1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TIỂU LUẬN Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam

51 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Tác giả Đoàn Xuân Thy
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Thị Uyên
Trường học Đại học ueh
Chuyên ngành Chứng khoán có thu nhập cố định
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tổng quan về trái phiếu Việt Nam (3)
    • 1.1 Khái niệm (3)
    • 1.2 Phân loại (3)
    • 1.3 Các phương thức phát hành trái phiếu (3)
  • 2. Tổng quan thị trường trái phiếu Việt Nam (4)
    • 2.1 Khái niệm (4)
    • 2.2 Các loại thị trường trái phiếu (4)
    • 2.3 Vai trò của thị trường trái phiếu Việt Nam (4)
  • 3. Tổng quan nền kinh tế Việt Nam (5)
    • 3.1 Nguy cơ lạm phát và những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô (5)
      • 3.1.1 Lạm phát đến từ cuộc khủng hoảng kinh tế (5)
      • 3.1.2 Lạm phát đến từ dịch Covid 19 và cuộc xung đột Nga - Ucraina (7)
    • 3.2 Hiệu quả kinh tế thấp (9)
  • 4. Thị trường trái phiếu Việt Nam (13)
    • 4.1 Cơ sở pháp lý (13)
    • 4.2 Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam (15)
    • 4.3 Cấu trúc thị trường trái phiếu Việt Nam (17)
      • 4.3.1 Tổ chức phát hành (17)
      • 4.3.2 Nhà đầu tư (19)
      • 4.3.3 Thị trường sơ cấp (19)
      • 4.3.4 Thị trường thứ cấp (20)
      • 4.3.5 Hoạt động phát hành (22)
    • 4.4 Quy mô phát hành và cơ cấu kì hạn của thị trường trái phiếu (27)
      • 4.4.1 Quy mô phát hành (27)
      • 4.4.2 Cơ cấu kỳ hạn trái phiếu (29)
    • 4.5 Các phương thức phát hành (30)
    • 4.6 Sản phẩm phái sinh tín dụng trên thị trường trái phiếu (30)
  • 5. Đánh giá chung thị trường trái phiếu Việt Nam (32)
  • 6. Nguyên nhân thị trường trái phiếu việt nam chưa phát triển hiệu quả (36)
    • 6.1 Môi trường kinh tế không thuận lợi (36)
    • 6.2 Những bất cập của chính thị trường trái phiếu Việt Nam (36)
  • 7. Giải pháp các giai đoạn (39)
  • Tài liệu tham khảo (0)

Nội dung

Tổng quan về trái phiếu Việt Nam

Khái niệm

Trái phiếu là chứng khoán nợ, trong đó người vay cam kết trả một khoản tiền nhất định cho người cho vay trong thời gian cụ thể Người vay có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương hoặc các công ty, trong khi người cho vay là chủ nợ của tổ chức phát hành trái phiếu.

Phân loại

 Phân loại theo chủ thể phát hành: trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp

 Phân loại theo hình thức trả lãi: trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu có lãi suất bằng không.

 Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành: trái phiếu cấp cao và trái phiếu cấp thấp.

 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu: trái phiếu ghi danh và trái phiếu vô danh

Trái phiếu được phân loại theo hình thức đảm bảo thành nhiều loại, bao gồm trái phiếu đảm bảo, trái phiếu hữu dụng công ty, trái phiếu thế chấp, trái phiếu đảm bảo bằng tài sản thế chấp, trái phiếu đảm bảo theo thiết bị, và trái phiếu đảm bảo bằng tài sản Ngoài ra, còn có trái phiếu không đảm bảo, trái phiếu thường, trái phiếu khả hoán và trái phiếu chuyển đổi.

Các phương thức phát hành trái phiếu

Phát hành đại chúng, hay còn gọi là phát hành chứng khoán ra công chúng, là quá trình phát hành chứng khoán có thể chuyển nhượng và được bán rộng rãi cho một số lượng lớn nhà đầu tư Trong đó, một tỷ lệ nhất định phải được dành cho các nhà đầu tư nhỏ, và khối lượng phát hành cần đạt một mức tối thiểu nhất định.

Phát hành riêng lẻ là hình thức công ty phát hành chào bán chứng khoán cho một nhóm nhà đầu tư nhất định, thường là các tổ chức như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí, với mục tiêu nắm giữ lâu dài Hình thức này đi kèm với những điều kiện hạn chế, không được phát hành rộng rãi ra công chúng.

* So sánh điểm khác nhau giữa phát hành riêng lẻ và phát hành đại chúng

Phát hành riêng lẻ Phát hành đại chúng nhà đầu tư đã được chọn lựa thể tham gia mua chứng khoán.

Công ty chỉ cần làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư.

Công ty phải thông qua một tổ chức trung gian – Sở giao dịch chứng khoán để bán được chứng khoán cho các nhà đầu tư.

Chỉ cần một bản IOU giữa công ty và nhà đầu tư, trong đó xác lập các điều khoản thỏa thuận.

Phải qua các bước, thủ tục, đảm bảo các điều kiện theo yêu cầu của Sở giao dịch và Nhà nước.

Chứng khoán bán cho các nhà đầu tư không cần đồng nhất, tùy theo công ty thỏa thuận với các nhà đầu tư mà có sự khác nhau.

Chứng khoán bán ra phải có sự đồng nhất, không phân biệt giữa các nhà đầu tư.

Chi phí phát hành thấp Chi phí phát hành cao.

Tổng quan thị trường trái phiếu Việt Nam

Khái niệm

Thị trường trái phiếu là không gian giao dịch mua bán trái phiếu giữa các nhà đầu tư, tổ chức phát hành và trung gian môi giới Tại đây, các tổ chức phát hành sử dụng trái phiếu như một công cụ nợ để huy động vốn phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của họ.

