, mối tình đầuvới chàng Kim như vẫn còn da diết, cháy bỏng trong lòng nàng.(3)Nhớ về KimTrọng, nàng về kỉ niệm gắn với lời thề đôi lứa, nàng “tưởng” tức là hình dung, làsống trong kỉ niệm đêm trăng hôm nào hai người cùng uống chén rượu thềnguyền son sắt, thề chung thủy với nhau đến trọn đời: “Đinh ninh hai miệng mộtlời song song”.(4)Nàng cũng tưởng tượng Kim Trọng đang không hay biết gì,đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích.(5)Trong cảnh ngộ nơi đất khách quêngười, nàng càng thấm thía hơn nỗi cô đơn, đau đớn, xót xa của bản thân.(6)

“Tấm son” có thể hiểu là tấm lòng son sắt, nỗi nhớ thương Kim Trọng khôngbao giờ nguôi quên, vừa có thể hiểu là tấm lòng son của Thúy Kiều đã bị dậpvùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa cho được.(7)Bốn câu thơ tiếp theo là nỗinhớ thương cha mẹ của Thúy Kiều.(8)Nàng hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựacửa ngóng trông ngóng tin tức của nàng, chữ “xót” không chỉ thể hiện nỗi nớ màbao chứa cả nỗi đau, tình thương đến nghẹn ngào.(9)Điều nàng day dứt nhất là

ai sẽ chăm sóc, phụng dưỡng mẹ cha và nàng tưởng tượng nơi quê nhà mẹ cha

đã già yếu.(10)“Cách mấy nắng mưa” gợi thời gian xa cách bao mùa mưa nắng,vừa nói lên được sức mạng tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật

và con người.(11)Bản thân Kiều đã hi sinh bản thân mình để gia đình được sumhọp, một mình nàng lưu lạc nơi đất khách quê người nhưng trong cảnh ngộ vô

6 1

Trang 10

cùng đáng thương ấy, nàng không hề nghĩ đến bản thân mà vẫn đau đáu nghĩcho người khác.(12) Có thể nói nàng là một người tình thủy chung, một ngườicon hiếu thảo và một người có tấm lòng vị tha đáng trân trọng.(13)

* Mô hình đoạn văn: gồm 13 câu

- Câu đầu (tổng) nêu nhận định khái quát về nỗi nhớ của Kiều

-11 câu tiếp (phân) Phân tích để chứng minh nỗi nhớ cha mẹ và KimTrọng của Thúy Kiều

- Câu cuối (hợp) khái quát khẳng định nỗi nhớ của Kiều nơi đất khách quêngười không nghĩ gì cho bản thân đó là thể hiện sự thủy chung, người con hiếuthảo đáng trọng

- Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng - phân -hợp

Đây là những đoạn văn cơ bản thường gặp đề thi vào 10, ngoài ra giáo viên có thể cung cấp cho học sinh hiểu thêm về 1 số đoạn văn khác nữa đó là:

Đoạn văn móc xích: Trình bày theo kiểu sắp xếp ý nọ tiếp ý kia theo lối

ý sau móc vào ý trước để bổ sung giải thích cho ý trước

- Mô hình:

1 2 3 4 5 6

Đoạn văn song hành: Trình bày theo kiểu sắp xếp các ý ngang nhau,

không có hiện tượng ý này bao quát ý kia hoặc ý này móc vào ý kia

- Mô hình:

1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6

Từ việc hiểu được các cách trình bày đoạn văn,học sinh dễ dàng viết đượcđoạn văn Đây là việc chúng ta làm thường xuyên đặc biệt là đối với học sinhcuối cấp

1.3 Liên kết trong đoạn văn:

Để viết được đoạn văn hay lôi cuốn người đọc người nghe, đồng thời đảmbảo các yêu cầu về nội dung và hình thức đoạn văn đó cần phải đảm bảo sự liênkết Trong chương trình Ngữ văn lớp 9 các em mới được cung cấp đầy đủ, chitiết về vấn đề này Chính vì vậy, để viết đoạn văn có sự liên kết cần sử dụng cácphương tiện để liên kết Vậy nên chăng giáo viên chúng ta cần cung cấp cho họcsinh kiến thức cơ bản nhất về liên kết để các em dễ dàng hơn khi dựng đoạn văn

a.1/Liên kết nội dung: Được thể hiện

*Liên kết chủ đề

- Các câu trong đoạn văn có liên kết chủ đề khi chúng cùng bàn về một vấn đề,

cùng một sự vật, sự việc hoặc về một số sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau

Trang 11

a.2/Liên kết hình thức:

-Liên kết hình thức được hiểu là phương thức sử dụng các phương tiệnngôn ngữ để thể hiện sự liên kết nội dung giữa các câu trong đoạn văn, giữa cácphần trong văn bản Giáo viên cần củng cố cho các em những kiến thức này

(1) Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ(Phép lặp)

Để liên kết một câu với câu đứng trước nó ta có thể lặp lại trong câu ấy những từ ngữ đã xuất hiện ở câu đứng trước.

