1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐƯỜNG LỐI đối PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ đổi MỚI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

25 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 452,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀTUYÊN TRUYỀN KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG BÙI HOÀNG MAI CHI ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐƯỜNG LỐI PHÁT TR

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Giảng viên : TS Đỗ Minh TuấnSinh viên : Bùi Hoàng Mai Chi

Mã sinh viên : 2052020006

Hà Nội - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ

TUYÊN TRUYỀN

KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG

BÙI HOÀNG MAI CHI

ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài 3

1.1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế và chính sách phát triển kinh tế

1.2 Tầm quan trọng của phát triển kinh tế đối với mỗi quốc gia 4

1.3 Nội dung đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc

trong thời kì đổi mới

1.3.1 Đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Trung

Quốc trong thời kì đổi mới

1.3.2 Những thành tựu đạt được từ phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản

Trung Quốc

CHƯƠNG II : SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH

2.1 Thực trạng của việc vận dụng vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng

2.1.2 Hạn chế

2.1.3 Nguyên nhân hạn chế

CHƯƠNG III : PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ VẬN

DỤNG VÀO ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG

SẢN VIỆT NAM

20 Phương hướng và giải pháp nâng cao sự vận dụng vào đường lối phát triển

kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam 20

LỜI NÓI ĐẦU

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định tầm nhìnthế giới, kiên trì coi quan hệ với các chính đảng nước ngoài là bộ phận cấu thành

Trang 4

quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp của Đảng Ở những thời kỳ lịch sử khácnhau, công tác phát triển kinh tế có sứ mệnh lịch sử khác nhau.

Trong thời kỳ tiến hành cách mạng dân chủ, Đảng Cộng sản Trung Quốckiên định đứng trong Quốc tế cộng sản, thực hiện giao lưu kinh tế và hợp tácchặt chẽ với các đảng cộng sản, công nhân quốc tế, đồng thời có quan hệ mậtthiết với các lực lượng tiến bộ quốc tế, với các nhân sĩ tiến bộ của các nước, từ

đó giành được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các lực lượng tiến bộ trên thếgiới cả về tinh thần và vật chất Sự ủng hộ đó đã đóng vai trò rất tích cực trongquá trình phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc, góp phần đưa cách mạngTrung Quốc đến thành công

Hiện nay lợi ích kinh tế và đối ngoại của Trung Quốc đang mở rộng ra toàncầu trong hơn 1 thập kỉ vừa qua chứ không còn giới hạn trong phạm vi khu vực.Kinh tế của Trung Quốc đang ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế ở hầu như tất cảcác mức độ của hệ thống toàn cầu Và các chính sách kinh tế của Trung Quốchiện đang ảnh hưởng tới nhận thức, các mối quan hệ, các thể chế và tiến trìnhcủa quốc tế

Cùng với đó, mặc dù là một nước nhỏ hơn so với Trung Quốc nhưng ViệtNam ta cũng có những đường lối phát triển kinh tế phù hợp và đột phá trongchính sách kinh tế của Việt Nam trên cơ sở tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóaquan hệ; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; luôn thể hiện

là một đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồngquốc tế đã tạo niềm tin và uy tín của Việt Nam đối với bạn bè và các đối tác trênthế giới

Đường lối phát triển kinh tế đối với mỗi một quốc gia là điều cực kì quan

trọng, vì vậy em chọn đề tài “Đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng

sản Trung Quốc trong thời kỳ đổi mới và sự vận dụng vào đường lối đối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” làm bài thi tiểu

luận kết thúc học phần Đề tài chủ yếu đi sâu vào những kiến thức về mặt lý luậncũng như thực tiễn của đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc vàĐảng Cộng sản Việt Nam Qua những nội dung đó nâng cao kiến thức và sự

Trang 5

hiểu biết về những chiến lược và công cụ giao thương của Trung Quốc, nêu ranhững thành tựu nổi bật và mặt hạn chế còn tồn đọng, từ đó rút ra bài học và vậndụng vào đường lối chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam.