Các loại thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu được chia thành nhiều loại phù hợp với đặc điểm, tính chất từng loại trái phiếu Hiện nay, có 5 loại thị trường chủ yếu:

- Thị trường trái phiếu Chính phiếu

- Thị trường trái phiếu Chính phủ bảo lãnh

- Thị trường trái phiếu Chính quyền địa phương

- Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

- Thị trường trái phiếu quốc tế

Vai trò của thị trường trái phiếu Việt Nam

Trái phiếu nổi bật với các đặc điểm và chức năng vượt trội so với các kênh huy động vốn đầu tư khác, chính vì vậy, chúng đã từ lâu giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.

Chính phủ có thể huy động vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư, giúp bù đắp thâm hụt ngân sách và thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả Điều này góp phần quản lý nền kinh tế vĩ mô một cách hiệu quả hơn.

Doanh nghiệp cần đảm bảo nguồn vốn ổn định và dài hạn, giúp tránh sự pha loãng quyền sở hữu Việc phát hành trái phiếu cũng có chi phí thấp hơn so với các phương án huy động vốn khác như vay ngân hàng hay phát hành cổ phiếu.

Đối với nhà đầu tư, việc lựa chọn trái phiếu mang lại lợi suất ổn định với mức rủi ro thấp hơn so với cổ phiếu Trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính hoặc phá sản, nhà đầu tư trái phiếu sẽ được ưu tiên nhận tiền lãi trước các chủ nợ khác.

Tổng quan nền kinh tế Việt Nam

Nguy cơ lạm phát và những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô

3.1.1 Lạm phát đến từ cuộc khủng hoảng kinh tế

Trong quá khứ, Chính phủ Việt Nam đã cố gắng duy trì sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, những thách thức từ kinh tế toàn cầu và bất ổn nội tại đã khiến việc đạt được cả hai mục tiêu này trở nên khó khăn Điều này dẫn đến việc Chính phủ phải liên tục điều chỉnh giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát Kể từ khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 9% và thu hút một lượng vốn nước ngoài lớn Tuy nhiên, do nền kinh tế chưa đủ khả năng hấp thụ lượng vốn này, lạm phát đã tăng cao.

Cụ thể, giá các mặt hàng thiết yếu tăng 29,4% năm 2007 và 24,6% trong 8 tháng đầu năm 2008, trong khi giá xăng tăng tương ứng 44% và 32,1%.

Hình 1: CPI và tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2002-2012

Trước áp lực lạm phát gia tăng, Chính phủ đã chuyển hướng từ tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát, cắt giảm mục tiêu GDP từ 9% xuống còn 6,5 - 7% và thực hiện 8 giải pháp đồng bộ Kết quả, CPI cuối năm 2008 giảm xuống còn 22,97%, tăng 19,89% so với năm 2007, trong khi tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,23% Tuy nhiên, những biện pháp này bộc lộ trục trặc trong chính sách điều hành vĩ mô, khi chất lượng tăng trưởng kinh tế vẫn thấp và thâm dụng vốn quá nhiều Sang năm 2009, Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng, với tín dụng tăng 37,7%, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 5,32% Mặc dù CPI năm 2009 không vượt quá 7%, các giải pháp kiểm soát lạm phát lại chỉ mang tính tạm thời, dẫn đến tình trạng lạm phát trở thành vấn đề lớn trong chính sách vĩ mô của năm 2010 và 2011.

Từ năm 2010, sự biến động của các yếu tố như tỷ giá hối đoái, giá vàng và giá dầu đã tác động mạnh đến điều tiết kinh tế vĩ mô Cán cân thương mại và ngân sách ngày càng thâm hụt, trong khi dự trữ ngoại hối giảm, dẫn đến việc chuyển hướng chính sách từ phát triển kinh tế sang kiềm chế lạm phát Các biện pháp thắt chặt tiền tệ được áp dụng, kết hợp với chính sách cắt giảm đầu tư công và chi tiêu nhằm kiểm soát tăng trưởng kinh tế.

Năm 2011, các chính sách thắt chặt tiền tệ như giảm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cho khu vực phi sản xuất và giảm đầu tư công đã giúp nền kinh tế có những dấu hiệu khả quan, với mức chi tiêu tăng trưởng giảm từ 7,5% xuống còn 6% Tuy nhiên, những biện pháp này vẫn chỉ mang tính tạm thời và chưa giải quyết triệt để nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.

Phân tích cho thấy Việt Nam vẫn thiếu các chính sách dài hạn để kiểm soát lạm phát hiệu quả Mỗi khi có dấu hiệu lỏng lẻo trong quản lý, lạm phát lại nhanh chóng gia tăng Nguyên nhân chính của tình trạng này là do hiệu quả kinh tế kém, điều này vẫn chưa được giải quyết triệt để Thực trạng này sẽ được trình bày chi tiết trong phần tiếp theo.

3.1.2 Lạm phát đến từ dịch Covid 19 và cuộc xung đột Nga - Ucraina

Hình 2: GDP và CPI giai đoạn 2012-2020

Trong giai đoạn 2012-2019, trước đại dịch Covid, nền kinh tế đã có sự tăng trưởng ổn định, với tốc độ tăng trưởng GDP tăng từ 5,25% vào năm 2012 lên 7,02% vào năm 2019.

Kể từ cuối năm 2019, sau cú sốc của đại dịch Covid-19, kinh tế toàn cầu đã chứng kiến sự gia tăng liên tục của lạm phát Xu hướng lạm phát cao này không chỉ xảy ra ở các nền kinh tế đang phát triển mà còn lan rộng đến nhiều khu vực của các nền kinh tế phát triển.

Mỹ, EU, cũng như nhiều nền kinh tế mới nổi (EM).

Năm 2021, lạm phát toàn cầu đạt 3,8%, mức cao nhất trong 10 năm qua Tại Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình tăng 4,7%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong gần 40 năm Lạm phát tiếp tục gia tăng, đạt 7% vào cuối năm 2021 và tiếp tục tăng lên 7,9% theo số liệu tháng 2/2022.

Nguyên nhân của lạm phát này đến từ các yếu tố:

Sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu và thiếu hụt nguồn cung do đại dịch đã gây ra nhiều khó khăn, bao gồm việc vận chuyển và đi lại gặp trở ngại, tình trạng thiếu lao động, cũng như thiếu vốn, dẫn đến việc cắt giảm năng lực sản xuất trong nhiều lĩnh vực.

Sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do đại dịch chưa được khắc phục, trong khi cuộc xung đột Nga-Ukraine từ cuối tháng 2/2022 đã làm trầm trọng thêm tình hình, gây áp lực lên nguồn cung và lạm phát Cuộc chiến này đã làm gián đoạn hoạt động vận tải biển và hàng không, đe dọa nguồn cung hàng hóa toàn cầu, khi Nga là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về năng lượng, ngũ cốc và kim loại Hệ quả là giá xăng, vật liệu xây dựng và gas đã tăng lên mức kỷ lục trong thập kỷ qua.

Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, Việt Nam vẫn duy trì được mức lạm phát thấp trong năm 2021, chỉ đạt 1.84%, mức thấp nhất trong 7 năm qua Thành công này có được nhờ vào các biện pháp kiểm soát hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế.

- Do Việt Nam có nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào, không phải phụ thuộc vào nhập khẩu nên sẽ không chịu rủi ro lạm phát quá lớn.

- Được hỗ trợ giá các dịch vụ trong thời gian giãn cách như: điện, nước, y tế, giáo dục,

Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ một cách thận trọng và linh hoạt, với mục tiêu duy trì tăng trưởng cung tiền ổn định ở mức 10-12% Đồng thời, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã giảm khoảng 1% so với năm trước, từ 23.200 xuống 22.900.

Lạm phát toàn cầu đang có dấu hiệu xấu đi, nhưng tại Việt Nam, nhờ vào sự hỗ trợ kịp thời và các chính sách tiền tệ hợp lý, lạm phát vẫn được kiểm soát tốt bởi Nhà nước.

Xung đột Nga - Ukraine vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là qua sự biến động giá xăng dầu, với 4 lần tăng giá liên tiếp từ đầu năm Để ứng phó, Phó Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá xăng dầu một cách linh hoạt, đảm bảo giá trong nước phản ánh sát diễn biến giá thế giới Việc sử dụng hợp lý Quỹ Bình ổn giá xăng dầu cũng được nhấn mạnh nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp và đời sống người dân, đồng thời ổn định thị trường cung cầu xăng dầu trong nước.

=> Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này có sự phát triển mạnh.

Trong bối cảnh có nhiều yếu tố bên ngoài tác động, Việt Nam đã triển khai các giải pháp và kế hoạch ứng phó kịp thời, giúp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Năm 2021, Việt Nam đạt vị trí thứ 5 về GDP trong khu vực Đông Nam Á, minh chứng cho sự nỗ lực vượt bậc trong phát triển kinh tế.

Hiệu quả kinh tế thấp

Hình 3: Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2006-2015

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công đáng kể trong thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO Vốn đầu tư toàn xã hội liên tục gia tăng, từ 616,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2008 lên 1.367,2 nghìn tỷ đồng vào năm 2015, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ và ấn tượng của nền kinh tế.

Hình 4: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2020

Trong giai đoạn 2016-2020, tổng vốn đầu tư xã hội đã tăng mạnh trên 10% mỗi năm, nhưng vào năm 2020, mức tăng giảm xuống còn 5% do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Đến năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt gần 2.900 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm 2020, đây là mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây.

Hình 5: Cơ cấu vốn đầu tư của Nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giai đoạn 1996-2015

( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam: Kinh tế 2015-2016)

Trong giai đoạn 2006-2015, cơ cấu vốn đầu tư Nhà nước tại Việt Nam có xu hướng giảm, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại tăng trưởng Sự thay đổi này phản ánh tích cực định hướng hội nhập kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO, đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển của các khu vực kinh tế này.

Hình 6: Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội khu vực nhà nước (%)34

Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội khu vực nhà nước đã có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phát triển kinh tế và chính sách đầu tư của nhà nước Việc cải thiện và tăng cường hiệu quả sử dụng vốn trong khu vực này là rất quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững Các số liệu cho thấy sự gia tăng trong vốn DTXH khu vực nhà nước, điều này cho thấy nỗ lực của chính phủ trong việc thúc đẩy đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh.

Trong giai đoạn 2016-2020, khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào chính sách thúc đẩy thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công Điều này nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã được kiểm soát.

Theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm

Năm 2020, tổng vốn đầu tư đạt 2.164,5 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn khu vực Nhà nước đạt 729 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 13% so với năm 2019 Đồng thời, vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 972,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 44,4% tổng vốn và tăng 3% so với năm trước.

2019 và khu vốn có đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 463,3 nghìn tỷ đồng chiếm 22,1% và giảm 3% so với 2019.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2021 tăng 3,2% so với năm 2020.

Mặc dù tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn duy trì ở mức cao, khoảng 60% trong năm 2021, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 2,58% Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư tại Việt Nam vẫn còn thấp, cần cải thiện để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Hình 7: Tăng trưởng GDP và chỉ số ICOR ở một số quốc gia giai đoạn 2011-2015

Quốc gia Giai đoạn Tăng trưởng

(Nguồn: Chuyên đề “Đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội VN so với các nước trong khu vực”)

Nền kinh tế Việt Nam hiện đang đối mặt với tình trạng phi hiệu quả cao, tương tự như nhiều quốc gia khác trong giai đoạn tăng trưởng mạnh Từ năm 2011 đến 2015, Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa và tập trung vào chương trình xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, cơ chế quản lý đầu tư còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng lãng phí nghiêm trọng và kế hoạch đầu tư chưa hợp lý, làm cho hệ số ICOR của Việt Nam ở mức cao Thông thường, ICOR của các quốc gia thường dao động trong khoảng 2-3, trong khi ICOR của Việt Nam và một số nước đang phát triển lại vượt mức này.

4 trong giai đoạn dài Điều này chứng tỏ rằng Việt Nam đang tăng trưởng nhưng lại thiếu bền vững do tập trung vốn vào đầu tư.

Hình 8: Chỉ số ICOR và Vốn đầu tư/GDP ở Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội cho giai đoạn 2016 - 2020 lên tới gần 10.600.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 32-34% GDP Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5-7% và cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, việc huy động nguồn vốn này là rất cần thiết Tuy nhiên, việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn do ngân sách thâm hụt, bội chi lớn và nợ công gia tăng, tạo áp lực lớn trong việc trả nợ Do đó, việc sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư và giảm thiểu ICOR là điều cấp bách.

Thị trường trái phiếu Việt Nam

Cơ sở pháp lý

Hệ thống văn bản pháp lý cho thị trường trái phiếu Việt Nam đã được hoàn thiện dần theo sự phát triển của thị trường này, bắt đầu với Nghị định 72 được ban hành vào năm 1994, quy định về trái phiếu.

Vào ngày 26-04-1994, loại trái phiếu Chính phủ đầu tiên được phát hành, bao gồm tín phiếu kho bạc ngắn hạn dưới 1 năm và trái phiếu kho bạc có thời hạn dài hơn.

Trái phiếu công trình và trái phiếu Chính phủ tại Việt Nam chủ yếu được phát hành bằng đồng Việt Nam, do Bộ Tài chính quản lý Nghị định 141/2003/NĐ-CP đã giới thiệu hình thức đấu thầu cho trái phiếu Chính phủ, cho phép tín phiếu kho bạc được đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước và trái phiếu kho bạc qua thị trường chứng khoán, đánh dấu bước đầu tiên trong việc xác định giá trái phiếu theo cơ chế thị trường Thị trường trái phiếu Việt Nam đang phát triển theo xu hướng toàn cầu, khi Nghị định 52/2006/NĐ-CP cho phép mọi loại hình doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường tài chính.

Việc phát hành trái phiếu quốc tế đã được điều chỉnh từ Nghị định 23/CP ngày 22/03/1995, chỉ cho phép trái phiếu Chính phủ, ngân hàng thương mại quốc doanh và doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, Nghị định 53/2009/NĐ-CP ngày 4/6/2009 đã mở rộng đối tượng phát hành trái phiếu, cho phép tất cả doanh nghiệp Việt Nam tham gia Hình thức phát hành trái phiếu có thể có hoặc không có Chính phủ bảo lãnh, với yêu cầu giá trị phát hành tối thiểu là 500 triệu USD cho trái phiếu Chính phủ và 100 triệu USD cho trái phiếu doanh nghiệp Điều này tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế và đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường trái phiếu.

Luật chứng khoán số 70/2006/QH11, được Quốc hội ban hành vào ngày 29/6/2006, cùng với Luật số 62/2010/QH12 đã sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán, bao gồm cả thị trường trái phiếu Mặc dù Luật chứng khoán ra đời sau khi thị trường trái phiếu đã hoạt động, nhưng nó vẫn giữ vị trí pháp lý cao nhất trong việc quản lý các hoạt động này.

Thông tư 17/2013/TT-NHNN quy định về quản lý ngoại hối đối với việc phát hành trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh Nghị định 153/2020/NĐ-CP gần đây đã thay thế nghị định trước đó, quy định về chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước cũng như ra thị trường quốc tế Thông tư này sẽ hướng dẫn thủ tục đăng ký hạn mức phát hành trái phiếu quốc tế cho doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm cả thủ tục đăng ký và thay đổi khoản phát hành Bên cạnh đó, thông tư cũng đề cập đến các quy định quản lý ngoại hối liên quan đến khoản vay nước ngoài thông qua phát hành trái phiếu quốc tế theo quy định hiện hành.

Thông tư số 107/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính, ban hành ngày 21/12/2020, hướng dẫn giao dịch mua lại có kỳ hạn trái phiếu Chính phủ từ ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước Để tăng cường tính răn đe và làm cơ sở xử phạt các vi phạm liên quan đến trái phiếu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 128/2021/NĐ-CP, sửa đổi một số điều của Nghị định số 156/2020/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, tập trung vào phát hành và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cũng như phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng.

Kể từ năm 2011, Bộ Tài chính đã ban hành 04 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 09 thông tư hướng dẫn liên quan đến phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp.

Hệ thống văn bản pháp lý cho thị trường trái phiếu Việt Nam đã được xây dựng và hoàn thiện, với khung pháp lý phát triển đồng bộ theo từng giai đoạn thị trường và cam kết hội nhập quốc tế Mỗi Nghị định ban hành đều kèm theo Thông tư hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể huy động vốn Thị trường trái phiếu Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong nền kinh tế, góp phần vào nỗ lực phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ.

Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam

● Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam

Hình 9: Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2021

Thị trường trái phiếu Việt Nam bao gồm nhiều loại như tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ tiền gửi và các chứng khoán nợ khác Trước khi gia nhập WTO, thị trường này phát triển chậm với quy mô rất nhỏ, vốn hóa thị trường trái phiếu chỉ dưới 8% GDP Tuy nhiên, từ sau khi gia nhập WTO vào năm 2006, thị trường trái phiếu Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể.

Trong 5 năm gần đây, thị trường trái phiếu Việt Nam có tốc độ tăng trưởng trung bình 46% mỗi năm Theo báo cáo Thống kê năm 2020, thị trường trái phiếu đã tăng trưởng vượt trội, điển hình quy mô thị trường tăng trưởng giai đoạn 2017-

2021, tăng từ 4,93% GDP (2017) lên đến 16,6% GDP (2021).

Mặc dù thị trường trái phiếu Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, nhưng quy mô của nó vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong GDP so với các nước khác Cuối năm 2020, tỷ trọng thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đã vượt qua Philippines (8,9%) và Indonesia (2,8%), nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (22,7%) và Malaysia (54,3%) Điều này cho thấy thị trường trái phiếu Việt Nam còn yếu kém và chưa phát huy hết tiềm năng trong việc đóng góp vào sản lượng kinh tế.