(2)Liên kết các câu bằng cách thay thế từ ngữ(Phép thế)

Khi các câu trong đoạn văn cùng nói về một người, một vật, một việc, ta cóthể dùng đại từ hoặc những từ ngữ đồng nghĩa thay thế cho những từ ngữ đãdùng ở câu đứng trước để tạo mối liên hệ giữa các câu và tránh lặp từ nhiều lần

(3)Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối(Phép nối)

Để thể hiện mối quan hệ về nội dung giữa các câu trong bài, ta có thể liênkết các câu ấy bằng quan hệ từ hoặc một số từ ngữ có tác dụng kết nối như:nhưng, tuy nhiên, thậm chí, cuối cùng, ngoài ra, mặt khác, trái lại, đồng thời…Ngoài ra giáo viên có thể mở rộng hơn kiến thức về liên kết đoạn văn với

phương thức dùng từ ngữ cùng trường liên tưởng Gọi tắt là phương thức liên

tưởng sử dụng trong câu sau những từ ngữ thuộc cùng 1 trường liên tưởng (theoquan hệ nghĩa) với từ ngữ nào đó ở câu trước, nhằm thể hiện liên kết chủ đềhoặc liên kết lô gic

Nói tóm lại, muốn xây dựng được đoạn văn người viết phải có sự hiểu biết

về đoạn văn, một số kiến thức liên quan đến đoạn văn

2 Giải pháp 2 Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn:

Để viết đoạn văn thành công, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tỉ mỉ theotừng bước, kiên trì rèn luyện trong từng bài thì mới đem lại kết quả tốt đẹp Họcsinh khi làm bài thường có tâm lí đọc đề là làm luôn mà bỏ qua các bước quantrong dẫn đến đoạn văn viết khi thì thiếu ý, khi thì không đảm bảo cấu trúc.Chính vì vậy chúng ta cần hướng dẫn học sinh tuân thủ các bước xây dựng mộtđoạn văn hoàn chỉnh:

Trang 12

Ví dụ cho đề bài yêu cầu sau: Viết đoạn văn khoảng 12 đến 14 câu theo cách lập luận tổng-phân – hợp phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc Trong đoạn văn có sử dụng một câu chứa thành phần tình thái và một phép lặp để liên kết câu ( ghi chú rõ thành phần tình thái và từ ngữ dùng làm phép lặp đó ).

Bước 1: Đọc kĩ đề xác định yêu cầu của đề:

Căn cứ vào yêu cầu của đề bài, xác định rõ đoạn văn yêu cầu trình bày theo

cách nào (đoạn văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp hay đoạn văn tổng- phân –

hợp…), nội dung vấn đề là gì (giải thích nhan đề, phân tích nhân vật, phân tích chi tiết nghệ thuật trong đoạn thơ hay phân tích, cảm nhận khổ thơ… ) Đề bài

có yêu cầu về Tiếng Việt hay không, hình thức đảm bảo như thế nào về số câu…

Với bài tập trên:

+ Yêu cầu nội dung là phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe

tin làng chợ Dầu theo giặc trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân.

+ Yêu cầu về hình thức: là viết đoạn văn theo mô hình tổng – phân –hợp với

số câu là 12 đến 14 câu

+ Yêu cầu về Tiếng Việt: Có thành phần tình thái và một phép lặp

Bước 2: Xác định câu chủ đề, từ ngữ chủ đề cho đoạn văn

Câu chủ đề là câu nêu ý của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt quantrọng Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xác địnhcâu chủ đề

Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵn câu chủ đề, cónhững đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câuchủ đề, có đề lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề.Với những bài yêu cầu viết đoạn văn chưa có câu chủ đề cần viết câu chủ đềđảm bảo các yêu cầu đã trình bày ở trên

Với đề bài trên giáo viên cần xác định câu chủ đề có thể là trong phàn đềbài coi đó là câu chủ đề bậc 1( câu tổng), câu chủ đề bậc 2( câu hợp) mở rộngnâng cao từ nhân vật ông Hai đó là đại diện cho những người nông dân trongthời kỳ kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, lòng yêu nước sâu sắc

Bước 3: Tìm ý cho đoạn:

Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiếnthức đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết Nếu

bỏ qua thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý

+ Tìm ý cho đoạn văn (với đề bài trên)

Đây là đoạn văn phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai khinghe tin làng chợ Dầu theo giặc Vậy muốn tìm ý cho đề bài này cần trả lời các

Trang 13

cau hỏi:

Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tìnhhuống nào? Tình cảm ấy có đặc điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể trong thời kì đầu củacuộc kháng chiến chống Pháp? Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cáchsinh động, thú vị tình yêu làng, yêu nước của ông Hai ( tâm trạng, cử chỉ, hànhđộng, lời nói…)?

- Cần làm rõ diễn biến tâm trạng của ông Hai khi vừa nghe tin làng ChợDầu theo giặc ( khi mới nghe tin và khi về đến nhà) Tác giả đặt nhân vật ôngHai vào tình huống làng theo giặc để bộc lộ sâu sắc tình yêu làng, yêu nước củaông, một người luôn yêu làng, tự hào về làng quê của mình lại bị nhận tin làngmình theo giặc ngay tại nơi tản cư

- Khi nghe tin đột ngột làng Chợ Dầu của ông theo giặc, tâm trạng ôngHai đã được diễn tả rất cụ thể: nỗi đau đớn trở thành sự ám ảnh nặng nề ngự trịtrong tâm trí ông

+ Ông Hai sững sờ “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân tưởngnhư đến không thở được”

+ Khi trấn tĩnh được phần nào,ông cố chưa tin cái tin ấy nhưng nhữngngười tản cư kể rành rọt quá làm ông không thể không tin

- Tâm trí ông chỉ còn tin dữ xâm chiếm, nó trở thành một nỗi ám ảnh daydứt không nguôi

Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn:

Trên cơ sở các ý vừa tìm, người viết dùng phương tiện ngôn ngữ (lời văn củamình) để viết đoạn văn Căn cứ vào yêu cầu về kiểu diễn đạt để xác định vị trícâu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn Ngoài ra còn đảm bảo các yêu cầu

về ngữ pháp (nếu có) Khi viết đánh số thứ tự cho mỗi câu văn để định hướngđược số câu đề giới hạn (Cho phép xê dịch trong khoảng ± 2 câu) Vận dụng đadạng các kiểu câu khi viết đoạn văn để đoạn văn sinh động, hấp dẫn

Ví dụ với đề bài trên có thể viết đoạn văn như sau:

Đến với truyện ngắn “Làng”, Kim Lân đã diễn đạt rất thành công diễnbiến tâm trạng đau đớn, dằn vặt của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo

giặc.(1)Có lẽ, tác giả đã đặt nhân vật vào một tình huống gay cấn để qua đó bộc

lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông Hai.(2)Khi mới nghe tin về làng,

Trang 14

ông chết lặng vì đau đớn, tủi hổ như không thể điều khiển được cơ thể của mình:

“Cổ ông lão … không thở được”.(3)Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, nhìn lũcon tủi thân mà “nước mắt ông cứ tràn ra”.(4)Mấy ngày sau đó, ông không dám

ra ngoài, cái tin ấy choán hết tâm trí ông, trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp

“một đám đông túm lại ông cũng để ý, dăm ba tiếng cười nói xa xa ông cũngchột dạ”.(5)Tình yêu làng, yêu nước của ông còn được thể hiện sâu sắc trongcuộc xung đột nội tâm khi bà chủ nhà nói ý đuổi gia đình ông đi.(6)Ông rơi vàotình trạng khủng hoảng, tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn.(7)Ông thoáng có ý nghĩ

“hay trở về làng” nhưng ông cũng gạt nhanh bỏ ý nghĩ ấy bởi “ làng đã theoTây, về làng là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nôlệ”.(8)Ông buộc phải đưa ra sự lựa chọn, ông đã tự xác định một cách đau đớnnhưng dứt khoát: “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”.(9) Tìnhcảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ cảm động nhất khi ông chútnỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.(10)Ông nhắc con về tấm lòngthủy chúng đối với kháng chiến, khẳng định tình cảm sâu nặng, bền vững và rấtthiêng liêng ấy.(11) Tóm lại, với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vậttinh tế, Kim Lân đã thể hiện chân thực, cảm động tình yêu làng, yêu nước, tinhthần kháng chiến của ông Hai, của người nông dân Việt Nam thời kì đầu củacuộc kháng chiến chống Pháp.(12)

Trong đoạn văn trên sử dụng thành phần tình thái “ có lẽ” ở câu 2 và phép

lặp các từ “ông”, “Kim Lân”

Bước 5: Đọc lại và sửa chữa.:

Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem đoạn văn đã đáp ứng đượcnhững yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức, yếu tố tiếng việt đã gạchchân theo yêu cầu chưa nếu thấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại

Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoànchỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề Bên cạnh kết hợpnhiều thao tác lập luận, đoạn văn nghị luận cần kết hợp các phương thức biểuđạt như biểu cảm tự sự, miêu tả mà các em đã được học Tuy nhiên không phảihọc sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài Điều này giáo viênphải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh Đặc biệt đểhình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyệnqua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp

3.Giải pháp 3 Đa dạng hóa các dạng bài tập

3.1.

Dạng bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

Ngày đăng: 24/06/2022, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình:                    - skkn rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 ôn thi vào 10
h ình: (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w