Điểm d khoản 2 Điều 87 Luật doanh nghiệp quy định rõ về việc xử lí cổ phần còn lại cho đợt phát hành như sau: “Trường hợp số lượng cổ phần dự định phát hành không được cổ đông và người n
Trang 1ths lª thÞ lîi *
1 Những quy định của Luật doanh
nghiệp năm 2005 về vốn và cổ phần của
công ti cổ phần
Hiện nay, các quy định về công ti cổ
phần (CTCP) trong Luật doanh nghiệp năm
2005 tuy có tiến bộ hơn Luật doanh nghiệp
năm 1999, đặc biệt là so với Luật công ti
năm 1990 song vẫn còn những hạn chế
nhất định
Tìm hiểu quy định về tài sản góp vốn
trong Luật doanh nghiệp năm 2005 có thể
thấy những hạn chế và bất cập của một định
nghĩa mang tính liệt kê, không những mâu
thuẫn với Bộ luật dân sự năm 2005 mà còn
nảy sinh một số vấn đề liên quan đến Luật sở
hữu trí tuệ Khoản 4 Điều 4 Luật doanh
nghiệp năm 2005 chỉ liệt kê các loại tài sản
góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng
đất, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản
khác ghi trong điều lệ công ti do thành viên
đóng góp để tạo thành vốn của công ti Như
vậy, Luật doanh nghiệp chỉ đề cập giá trị
quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và bí quyết
kĩ thuật Trong khi Luật sở hữu trí tuệ năm
2005 đã đưa ra hệ thống các đối tượng thuộc
quyền sở hữu công nghiệp rất rõ ràng bao
gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh
doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn
địa lí Quy định của Luật doanh nghiệp về tài sản góp vốn như vậy là chưa phù hợp với các luật đã nêu ở trên
Các quy định về điều kiện, trình tự thủ tục phát hành chứng khoán của Luật doanh nghiệp cũng có những nội dung không phù hợp với Luật chứng khoán Điểm d khoản 2 Điều 87 Luật doanh nghiệp quy định rõ về việc xử lí cổ phần còn lại cho đợt phát hành
như sau: “Trường hợp số lượng cổ phần dự định phát hành không được cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua đăng
kí mua hết thì số cổ phần dự kiến phát hành còn lại sẽ do hội đồng quản trị quản lí Hội đồng quản trị có thể phân phối số cổ phần
đó cho cổ đông của công ti hoặc người khác theo cách thức hợp lí với điều kiện không thuận lợi hơn so với những điều kiện đã chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua trung tâm giao dịch chứng khoán” Quy định này dễ dẫn đến cách hiểu là số cổ phần còn lại có thể được bán qua trung tâm giao dịch chứng khoán, nghĩa là phải tuân thủ Luật chứng khoán Trong khi đó, Luật chứng khoán năm
2006 quy định việc chào bán cổ phần ra công chúng của doanh nghiệp phải đảm bảo
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2các điều kiện, trình tự thủ tục riêng khác biệt
so với Luật doanh nghiệp năm 2005
Bên cạnh những hạn chế nêu trên, Luật
doanh nghiệp năm 2005 đôi chỗ còn thiếu và
không phù hợp với thực tế, có thể phân tích
một vài ví dụ như sau:
Thứ nhất, Luật doanh nghiệp năm 2005
quy định cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi
biểu quyết là tổ chức được Chính phủ uỷ
quyền Tuy nhiên, Luật chưa có quy định cụ
thể, do đó các doanh nghiệp muốn phát hành
loại cổ phần này sẽ thiếu những cơ sở pháp lí
cần thiết Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng
không quy định về thời hạn nắm giữ cổ phần
ưu đãi biểu quyết của tổ chức được Chính
phủ uỷ quyền Quy định tại khoản 3 Điều 78
có thể dẫn tới cách hiểu cổ phần ưu đãi biểu
quyết của tổ chức được Chính phủ uỷ quyền
không bị chuyển đổi mà tồn tại cùng với sự
tồn tại của công ti Sự ưu đãi này là không
cần thiết, vì thực tiễn Nhà nước không chỉ