Mục đích em chọn đề tài này để tìm hiểu những đường lối, chính sách kinh

tế của Trung Quốc sử dụng nhằm mục tiêu thực hiện các quan hệ quốc tế, thúcđẩy phát triển kinh tế, xã hội Ngoài ra, cũng nêu lên mặt ưu điểm và hạn chếtrong đường lối kinh tế của Việt Nam sau 35 năm đổi mới, từ những hạn chế đórút ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triểnkinh tế của nước ta giai đoạn hiện nay

Về bố cục, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thìtiểu luận bao gồm 3 chương

Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài

Chương II : Sự vận dụng vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộngsản Việt Nam hiện nay

Chương III : Phương hướng và giải pháp nâng cao sự vận dụng vào đườnglối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế và chính sách phát triển kinh tế

 Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là quá trình chuyển đổi kinh tế có liên quan đến việc chuyểnbiến cơ cấu của nền kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, tăng tổng sảnphẩm trong nước và thu nhập đầu người

Để có thể thúc đẩy quá trình chuyển đổi, đầu tư tư bản là một yếu tố cơ bản,quan trọng và chủ yếu Bởi đầu tư một mặt làm tăng năng lực sản xuất hàng hóa

và dịch vụ của nền kinh tế và năng suất sử dụng nguồn lực Mặt khác, đầu tư tưbản còn làm tăng tổng cung cầu và thu nhập quốc dân Sự gia tăng múc thu nhậpquốc dân làm tăng quá trình tích lũy tư bản

Bên cạnh đó, khi nhắc đến phát triển kinh tế chúng ta không thể nhắc đến quátrình công nghiệp hóa Điều này tạo nên sự khác biệt giữa quốc gia phát triển vàquốc gia đang phát triển Hầu hết các quốc gia đang phát triển đặc trưng bởi nềnsản xuất tự cấp tự túc, chủ yếu là nông nghiệp và mức thu nhập đầu người thấp.Ngược lại, các quốc gia phát triển lại phát triển mạnh về công nghiệp, mức thunhập đầu người cao

 Chính sách kinh tế

Chính sách kinh tế là kế hoạch hành động nhằm sản xuất, lưu thông, phân phối,tiêu thụ hàng hóa, của cải trong xã hội hay hiểu một cách đơn giản hơn, chínhsách kinh tế là chính sách tạo ra của cải làm giàu cho xã hội

Trang 7

1.2 Tầm quan trọng của phát triển kinh tế đối với mỗi quốc gia

– Chức năng phân bổ: Chính Phủ xây dựng chính sách để giải quyết cácvấn đề về phân bổ ngân sách

– Chức năng ổn định: Chính sách kinh tế giúp kiểm soát lãi suất và lạmphát

– Chức năng phân phối: Đây là chức năng của chính sách kinh tế liên quantrực tiếp đến thuế Đó là khi Chính Phủ xây dựng chính sách thuế phù hợp vớitừng tầng lớp kinh tế và những lĩnh vực khác nhau

 Đối với Việt Nam

Thứ nhất, là đầu tàu, hướng dẫn, dẫn dắt các hình thức sở hữukhác trong việc phát triển các lĩnh vực đặc biệt, như các lĩnh vựccần nhiều vốn đầu tư, có hàm lượng khoa học cao, một số lĩnhvực đặc biệt mới hình thành Trong quá trình phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN, ngày càng xuất hiện nhu cầuhình thành một số lĩnh vực mới đòi hỏi vốn đầu tư lớn, côngnghệ cao mà tự nó rất khó phát triển Trong điều kiện các quan

hệ thị trường mới được phát triển, khu vực tư nhân còn nhỏ bé,chưa có khả năng đầu tư lớn, khu vực sở hữu nhà nước tất yếuphải đảm nhận vai trò đầu tàu, dẫn dắt trong những lĩnh vựcmới này Khi thực hiện vai trò này, không có nghĩa là sở hữu nhànước giữ vai trò thống trị độc quyền vĩnh viễn mà vai trò đầutàu, dẫn dắt thể hiện ở chỗ, khi các hình thức sở hữu khác đủsức tham gia và có khả năng tham gia có hiệu quả, Nhà nướckịp thời rút vốn ra khỏi lĩnh vực đã đầu tư, để tiếp tục thực hiệnvai trò của mình trong việc đầu tư vào những lĩnh vực mới khác

Thứ hai, bảo đảm phát triển năng lực cạnh tranh của quốc gia

Do lịch sử phát triển, KTNN đã đảm nhận một loạt ngành cạnhtranh Khi khu vực tư nhân chưa kịp phát triển, Nhà nước phải

Trang 8

trực tiếp tham gia và đầu tư phát triển, hỗ trợ các DN đầu đàntrong giai đoạn đầu Khi khu vực tư nhân lớn mạnh dần, KTNNdần dần rút hoặc chuyển đổi sở hữu và về lâu dài, KTNN có thểkhông cần giữ vai trò chủ đạo ở lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh.