Hình 10: Quy mô TPDN so với các nước trong khu vực năm 2020

Cấu trúc thị trường trái phiếu Việt Nam

Trên thị trường trái phiếu, có sự tham gia huy động vốn của 4 chủ thể phát hành chính:

Bộ Tài chính đã ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước thực hiện việc phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm mục đích bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước và thanh toán nợ gốc cho các khoản nợ đến hạn, theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Quản lý nợ công.

Các ngân hàng chính sách như Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh nhằm thực hiện các chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn cho ngân sách địa phương.

- Doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

Hình 11: Cơ cấu phát hành trái phiếu Việt Nam năm 2020

Trong xu thế phát triển gần đây, trái phiếu doanh nghiệp đã chiếm hơn nửa giá trị phát hành, trở thành kênh huy động vốn lớn cho doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, giúp giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng và vốn cổ phần Theo báo cáo thường niên, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trên thị trường sơ cấp năm 2020 đạt hơn 466.826 tỷ đồng, tăng 41,3% so với năm 2019, với nhà phát hành chủ yếu là các doanh nghiệp bất động sản và ngân hàng thương mại Năm 2020 cũng ghi nhận 4 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế với tổng giá trị đáng kể.

Vào năm 2021, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ghi nhận sự bùng nổ với tổng số vốn huy động đạt 623.616 tỷ đồng, tăng 34,9% so với năm 2020 Phương thức phát hành chủ yếu thông qua các đại lý phát hành, bao gồm công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại, đóng vai trò tư vấn và phân phối trái phiếu Đặc biệt, nhóm Tài chính - Ngân hàng dẫn đầu với tỷ lệ phát hành chiếm 42% tổng giá trị.

Hình dưới đây minh họa 10 nhà phát hành trái phiếu có giá trị lớn nhất năm2020:

Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay chủ yếu thu hút các tổ chức tài chính lớn như ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, và các công ty bảo hiểm Kể từ khi thị trường trái phiếu chuyên biệt ra đời, số lượng nhà đầu tư đã tăng đáng kể Tuy nhiên, nhìn chung, thị trường này vẫn chủ yếu là sân chơi của các ngân hàng lớn và một số quỹ đầu tư nước ngoài.

Thị trường trái phiếu tại Việt Nam gặp khó khăn do số lượng ngân hàng và tổ chức có tiềm lực tham gia còn hạn chế Ngay cả những ngân hàng đủ mạnh cũng chỉ tham gia để đảm bảo tính thanh khoản hoặc khi các kênh đầu tư khác không hiệu quả Đối với nhà đầu tư nước ngoài, tính thanh khoản là yếu tố quan trọng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Họ thường giữ thái độ thận trọng, bởi cơ hội bán trái phiếu trong trường hợp bất trắc là rất ít Điều này lý giải cho sự thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường lớn trong lĩnh vực trái phiếu tại Việt Nam.

Việt Nam có nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực quốc doanh, với trái phiếu đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho các khoản đầu tư Theo Bộ Tài chính, vốn huy động từ phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2021 đạt gần 320 nghìn tỷ đồng, tương đương 98% kế hoạch đề ra, cho thấy sự gia tăng vai trò của trái phiếu trong nền kinh tế Trong 12 năm qua, hơn 2,47 triệu tỷ đồng đã được huy động cho Ngân sách nhà nước thông qua hơn 2.600 phiên đấu thầu tại HNX, với tỷ lệ thành công đạt 60-70% Đối với trái phiếu doanh nghiệp, năm 2020, khối lượng phát hành đạt trên 466.826 tỷ đồng, tăng 41,3% so với năm 2019, trong đó phát hành riêng lẻ chiếm 93,5%.

Trên thị trường sơ cấp, bên cạnh trái phiếu trả lãi định kỳ, còn xuất hiện các sản phẩm trái phiếu không trả lãi định kỳ Sự đa dạng hóa này bao gồm nhiều kỳ hạn phát hành, từ 3 tháng đến 3 năm, 5 năm, 7 năm và 10 năm.

Trong suốt 15, 20 và 30 năm qua, việc phát hành trái phiếu chính phủ đã nâng cao khả năng huy động vốn cho Ngân sách nhà nước, đồng thời tái cơ cấu danh mục trái phiếu theo hướng bền vững Điều này cũng góp phần hình thành đường cong lãi suất chuẩn trên thị trường trái phiếu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế.

Thị trường trái phiếu Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây, mặc dù không phổ biến như thị trường cổ phiếu Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia khác, thị trường trái phiếu thứ cấp vẫn còn hạn chế Đối với trái phiếu Chính phủ, hoạt động giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cần được đánh giá một cách tổng quan.

Tại Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM, hoạt động giao dịch trái phiếu Chính phủ được chia làm 2 giai đoạn: từ 2000 - 2002 và từ năm 2003 đến nay.

Trong giai đoạn 2000-2002, trái phiếu Chính phủ là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, mặc dù số lượng trái phiếu niêm yết rất hạn chế, chỉ khoảng 40 loại Chủ sở hữu trái phiếu có xu hướng mua và nắm giữ lâu dài hơn là giao dịch trên thị trường, dẫn đến hoạt động giao dịch giá trị thấp Kết quả là, giá trị giao dịch bình quân trong giai đoạn này chỉ đạt khoảng 4% giá trị trái phiếu Chính phủ được niêm yết.

Từ năm 2003, số lượng trái phiếu niêm yết tăng lên đã thúc đẩy giao dịch, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ, khi Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM bỏ giới hạn tỷ lệ nắm giữ và biên độ dao động giá Điều này đã làm tăng mạnh giá trị và khối lượng giao dịch Kể từ năm 2004, việc các công ty chứng khoán triển khai nghiệp vụ Repo đối với trái phiếu cũng góp phần đáng kể vào sự gia tăng giao dịch Tuy nhiên, khối lượng trái phiếu giao dịch qua phương thức khớp lệnh ngày càng thu hẹp so với giao dịch thỏa thuận, dẫn đến việc toàn bộ trái phiếu được chuyển sang phương thức giao dịch thỏa thuận từ năm đó.

Vào năm 2005, khối lượng và giá trị giao dịch trái phiếu Chính phủ đã tăng lên Để khắc phục tình trạng phân tán giao dịch, Bộ Tài chính đã phê duyệt quyết định số 86/QĐ-BTC vào ngày 15/01/2008, nhằm phát triển thị trường trái phiếu chuyên biệt tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội Mục tiêu là tăng tính thanh khoản và xây dựng đường cong lãi suất chuẩn, từ đó giải quyết các vấn đề của thị trường trái phiếu Ngày 16/05/2008, theo quyết định số 352/QĐ-UBCK, 275 loại trái phiếu Chính phủ có thời gian đáo hạn từ 6 tháng trở lên đã được chuyển từ Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM sang Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, với tổng mệnh giá lên tới 43.300 tỷ đồng, chiếm khoảng 30% giá trị tổng số trái phiếu Chính phủ niêm yết tại đây Đây là bước đi quan trọng trong việc triển khai đề án xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ chuyên biệt.

Thị trường trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp đang gia tăng về quy mô và độ sâu, gần đạt tiêu chuẩn của các quốc gia có thị trường phát triển Tính đến tháng 8/2021, tổng dư nợ trái phiếu chính phủ tại HNX đạt 1,4 triệu tỷ đồng, gấp 8,7 lần so với năm 2009, trong khi thanh khoản trái phiếu đạt 10,8 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 29,7 lần so với năm 2009 Giá trị giao dịch Repos cũng tăng từ 6,5% lên 33% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường trong năm 2021 Đối với trái phiếu doanh nghiệp, đây là kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, với hai hình thức phát hành chính.

- Phát hành ra công chúng

Trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thị trường vốn, tạo ra kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp Sản phẩm này giúp giảm áp lực vay mượn từ ngân hàng thương mại, đồng thời hỗ trợ các ngân hàng huy động vốn trái phiếu để tăng cường vốn cấp hai Qua đó, trái phiếu doanh nghiệp góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực trong việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Quy mô phát hành và cơ cấu kì hạn của thị trường trái phiếu

Theo báo cáo mới nhất của Kho bạc Nhà nước, tính đến ngày 31/03/2022, tổng giá trị trái phiếu chính phủ phát hành đạt 41.282 tỷ đồng, tương ứng 39,3% kế hoạch quý 1/2022 (105.000 tỷ đồng) và 10,3% kế hoạch năm (400.000 tỷ đồng).

Hình 14: Quy mô phát hành TPCP Việt Nam giai đoạn 2016-2021

Quy mô phát hành trái phiếu chính phủ tại Việt Nam đang có xu hướng tăng, với giá trị từ 280 nghìn tỷ đồng năm 2016 lên 312 nghìn tỷ đồng năm 2020 Tuy nhiên, thị trường trái phiếu chính phủ vẫn còn nhỏ so với các nước trong khu vực Theo ADB, tính đến ngày 30/6/2021, giá trị lưu hành trái phiếu chính phủ chiếm 64% tổng khối lượng trái phiếu trên thị trường, nhưng chỉ đạt 30% GDP, thấp hơn nhiều so với các quốc gia như Trung Quốc (62,5%), Hàn Quốc (61,9%), Malaysia (66,5%), Singapore (74,4%) và Thái Lan (64,6%).

Trong tháng đầu năm 2022 giá trị giao dịch TPCP đạt trên 13 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 19% so với bình quân năm 2021.

Theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), giai đoạn 2018-2021 ghi nhận sự gia tăng đáng kể về giá trị trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành Hình ảnh dưới đây sẽ minh họa cho sự phát triển mạnh mẽ này kể từ năm 2018.

Thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận giá trị tăng trưởng mạnh mẽ, từ 224 nghìn tỷ đồng năm 2020 lên 722,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2021 Số lượng đợt chào bán đạt 1.033, gấp 2,8 lần so với năm trước, với quy mô trung bình 636 tỷ đồng mỗi đợt Đồng thời, có 4 đợt phát hành ra quốc tế với tổng giá trị lên đến 1,425 tỷ USD.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với quy mô tăng từ 4,93% GDP vào năm 2017 lên 16,6% GDP vào năm 2021 Trong đó, hình thức phát hành riêng lẻ vẫn chiếm ưu thế, đóng góp khoảng 90% tổng lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Hình 15: Giá trị trái phiếu doanh nghiệp từ 2018 đến 2021

Phát hành trái phiếu đã trở thành một giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp huy động vốn trung và dài hạn với lãi suất ổn định, phục vụ cho việc đầu tư sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh điều kiện vay vốn ngân hàng ngày càng khắt khe, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty bất động sản, đã chủ động sử dụng trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tài chính của mình.

4.4.2 Cơ cấu kỳ hạn trái phiếu

Thị trường trái phiếu Việt Nam chủ yếu bao gồm tín phiếu kho bạc (dưới 1 năm) và trái phiếu có kỳ hạn từ 2 đến 15 năm, với trái phiếu kỳ hạn 5 năm và 2 năm được nhà đầu tư quan tâm nhiều Sự ưa chuộng trái phiếu ngắn hạn phản ánh lo ngại về lạm phát và biến động lãi suất, đặc biệt rõ ràng trong các năm 2007 và 2009 khi trái phiếu Chính phủ trên 5 năm không thu hút được sự chú ý của nhà đầu tư Việc phát hành trái phiếu dài hạn gần như không thực hiện được trong bối cảnh này.

Trong những năm gần đây, sự phát triển của thị trường và nâng cấp cơ sở thống giao dịch đã giúp nhà đầu tư tiếp cận thông tin và thực hiện giao dịch nhanh chóng, thuận tiện hơn, từ đó đưa ra quyết định hiệu quả và tiết kiệm chi phí, thời gian Điều này đã dẫn đến sự cải thiện trong việc phát hành trái phiếu dài hạn Cụ thể, vào năm 2020, trái phiếu 10 năm chiếm 41% và trái phiếu 15 năm chiếm 39% trong tổng phát hành, minh họa rõ nét cho xu hướng này.

Hình 16: Tỷ trọng khối lượng phát hành TPCP năm 2020 theo kì hạn

Các phương thức phát hành

Trái phiếu hiện nay được phát hành qua ba kênh đó là: (1) bán lẻ, (2) đấu thầu và

Bảo lãnh phát hành đóng vai trò quan trọng trong thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp Hầu hết trái phiếu Chính phủ hiện nay được phát hành thông qua hình thức đấu thầu trên thị trường chứng khoán, với tín phiếu kho bạc được đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Đối với trái phiếu doanh nghiệp, phần lớn cũng được phát hành thông qua bảo lãnh phát hành, cho thấy sự quan trọng của cơ chế này trong việc đảm bảo tính thanh khoản và niềm tin của nhà đầu tư.

Sản phẩm phái sinh tín dụng trên thị trường trái phiếu

Sản phẩm phái sinh tín dụng là thỏa thuận giữa người bán rủi ro và người mua rủi ro, cung cấp bảo hiểm rủi ro cho nhà đầu tư và tổ chức phát hành, đồng thời tăng tính thanh khoản cho tài sản cơ sở Tuy nhiên, thị trường trái phiếu Việt Nam chưa phát triển và sản phẩm trái phiếu vẫn còn hạn chế, dẫn đến sự thiếu hụt sản phẩm phái sinh tín dụng Hiện tại, các sản phẩm phái sinh tín dụng chủ yếu chỉ dừng lại ở nghiệp vụ Repo, với kỳ hạn phổ biến là qua đêm, vài ngày hoặc vài tuần, và có thể kéo dài từ 1 đến 6 tháng.

Xu hướng giao dịch repo dự kiến sẽ gia tăng nhờ tính thanh khoản cao của trái phiếu chính phủ, đồng thời phản ánh xu hướng trên thị trường trái phiếu quốc tế Để nâng cao giá trị giao dịch repo tại Việt Nam và thúc đẩy hoạt động này thông qua việc tiết kiệm thời gian và chi phí, vào năm 2019, Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) đã công bố hợp đồng khung chuẩn cho giao dịch mua bán lại (repo) Điều này đã tạo ra bước chuyển tích cực cho giao dịch repo trên thị trường thứ cấp trái phiếu chính phủ và mở rộng sang thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng như các giao dịch tài chính khác.

Năm 2020, Bộ Tài chính đã ban hành hai Thông tư quy định giá dịch vụ trên thị trường chứng khoán, bao gồm cả giá giao dịch trái phiếu chính phủ, nhằm ứng phó với ảnh hưởng của dịch bệnh Những quy định này đã góp phần tích cực vào việc thúc đẩy giao dịch trên thị trường thứ cấp trái phiếu chính phủ.

Khối lượng giao dịch TPCP trên thị trường thứ cấp giai đoạn 2018-2020

Tổng giá trị giao dịch

Giá trị giao dịch bình quân phiên

Ngoài hai sản phẩm cơ bản là Outright và Repos, thị trường đã giới thiệu sản phẩm Bán kết hợp mua lại để đáp ứng xu thế phát triển mạnh của phiếu Hợp đồng tương lai (HĐTL) TPCP 5 năm bắt đầu hoạt động từ tháng 7/2019, và HĐTL TPCP 10 năm ra mắt vào tháng 6/2021, cung cấp thêm công cụ phòng vệ rủi ro cho nhà đầu tư Đặc biệt, vào tháng 7 năm 2021, sản phẩm mua lại có kỳ hạn TPCP từ nguồn NSNN tạm thời nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước đã chính thức được triển khai, tạo thêm kênh mới cho phép các chủ sở hữu bán lại TPCP cho KBNN, đồng thời mở ra cơ chế cho phép KBNN trở thành nhà đầu tư mua lại trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp.

Đánh giá chung thị trường trái phiếu Việt Nam

Thị trường trái phiếu, một phần quan trọng của thị trường chứng khoán, đóng vai trò thiết yếu trong việc huy động vốn cùng với tín dụng ngân hàng và cổ phiếu Trong thời gian qua, thị trường này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây.

2006 trở về sau Cho đến thời điểm này, thị trường trái phiếu Việt Nam đang tiến dần đến xu thế chung của thị trường quốc tế.

Hệ thống pháp lý liên tục được hoàn thiện nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả của thị trường trái phiếu Các Nghị định và Thông tư được ban hành và sửa đổi để phù hợp với sự phát triển của thị trường, mở rộng đối tượng tham gia phát hành trái phiếu và tăng cường sự đa dạng hóa Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, có hiệu lực từ ngày 26/11/2019, đã thiết lập khung pháp lý vững chắc cho cả thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu.

Phương thức phát hành trái phiếu tại Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, tiến gần hơn với cơ chế thị trường Trái phiếu Chính phủ đã bắt đầu thử nghiệm phát hành theo lô lớn, nhằm xây dựng đường cong lãi suất chuẩn Đây là một công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp định giá trái phiếu khi phát hành.

Hướng đi mới cho cơ chế giao dịch chủ đạo theo phương thức thỏa thuận, bao gồm giao dịch thỏa thuận điện tử và thỏa thuận thông thường, sẽ được thực hiện qua hình thức giao dịch từ xa hoặc giao dịch trái phiếu không sàn Cơ chế này giúp nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thị trường trái phiếu, từ đó tăng cầu trên thị trường Ngoài ra, phương thức thỏa thuận còn đáp ứng nhu cầu đầu tư trái phiếu đa dạng và góp phần giảm phí giao dịch cho các nhà đầu tư.

Trước năm 2011, thị trường trái phiếu chủ yếu chỉ có sản phẩm trái phiếu truyền thống Tuy nhiên, từ năm 2011 đến 2015, với sự hoàn thiện của khuôn khổ pháp lý, việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới đã trở thành ưu tiên nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư Hiện nay, bên cạnh trái phiếu lãi suất cố định, thị trường đã xuất hiện trái phiếu lãi suất thả nổi và trái phiếu không trả lãi định kỳ Đối với trái phiếu Chính phủ, đã có sự đa dạng hóa về kỳ hạn phát hành, từ tín phiếu kho bạc dưới 52 tuần cho đến các kỳ hạn dài 10, 15, 20 và 30 năm.

Vào cuối tháng 10/2005, Việt Nam đã thành công trong việc phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế, không chỉ giúp huy động nguồn lực phát triển vốn trong nước mà còn nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế Thành công này mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế.

Vào thứ sáu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã khẳng định vai trò quan trọng như một kênh dẫn vốn hiệu quả trong thị trường vốn Sự gia tăng số lượng tổ chức phi Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn sẽ giảm bớt áp lực lên hệ thống ngân hàng thương mại trong việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp.

Vào thứ bảy, Chính phủ đã thành công trong việc thử nghiệm phát hành trái phiếu ngoại tệ, điều này không chỉ giúp đa dạng hóa chủng loại hàng hóa mà còn tăng cung trên thị trường trái phiếu Nhờ đó, nhà đầu tư trong nước có thêm cơ hội để đa dạng hóa danh mục đầu tư, trong khi các tổ chức phát hành có khả năng tăng quy mô huy động vốn ngoại tệ thông qua việc tiếp cận thị trường vốn quốc tế.

Thứ tám, nghiệp vụ repo đã được triển khai nhưng chỉ mới dừng lại ở trái phiếu

Chính phủ vẫn chưa áp dụng quy định đối với trái phiếu doanh nghiệp, nhưng giao dịch Repo đã góp phần nâng cao tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu Thông qua việc sử dụng Repo, các nhà đầu tư có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, từ đó tiếp tục tham gia vào hoạt động mua bán chứng khoán.

Thị trường trái phiếu chuyên biệt đang dần hình thành, với trái phiếu được giao dịch tách biệt khỏi cổ phiếu, góp phần nâng cao tính thanh khoản cho thị trường này Quá trình hình thành thị trường trái phiếu chuyên biệt, bắt đầu bằng việc thiết lập hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ, cho thấy triển vọng phát triển các nhà tạo lập thị trường trong tương lai.

Mặc dù thị trường trái phiếu Việt Nam đã có những thành công nhất định và khẳng định vai trò là kênh huy động vốn hiệu quả, nhưng vẫn còn non trẻ Tính đến cuối năm 2021, quy mô vốn từ phát hành trái phiếu chỉ đạt 16.85% GDP, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Philippines, Trung Quốc và Thái Lan.

Thị trường trái phiếu Việt Nam còn non trẻ, thể hiện qua quy mô hạn chế và một số vấn đề tồn tại trong khu vực này.

► Đối với khu vực thị trường trái phiếu Chính phủ:

Trái phiếu Chính phủ chủ yếu được phát hành với kỳ hạn ngắn, bao gồm 2 năm, 3 năm và phần lớn là 5 năm, trong khi các đợt trái phiếu dài hạn rất hiếm Hơn nữa, ngày đáo hạn của nhiều trái phiếu Chính phủ không trùng nhau, gây khó khăn trong việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn.

Lãi suất trái phiếu Chính phủ được xác định qua đấu thầu, nhưng hiệu quả phát hành hiện tại chưa cao, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát không được kỳ vọng cao Lãi suất trần không đáp ứng được mong đợi của thị trường, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu thấp và nhiều phiên đấu thầu thất bại, với việc không có trái phiếu nào được phát hành do lãi suất đăng ký cao hơn mức lãi suất trần của Bộ Tài chính.

Hiện nay, số lượng thành viên đủ điều kiện tham gia đấu thầu trái phiếu đang gia tăng, nhưng tần suất tham gia của họ lại rất thấp Trung bình mỗi phiên đấu thầu chỉ có từ 1 đến 3 thành viên tham gia, và đôi khi không có thành viên nào Tình trạng này cho thấy sự thiếu hụt các nhà tạo lập thị trường, điều này ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường trái phiếu.

► Đối với khu vực trái phiếu doanh nghiệp

Nguyên nhân thị trường trái phiếu việt nam chưa phát triển hiệu quả

Ngày đăng: 24/06/2022, 10:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: CPI và tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2002-2012 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 1 CPI và tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2002-2012 (Trang 6)
Hình 3: Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2006-2015 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 3 Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2006-2015 (Trang 9)
Hình 4: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 4 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 (Trang 10)
Hình 5: Cơ cấu vốn đầu tư của Nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giai đoạn 1996-2015 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 5 Cơ cấu vốn đầu tư của Nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giai đoạn 1996-2015 (Trang 10)
Bảng trên cho thấy tính phi hiệu quả của nền kinh tế Việt nam đang ở mức cao tương tự với các nước khác trong thời kỳ tăng trưởng mạnh - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Bảng tr ên cho thấy tính phi hiệu quả của nền kinh tế Việt nam đang ở mức cao tương tự với các nước khác trong thời kỳ tăng trưởng mạnh (Trang 12)
Hình 9: Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2021 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 9 Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2021 (Trang 16)
Hình 10: Quy mô TPDN so với các nước trong khu vực năm 2020 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 10 Quy mô TPDN so với các nước trong khu vực năm 2020 (Trang 17)
Hình 11: Cơ cấu phát hành trái phiếu Việt Nam năm 2020 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 11 Cơ cấu phát hành trái phiếu Việt Nam năm 2020 (Trang 18)
Hình dưới đây minh họa 10 nhà phát hành trái phiếu có giá trị lớn nhất năm 2020: - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình d ưới đây minh họa 10 nhà phát hành trái phiếu có giá trị lớn nhất năm 2020: (Trang 19)
Hình 14: Quy mô phát hành TPCP Việt Nam giai đoạn 2016-2021 - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 14 Quy mô phát hành TPCP Việt Nam giai đoạn 2016-2021 (Trang 28)
Hình 16: Tỷ trọng khối lượng phát hành TPCP năm 2020 theo kì hạn - TIỂU LUẬN  Bộ môn Chứng khoán có thu nhập cố định Đề tài Nghiên cứu về Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 16 Tỷ trọng khối lượng phát hành TPCP năm 2020 theo kì hạn (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w