dựa vào số cổ phần ưu đãi biểu quyết để có
thể chi phối hoạt động kinh doanh của CTCP
Thông qua việc nắm giữ một lượng lớn cổ
phần phổ thông, công ti nhà nước vẫn có khả
năng chi phối giám sát hoạt động kinh doanh
của CTCP Chính vì vậy, Luật doanh nghiệp
năm 2005 cần có những quy định bổ sung ví
dụ như: Cổ phần ưu đãi biểu quyết cần được
phát hành trong trường hợp nào, với những
điều kiện gì, tỉ lệ cổ phần ưu đãi phiếu bầu
được chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong tổng số cổ
phần phát hành và ngoài ra cũng cần quy
định điều kiện để chuyển đổi cổ phần ưu đãi
biểu quyết thành cổ phần phổ thông nhằm
tránh trường hợp dùng cổ phần ưu đãi biểu
quyết để thôn tính nhóm cổ đông khác
Thứ hai, khoản 11 Điều 4 giải thích: “Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và kí tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ti cổ phần” Mặt khác, Luật doanh nghiệp còn quy định một trong các cách thức
xử lí khi có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đăng kí mua là huy động người khác không phải cổ đông sáng lập nhận đủ số cổ phần đó và trường hợp này, người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ti Cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng kí đương nhiên không còn là cổ đông của công
ti (khoản 3 Điều 84) Hay quy định trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ti được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh nếu được đại hội đồng cổ đông chấp thuận, cổ đông sáng lập có thể chuyển số cổ phần phổ thông của mình cho người không phải cổ đông sáng lập và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ti (khoản 5 Điều 84) Nếu hiểu theo 2 cách xử lí trên thì cổ đông sáng lập không còn theo đúng nghĩa ban đầu nữa Ở đây, người góp đủ cổ phần và người nhận chuyển nhượng có thể không tham gia xây dựng, kí tên vào bản điều lệ của công ti nhưng vẫn có thể trở thành cổ đông sáng lập, vì vậy cách định nghĩa về cổ đông sáng lập trong trường hợp này không được toàn diện
Hiện nay, nhiều cổ đông sáng lập hoặc thành viên hội đồng quản trị của các CTCP trước khi lên sàn đã chuyển cổ phần sang tên người khác để phòng khi muốn mua bán sẽ không cần công bố thông tin Đây là điều pháp luật cần quan tâm và có những quy định bổ sung, có chế tài để đảm bảo tính
Trang 3minh bạch, công khai hoá thông tin liên quan
đến cơ cấu cổ đông của công ti cũng như liên
quan đến thay đổi sở hữu vốn của công ti để
không ảnh hưởng đến lợi ích của các nhà đầu
tư khi đọc bản cáo bạch của công ti vì thông
tin không còn chính xác
Thứ ba, quy định về việc cổ đông sở
hữu 5% tổng số cổ phần phải đăng kí với cơ
quan đăng kí kinh doanh (khoản 4 Điều 86
Luật doanh nghiệp): Quy định này thể hiện
được sự minh bạch của CTCP và sự quản lí
khắt khe của Nhà nước, đặc biệt là các công
ti thực hiện phát hành chứng khoán rộng
rãi Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu quy
định này có cần thiết với CTCP không phải
là công ti đại chúng và không thực hiện việc
phát hành chứng khoán rộng rãi theo luật
chứng khoán không? Quy định này sẽ càng
ít ý nghĩa, thậm chí gây phức tạp đối với
các CTCP loại nhỏ đang chiếm đa số hiện
nay ở nước ta Vả lại nếu sở hữu 5% đã
được xem là cổ đông lớn thì tại sao hợp
đồng giao dịch giữa công ti và các cổ đông
lớn sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ
thông mới cần đại hội đồng cổ đông hoặc
hội đồng quản trị chấp thuận
Trên thực tế, Luật doanh nghiệp còn
thiếu nhiều quy định về quản lí và sử dụng
vốn của CTCP Vẫn biết vấn đề tài chính
nội bộ của mỗi công ti là khác nhau thậm
chí còn bao gồm cả tính chất bí mật trong
kinh doanh Nhưng pháp luật cũng nên quy
định khung cụ thể để hướng dẫn các doanh
nghiệp thực hiện Ví dụ như vấn đề góp
vốn, hiện chưa có văn bản nào hướng dẫn
cụ thể về các bước tiến hành và trình tự thủ
tục góp vốn vào CTCP nói riêng và các loại
hình doanh nghiệp nói chung Điều này dẫn tới các công ti được thành lập và việc góp vốn của các thành viên rất đa dạng và phong phú Việc chưa quy định hợp đồng về thành lập công ti chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này
Thứ tư, quy định về tăng giảm vốn điều
lệ CTCP: Nếu ở loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn, việc tăng giảm vốn điều lệ được quy định rất rõ ràng và chặt chẽ thì ở loại hình CTCP, không có điều luật nào trực tiếp điều chỉnh vấn đề này Tăng vốn điều lệ của CTCP được hiểu một cách thống nhất là CTCP phát hành thêm cổ phiếu nhằm huy động thêm vốn chủ sở hữu của công ti Ngoài ra còn một số trường hợp khác như khi công ti trích quỹ dự trữ của công ti vào vốn điều lệ hay trường hợp trái phiếu chuyển đổi của công ti phát hành chuyển đổi thành
cổ phần phổ thông nghĩa là vốn vay biến thành vốn điều lệ Như vậy, CTCP có nhiều biện pháp, cách thức để tăng nguồn vốn của mình, điều quan trọng là công ti lựa chọn giải pháp nào phù hợp nhất trong từng thời điểm Tuy nhiên, các trường hợp tăng vốn của CTCP cũng chưa được quy định cụ thể trong bất kì điều luật nào Trên thực tế hiện nay, việc tăng vốn điều lệ khá tràn lan bằng cách phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu hoặc chào bán cho các cổ đông chiến lược, điều này đã ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của công ti không theo kịp vốn điều lệ và kết quả là cổ đông lại là người gánh chịu thiệt thòi do cổ phiếu bị pha loãng
và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán
Trang 4Về thủ tục tăng vốn điều lệ được thực
hiện theo Điều 31 Nghị định của Chính phủ
số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng
kí kinh doanh hướng dẫn về thủ tục thay đổi
vốn điều lệ nói chung Nhưng thực tế thực
hiện Luật doanh nghiệp thời gian qua cho
thấy, có những cách hiểu chưa thống nhất,
chưa chính xác về vốn điều lệ của CTCP
Một số cách hiểu đã nhầm lẫn giữa vốn điều
lệ và cổ phần được quyền phát hành, nhầm
lẫn giữa việc quyết định tăng vốn điều lệ và
thời điểm tăng vốn điều lệ Do đó, công ti
thường thực hiện việc đăng kí thay đổi vốn
điều lệ ngay sau khi đại hội cổ đông quyết
định tăng vốn Chính điều này đã dẫn đến
hiện tượng "vốn khống" Bởi vì, việc đại hội
cổ đông quyết định phát hành thêm cổ phần
chỉ là mong muốn tăng vốn điều lệ, còn vốn
điều lệ của công ti có tăng được hay không
lại phụ thuộc vào việc cổ phần đó có bán
được không Do đó, quyết định phát hành
thêm cổ phần không tất yếu dẫn đến việc
tăng vốn điều lệ công ti
Vấn đề giảm vốn điều lệ của CTCP
hiện nay cũng là vấn đề gây tranh cãi và
khiến các công ti cổ phần lúng túng vì Luật
doanh nghiệp năm 2005 chưa có quy định
nào về vấn đề này Khoản 3 Điều 15 Nghị
định của Chính phủ số 139/2007/NĐ-CP
ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật doanh nghiệp quy định:
“Sau 3 năm, kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng kí kinh doanh, nếu số cổ phần
được chào bán quy định tại khoản 4 Điều 84
của Luật doanh nghiệp không được bán hết
thì công ti phải đăng kí điều chỉnh giảm số
vốn được quyền phát hành ngang bằng với số
cổ phần đã phát hành” Quy định này dẫn đến cách áp dụng máy móc của các phòng đăng kí kinh doanh Họ coi đây là trường hợp duy nhất có thể giảm vốn điều lệ của công ti
cổ phần Vì thế, ngoài trường hợp nêu trên phòng đăng kí kinh doanh không thực hiện đăng kí giảm vốn cho bất cứ trường hợp nào khác, mặc dù nhu cầu giảm vốn điều lệ của các CTCP là rất cần thiết và chính đáng
Thứ năm, về việc nhận cổ tức bằng tài sản khác: Ngoài các hình thức trả cổ tức bằng tiền mặt, CTCP còn có thể trả cổ tức cho cổ đông bằng các loại tài sản khác như
cổ phiếu, một loại tài sản khác thuộc sở hữu của công ti như sản phẩm của công ti hay một công cụ nợ Các tài sản này phải được quy định trong điều lệ công ti Trong tương lai, khi việc chia cổ tức bằng tài sản trở nên phổ biến thì việc cổ đông nhận cổ tức dưới hình thức này cần phải được cân nhắc và quy định trong Luật doanh nghiệp chặt chẽ hơn,
cụ thể như sau:
Nhận cổ tức dưới hình thức là tài sản khác thuộc sở hữu của công ti đòi hỏi sản phẩm đó phải được bán theo giá thị trường, hoặc được định giá tài sản Đây là việc phức tạp vì hệ thống kế toán và các chuẩn mực về định giá của nước ta chưa thống nhất chặt chẽ nên Luật doanh nghiệp cũng cần có những quy định chặt chẽ hơn, vừa có lợi cho công ti vừa có lợi cho cổ đông
Trong trường hợp nhận cổ tức dưới hình thức là cổ phiếu thì cổ phiếu có thể là cổ phiếu của công ti hoặc cổ phiếu của công ti khác Nếu là cổ phiếu của công ti khác thì phải là cổ phiếu của công ti có tình hình hoạt động kinh doanh tốt hoặc có triển vọng, giá
Trang 5cổ phiếu của công ti đó không có xu hướng
giảm để tránh tình trạng công ti vừa tăng chi
phí bằng việc hạch toán dự phòng giảm giá
chứng khoán, vừa đẩy rủi ro giảm giá cho cổ
đông Giá hạch toán đối với trả cổ tức bằng
cổ phiếu của công ti khác được xác định theo
giá thị trường của công ti đó vào ngày công
bố trả cổ tức Tuy nhiên, không thể phủ định
trả cổ tức bằng cổ phiếu dù là cổ phiếu của
chính công ti thì các cổ đông không thể tránh
khỏi rủi ro khá lớn khi mà các cổ phiếu này
sụt giá trên thị trường Điều này càng ảnh
hưởng nghiêm trọng nhất là đối với cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đãi, khi mà cổ đông này
vừa bị hạn chế các quyền tham gia tổ chức
điều hành công ti, vừa bị hạn chế chuyển
nhượng lại vừa được nhận số cổ tức bằng cổ
phiếu nhiều hơn các cổ đông khác Từ đó
dẫn đến tình trạng cổ tức ưu đãi trở thành
"ngược đãi"
Để việc trả cổ tức bằng cổ phiếu phát
huy được những thế mạnh của mình như đã
phân tích thì giải pháp an toàn hơn cho các
nhà đầu tư nói chung và các cổ đông ưu đãi
nói riêng là một biện pháp bảo đảm Các
CTCP khi trả cổ tức bằng cổ phiếu phải
quy được ra giá trị bằng tiền mặt tương
đương để cho các cổ đông được lựa chọn
trả bằng hình thức nào Nếu như cổ đông
thực sự tin tưởng vào khả năng của công ti
và muốn đầu tư hơn nữa họ sẽ chọn cổ
phiếu, ngược lại để đảm bảo an toàn, cổ
đông cũng có thể lựa chọn tiền Quy định
như thế sẽ giải quyết được bất cập trong
chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Thứ sáu, về chào bán cổ phần riêng lẻ:
Hiện chưa có quy định cụ thể nào của Luật
về trình tự, thủ tục, cách thức chào bán cổ phần riêng lẻ Chính vì lẽ đó mà CTCP đã dễ dàng phát hành cổ phiếu với số tiền rất lớn
mà không bị ràng buộc nào Từ đó, dẫn đến thực tế, các CTCP Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách để trốn tránh việc phát hành rộng rãi do tâm lí e ngại việc minh bạch hoá thông tin và nhiều lí do khác nữa; việc phát hành riêng lẻ vẫn là cách phổ biến cho các công ti lựa chọn Vì vậy, Luật doanh nghiệp năm
2005 cần có những quy định bổ sung, nhất là hiện nay đã có thêm những quy định vừa mới ban hành như Nghị định của Chính phủ
số 84/2010/NĐ-CP ngày 02/8/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán Đó là mong muốn của không chỉ các nhà đầu tư mà cả các CTCP, họ cần sự hướng dẫn để thực hiện tốt hơn việc huy động vốn và tạo niềm tin cho các cổ đông công ti
Thứ bảy, về các quy định phát hành trái phiếu và thực thi Điều 88 Luật doanh nghiệp năm 2005: Điều 88 quy định về phát hành trái phiếu, những quy định này sẽ chỉ nằm trên giấy nếu không xây dựng được kế hoạch
cụ thể cho việc triển khai thực hiện, bởi thực
tế ở Việt Nam hiện nay, như đã đề cập, lợi thế từ việc phát hành trái phiếu chưa được các nhà quản lí CTCP quan tâm khai thác Quy mô của thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chỉ ở mức 17% GDP, trong khi tỉ
lệ này ở Thái Lan là 58%, Malaysia 82%, Singapore 74% và Trung Quốc là 53% Trong khi trái phiếu doanh nghiệp được coi
là kênh huy động vốn có rất nhiều thuận lợi
Trang 6so với phát hành cổ phiếu, vay ngân hàng thì
chỉ chiếm tỉ trọng 10% - rất nhỏ so với trái
phiếu Chính phủ (90%) thì ở các nước khác,
tỉ trọng này lại cân đối hơn rất nhiều so với
Việt Nam Đơn cử tỉ trọng giữa trái phiếu
doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ ở
Trung Quốc là 35% - 65%; Hàn Quốc: 51%
- 49%; Singapore: 44% - 56%; Malaysia:
50% - 50%; Thái Lan: 33% - 67%.(1)
Nguyên nhân không nhỏ của thực trạng
này xuất phát từ phía Nhà nước Khách quan
mà nói Nhà nước chưa có sự quan tâm thích
đáng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
thực hiện huy động vốn dưới hình thức này
Mặt khác, sự nghèo nàn của thị trường
trái phiếu Việt Nam còn ở chỗ chưa có đầy
đủ các lực lượng gồm nhà phát hành, nhà
đầu tư, các nhà cung cấp dịch vụ (tư vấn
phát hành, bảo lãnh phát hành); nhà môi
giới, các nhà cung cấp xếp hạng tín nhiệm
cho các tổ chức phát hành và hiệp hội thị
trường trái phiếu Điều đó làm cho việc huy
động vốn thông qua phát hành trái phiếu gặp
không ít khó khăn Vì vậy, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đặc biệt là Bộ tài chính
cần phải đưa ra các giải pháp và cơ chế thực
hiện các giải pháp đó nhằm đẩy mạnh sự
phát triển của thị trường trái phiếu Việt
Nam Khi sân chơi cho các nhà đầu tư trái
phiếu phát triển sôi động thì nguồn hình
thành hàng hoá – các tổ chức phát hành mới
chú trọng, quan tâm đến việc tạo hàng và sự
đa dạng của các loại trái phiếu mới phát huy
tối đa hiệu quả thu hút vốn đầu tư của chúng
Nên quy định CTCP được phép phát
hành các loại cổ phần khác ngoài các loại cổ
phần quy định trong Luật doanh nghiệp năm
2005 để tạo sự hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư, phù hợp với tâm lí và khả năng của người đầu tư kinh doanh Về vấn đề này chúng ta có thể tham khảo pháp luật của một số nước ví dụ trong pháp luật của Thái Lan, Malaysia, Singapore có rất nhiều loại cổ phần ưu đãi được đưa ra như:
cổ phần ưu đãi dồn lãi, cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức, cổ phần ưu đãi mua lại, cổ phần ưu đãi chuyển đổi v.v
2 Những quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 về cơ cấu tổ chức của CTCP
Thứ nhất, về hội đồng quản trị Theo Điều 110 Luật doanh nghiệp năm
2005 quy định về tiêu chuẩn thành viên hội đồng quản trị thì thành viên hội đồng quản trị phải là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lí kinh doanh hoặc trong ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ti hoặc tiêu chuẩn điều kiện khác quy định tại điều lệ công ti Vấn đề đặt ra là nếu một tổ chức có
ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông của công ti hay đáp ứng được các điều kiện nói trên thì có được cử một người đại diện theo
uỷ quyền trong hội đồng quản trị hay không Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
115 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì thành viên hội đồng quản trị sẽ bị bãi nhiệm, miễn nhiệm nếu như không tham gia các hoạt động của hội đồng quản trị trong 6 tháng liên tục trừ trường hợp bất khả kháng Trên thực
tế thì khoảng thời gian 6 tháng này là khó xác định vì hội đồng quản trị họp bất thường hoặc định kì chứ không phải là cơ quan hoạt động thường xuyên, bên cạnh đó, ở các công
Trang 7ti nhỏ trên thực tế nếu thành viên hội đồng
quản trị được thuê thường kiêm thêm các
chức danh khác nữa Vì vậy, vấn đề bãi
nhiệm, miễn nhiệm thành viên hội đồng
quản trị còn liên quan tới hợp đồng lao động
mà các thành viên này kí với công ti
Thêm một quy định nữa cần xem xét đó
là tại khoản 4 Điều 112 quy định trường hợp
hội đồng quản trị được triệu tập họp khi có
đề nghị của giám đốc hoặc tổng giám đốc
hoặc hoặc ít nhất năm người quản lí khác
Tương tự như thế tại khoản 1 Điều 118 quy
định thành viên hội đồng quản trị, thành viên
ban kiểm soát, giám đốc, tổng giám đốc và
người quản lí khác của công ti phải kê khai
các lợi ích liên quan của họ với công ti Tuy
nhiên vấn đề đặt ra ở đây đó là “người quản
lí khác” là ai, bao gồm những đối tượng nào
Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng
chỉ liệt kê ra các đối tượng là người quản lí
công ti còn các chức danh quản lí khác do
điều lệ công ti quy định Đó có thể là kế
toán trưởng, các đại diện chi nhánh, trưởng
các phòng ban Như vậy thiết nghĩ Luật
doanh nghiệp trong trường hợp này đã quy
định không chặt chẽ và cụ thể về người
quản lí khác Đặt ra các quy định về triệu
tập họp hội đồng quản trị cũng có nghĩa là
Luật doanh nghiệp bắt buộc phải làm rõ
khái niệm về “người quản lí khác” hơn nữa,
tránh tình trạng mỗi công ti có những quy
định riêng khác nhau
Thứ hai, về giám đốc và tổng giám
đốc CTCP
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 thì
giám đốc hoặc tổng giám đốc có thể là người
được thuê nhưng quy định về giám đốc (tổng
giám đốc) được thuê chưa cụ thể, vì vậy cần
bổ sung các quy định về vị trí này ví dụ như: hợp đồng, các nội dung chủ yếu của hợp đồng thuê giám đốc, điều kiện với giám đốc (tổng giám đốc) được thuê và cần có những quy định bổ sung về trách nhiệm của doanh nghiệp đi thuê giám đốc hoặc tổng giám đốc
vì trên thực tế đã có nhiều trường hợp thuê sinh viên, thậm chí là người lái xe ôm, bà bán hàng nước làm giám đốc công ti và kết quả là doanh nghiệp đã mất tích khiến cho việc truy thu thuế là không thể và để lại rất nhiều hậu quả cho xã hội, bên cạnh đó phải nâng cao tính độc lập, khả năng đối trọng của giám đốc, tổng giám đốc với các cơ quan quyền lực khác
Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định hội đồng quản trị của CTCP bổ nhiệm người trong số họ hoặc thuê người khác làm giám đốc hoặc tổng giám đốc với nhiệm kì không quá 5 năm và cũng có quyền miễn nhiệm, cách chức, kí hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với giám đốc hoặc tổng giám đốc Điều này cũng tương tự như trong công ti trách nhiệm hữu hạn Như vậy, xét về bản chất, quan hệ giữa tổng giám đốc và hội đồng quản trị là quan hệ lao động Tuy nhiên, theo pháp luật về lao động, không có loại hợp đồng lao động có hạn đến 5 năm và việc chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Bởi vậy, việc xác định nhiệm kì, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ này sẽ gặp vướng mắc nếu xem xét ở khía cạnh luật lao động, vì vậy cần quy định rõ hơn về quyền này của hội đồng quản trị, ví dụ như quy định quyền của hội đồng quản trị về việc này căn cứ trên hợp đồng đã kí
Trang 8Một vấn đề nữa cũng cần quan tâm, đó là
vấn đề chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám
đốc (tổng giám đốc) CTCP Đây là tình trạng
phổ biến ở Việt Nam, giúp cho chủ tịch hội
đồng quản trị có thể thâu tóm quyền lực
trong tay Tuy nhiên, việc kiêm nhiệm này sẽ
làm vô hiệu hoá các quy định về kiểm soát
lẫn nhau của hai vị trí này dễ dẫn tới việc
lạm dụng quyền lực thực hiện các hành vi
trái pháp luật, điều lệ của công ti nhằm tư lợi
riêng cho bản thân Việc kiêm nhiệm đó
cũng khiến cho người lãnh đạo khó có thể
thực hiện cả hai nhiệm vụ một cách tốt nhất
Thứ ba, về đại hội đồng cổ đông
Có thể thấy khoản 2 Điều 96 Luật
doanh nghiệp liệt kê quyền hạn, trách
nhiệm của đại hội đồng cổ đông là rất lớn,
tuy nhiên đây lại là một hạn chế không nhỏ
Bởi đại hội đồng cổ đông bao gồm nhiều cổ
đông có trình độ, kinh nghiệm và lĩnh vực
quản lí khác nhau, vì vậy quyết định của đại
hội đồng cổ đông không mang tính thống
nhất cao, nhiều khi còn dễ đưa ra các quyết
định sai lầm do trình độ quản lí thấp Hơn
nữa đại hội đồng cổ đông chỉ họp định kì
một năm một lần, các thủ tục họp bất
thường lại phức tạp nên không thể quyết
định những vấn đề cấp bách ảnh hưởng tới
quyền lợi của các cổ đông một cách nhanh
chóng Bên cạnh đó, quy định về địa điểm
họp đại hội đồng cổ đông tại khoản 1 Điều
97 cũng có chỗ chưa hợp lí Để thuận tiện
cho vấn đề triệu tập họp đại hội đồng cổ
đông, nhà làm luật cho phép công ti có thể
tiến hành họp đại hội đồng cổ đông tại bất
kì địa điểm nào tại Việt Nam mà không
nhất thiết phải là trụ sở chính của công ti Tuy nhiên, trên thực tế đã có nhiều công ti lợi dụng quy định này gây khó dễ cho vấn
đề họp đại hội đồng cổ đông của các cổ đông nhỏ Như chúng ta đã biết, CTCP khi
đã trở thành công ti đại chúng sẽ có nhiều
cổ đông trên khắp cả nước Vì vậy, nếu một công ti đặt trụ sở tại miền Bắc, các cổ đông
đa số đều ở miền Bắc nhưng lại tiến hành họp đại hội đồng cổ đông ở miền Nam thì mặc dù đã thông báo tới toàn thể cổ đông nhưng liệu những cổ đông có số phiếu ít ỏi
sẽ quyết định vào miền Nam để bảo vệ quyền lợi của mình hay không, khi mà địa điểm họp quá xa xôi Bằng cách đơn giản
ấy, các cổ đông lớn, những người lãnh đạo công ti có thể quên hẳn đi các chủ thể sở hữu khác của công ti để tán thành những quyết định có lợi cho mình
Thứ tư, về ban kiểm soát
Mặc dù được quy định khá chi tiết từ Điều 121 tới Điều 127 Luật doanh nghiệp năm 2005 nhưng trên thực tế, tại các CTCP
dù lớn hay nhỏ, dù không bắt buộc hay bắt buộc phải có ban kiểm soát thì cơ quan này dường như vẫn không có tiếng nói gì trong
bộ máy tổ chức CTCP Thậm chí nhiều công ti không tuân thủ quy định về thành lập và cho hoạt động một ban kiểm soát độc lập của công ti Các thành viên ban kiểm soát thường là những thành viên kiêm nhiệm Trong thời gian qua, báo chí đã đưa
ra nhiều vi phạm thuộc vấn đề này để các CTCP khác rút kinh nghiệm./
(1) Nguồn: http://Vneconomy.vn ngày 14/8/2009