Thứ ba, đối với an ninh quốc gia, KTNN thể hiện vai trò chủ đạo

ở hai nội dung cơ bản sau:

1- Nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đếnquốc phòng, an ninh quốc gia (sản xuất, sửa chữa vũ khí,trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh, )

2- Tham gia nắm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng để giữvững định hướng xã hội, làm đối trọng trong hội nhập kinh

tế quốc tế (bán buôn lương thực, xăng dầu; sản xuất điện;khai thác khoáng sản quan trọng; một số sản phẩm cơ khí,điện tử, công nghệ thông tin quan trọng; bảo trì đường sắt,sân bay, ).Thứ tư, về mặt xã hội, do bản chất về mặt sởhữu và mục đích hoạt động, KTNN có vai trò quan trọngtrong gánh vác chức năng xã hội Vai trò này thể hiện ởchỗ, KTNN phải đảm nhận những ngành ở những địa bànkhó khăn có ý nghĩa chính trị - xã hội mà tư nhân khôngmuốn đầu tư, thực hiện sự bảo đảm cân bằng về đầu tưphát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuấthàng hóa công cộng thiết yếu, thực hiện các chính sách ansinh xã hội, các chương trình xóa đói, giảm nghèo,

1.3 Nội dung đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kì đổi mới

 Tổng quan phát triển kinh tế của Trung Quốc

Trang 9

Từ một nước gặp rất nhiều khó khăn vào năm 1949, đến nay, Trung Quốc đãvươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới; vị thế quốc tế không ngừngđược nâng cao; Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng 189 lần; tổng lượngthương mại đứng đầu thế giới; là đối tác thương mại lớn nhất của 130 nền kinhtế; đóng góp khoảng 30% cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu; GDP bình quân đầungười tăng hơn 70 lần.

Cùng với đó, Trung Quốc đạt nhiều thành tựu nổi bật về khoa học công nghệ:đưa người lên vũ trụ xây dựng trạm không gian Thiên Cung; tàu thăm dò vũ trụđáp thành công lên bề mặt Sao Hỏa; đưa vào sử dụng hệ thống định vị vệ tinhBắc Đẩu phủ sóng toàn cầu, công nghệ đường sắt cao tốc dẫn đầu thế giới vớitổng chiều dài đạt 37.900km…

Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang có xu hướng gia tăng, việcthiết lập cơ chế thương mại đa phương gặp nhiều khó khăn, xu thế toàn cầu hóakinh tế gặp những trở ngại nhất định, Trung Quốc chủ trương tiếp tục mở cửanền kinh tế, nỗ lực tham gia quản trị kinh tế toàn cầu thông qua các cơ chế đaphương cũng như sáng kiến khu vực và quốc tế, tích cực thúc đẩy xây dựngquan hệ đối tác toàn cầu

Kinh tế Trung Quốc hiện là một trong những đầu tàu của nền kinh tế thế giới,đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu

Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đã và đang tác động nặng nề tới cácnền kinh tế và làm đứt gãy chuỗi cung ứng, Trung Quốc đã nhanh chóng kiểmsoát tốt dịch bệnh, trở thành nền kinh tế lớn duy nhất trên thế giới đạt tốc độtăng trưởng dương trong năm 2020; thực hiện thắng lợi cuộc chiến xóa đói giảmnghèo toàn diện; hoàn thành đúng hạn mục tiêu “100 năm” lần thứ nhất, xâydựng toàn diện xã hội khá giả

Các giai đoạn phát triển kinh tế

Trang 10

-Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991)

Đảng Cộng sản Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầuthị”, chuyển trọng tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang

“lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xãhội chủ nghĩa Giai đoạn đầu tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc

“khoán ruộng đất”, “phát triển xí nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiếnhành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thànhphố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh tế, xây dựng các loại thị trường.Việc xây dựng các đặc khu kinh tế (SEZs) ở Trung Quốc tương đối thành công.SEZs đã phát huy được vai trò “cửa sổ” và “cầu nối” có ảnh hưởng tích cực đốivới trong và ngoài nước SEZs của Trung Quốc đã đạt được thành công bướcđầu trong sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường Những năm 1984 - 1991, cảicách xí nghiệp quốc hữu là trọng tâm, cải cách giá cả là then chốt trong toàn bộcuộc cải cách Trong giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế (1979 - 1991), TrungQuốc đã tìm tòi, tổ chức thí điểm, từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, sửachữa những khuyết điểm của thể chế kinh tế kế hoạch

-Giai đoạn xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1992 - 2002)

Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi

to lớn và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộngsản ở các nước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc, nhiềunước tiến hành điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chếkinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làmchủ thể, nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế độ phânphối thu nhập, lấy phân phối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quantâm tới công bằng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu có lên trước,

Trang 11

đi con đường cùng giàu có”(1) Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm1997) đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa

-Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (2002 - 2012), cải cách theo chiều sâu

Bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc đã xây dựng được cục diện cải cách, mở cửatoàn phương vị, đa tầng nấc; hình thành các cực tăng trưởng, Trước đó, TiểuChu Giang với nòng cốt là Quảng Châu, Thâm Quyến được coi là cực tăngtrưởng thứ nhất của Trung Quốc, hình thành trong giai đoạn đầu của cải cách,

mở cửa với việc xây dựng 4 đặc khu (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, HạMôn) Tiếp đó, từ năm 1984, Trung Quốc tiến hành mở cửa 14 thành phố venbiển, ven sông, ven biên giới Từ năm 1990, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựngPhố Đông, coi đây là “đầu tàu” lôi kéo và kết nối các điểm tăng trưởng hạ lưusông Trường Giang và ven biển Đông Hải Sự ra đời của Phố Đông (ThượngHải) đánh dấu sự xuất hiện cực tăng trưởng thứ hai của Trung Quốc Ngày 6-6-

2006, Chính phủ Trung Quốc đã công bố “Ý kiến về mấy vấn đề thúc đẩy mởcửa phát triển Khu mới Tân Hải Thiên Tân”, đánh dấu việc chủ trương đưaThiên Tân vươn lên trở thành cực tăng trưởng thứ ba của Trung Quốc, gắn liềncác điểm tăng trưởng xoay quanh vịnh Bột Hải Tiếp đó, vùng Thành Đô - TrùngKhánh (Xuyên Du), Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Quảng Tây), Khu kinh tế bờ Tây(Phúc Kiến) cũng phấn đấu trở thành cực tăng trưởng tiếp theo ở Trung Quốc.Năm 2008, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Cương yếu quy hoạch Khukinh tế Vịnh Bắc Bộ”, thể hiện quyết tâm của Trung Quốc trong xây dựng cựctăng trưởng mới - cực tăng trưởng kết nối giữa Trung Quốc và ASEAN

-Giai đoạn cải cách toàn diện và sâu rộng (từ năm 2012 đến nay)

Ba lăng kính lịch sử của Trung Quốc được phản ánh rõ hơn bằng ba ưu tiênngoại giao lâu dài: chủ quyền và thống nhất lãnh thổ, phát triển kinh tế, vị thếquốc tế và sự tôn trọng của quốc tế Trong khi những lăng kính lịch sử tương đối

Trang 12

trừu tượng, những ưu tiên này cụ thể hơn và thúc đẩy một cách rõ ràng chínhsách đối ngoại và an ninh của Trung Quốc từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoađược thành lập năm 1949 Những lăng kính này không chỉ là hiện tượng hậu

1978 Biểu hiện chính sách cụ thể của ba ưu tiên này và trọng tâm tương ứngcủa giới lãnh đạo đã thay đổi rất nhiều trong hơn 25 năm qua và sẽ còn tiếp tụclàm thay đổi Trong khi chính sách đối ngoại của Mao Trạch Đông nhấn mạnhvào chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và vị thế (giữa các ý kiến cải cách khác) trongthời kỳ cải cách, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã rõ ràng và kiên định đặt ưutiên phát triển kinh tế quốc gia trong các quan hệ đối ngoại của Trung Quốc

Vị thế quốc tế- thành tựu

Sau gần hai nhiệm kỳ, Trung Quốc đã vượt Mỹ và trở thành quốc gia giàu cónhất thế giới, với tài sản ròng lên tới 120 nghìn tỷ USD vào năm 2020, so với 90nghìn tỷ của Mỹ Vượt lên là nền kinh tế có quy mô GDP lớn thứ 2 thế giới Làmột phần quan trọng của “Giấc mộng Trung Hoa”, Chủ tịch Trung Quốc TậpCận Bình đề ra mục tiêu đưa Trung Quốc bước vào “xã hội khá giả” năm 2021 -nhân kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCS Trung Quốc và trở thành quốc gia hiệnđại toàn diện vào năm 2049 - nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước CHNDTrung Hoa

Kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCS Trung Quốc vừa qua, Trung Quốc tuyên bốthực hiện thành công xoá nghèo tuyệt đối và cơ bản bước vào “xã hội khá giả”.Theo đó, Trung Quốc cho rằng 10 năm qua, gần 100 triệu người đã thoát khỏitình trạng đói nghèo, đồng thời ca ngợi đây là một “chiến thắng toàn diện” và sẽ

“đi vào lịch sử”

Từ 2012 đến nay kinh tế Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu Tốc độ pháttriển cả giai đoạn đạt tăng trưởng cao giao động từ 6,5 - 9% Theo đó GDP từ

8000 tỷ USD (2011) tăng lên 16.640 tỷ USD (2021) Nhất là giai đoạn 2013

-2018, tốc đô ™ tăng trưởng bình quân GDP của Trung Quốc trong giai đoạn là

Ngày đăng: 24/06/2022, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm