quyết sửa đổi, bổ sung một số điều để quy định rõ hơn một số vấn đề mà khi ban hành Hiến pháp năm 1992 chưa kịp đánh giá tổng kết để đưa vào như vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN,
Trang 1PGS.TS Bïi Xu©n §øc *
1 Các hiến pháp Việt Nam: quá trình
ban hành, sửa đổi, bổ sung
1.1 Ban hành, sửa đổi Hiến pháp năm 1946
Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đem
lại chủ quyền cho dân tộc, dân chủ cho nhân
dân Đối với nhiều nước, sau khi giành được
chính quyền còn phải trải qua một thời gian
dài mới ban hành được hiến pháp Riêng ở
nước ta, do Đảng ta nhận thức được ý nghĩa
to lớn của hiến pháp nên mặc dù hoàn cảnh
lúc bấy giờ đang rất khó khăn, Hồ Chủ tịch
đã chủ trương nhanh chóng ban hành hiến
pháp Ngay từ phiên họp đầu tiên của Chính
phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã đề
nghị Chính phủ sớm tổ chức cuộc tuyển cử
và xây dựng hiến pháp nhằm trước hết là ban
bố quyền dân chủ của nhân dân và từ đó để
hợp thức hoá chính quyền Người nói:
“Trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế
cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém
phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến
pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền
tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến
pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ
chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu”,(1) "Phải bầu
ngay Quốc hội, càng sớm càng tốt Bên
trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế
độ của mình Trước thế giới, Quốc hội do
dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lí không ai
có thể phủ nhận được".(2) Trước yêu cầu của thực tiễn khách quan đó, cuộc tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc hội khoá đầu tiên của nước ta đã diễn ra vào ngày 6/1/1946 và thu được kết quả tốt đẹp
Để tiến hành soạn thảo hiến pháp, theo Sắc lệnh ngày 20/9/1945, Uỷ ban dự thảo hiến pháp do Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập Tháng 11/1945 Dự án hiến pháp Việt Nam được công bố trên Công báo với mục đích để cho nhân dân Việt Nam dự vào việc lập hiến pháp của nước nhà, ai muốn sửa, kiến nghị điều gì thì gửi đến Bộ tư pháp Tại kì họp thứ hai Quốc hội khoá I ngày 9/11/1946, Dự thảo hiến pháp được thông qua Bản hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời thể hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; tất cả cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, bảo đảm các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân và xây dựng một
* Trung tâm công tác lí luận
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 2chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân
dân Do tình hình chiến tranh đang lan rộng,
cho nên Hiến pháp năm 1946 chưa được
công bố để thực hiện một cách chính thức
Quốc hội giao cho Ban thường vụ Quốc hội
cùng với Chính phủ quy định việc thi hành
Hiến pháp Tuỳ tình hình cụ thể mà đưa các
quy định Hiến pháp ra thực hiện trên thực tế
Trong quá trình thực hiện Hiến pháp này
có việc Quốc hội (Nghị viện nhân dân) thông
qua Luật cải cách ruộng đất năm 1953 So
với Hiến pháp thì Luật này đã làm thay đổi
nội dung quy định tại Điều 12 của Hiến pháp
năm 1946 là: “Quyền tư hữu tài sản của
công dân được bảo đảm” Đây là bước đi
cần thiết để thực hiện người cày có ruộng,
chuyển dần lên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất phù hợp với chế độ xã hội chủ
nghĩa mà ta đang hướng tới Để đảm bảo
tính pháp lí, Luật đã được thông qua bằng
thủ tục đa số đặc biệt (2/3 tổng số đại biểu
giống như Hiến pháp)
1.2 Ban hành Hiến pháp năm 1959
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ,
miền Bắc được giải phóng đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tục hoàn
thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân
Thực hiện đường lối của Đảng, ở miền
Bắc đã tiến hành mạnh mẽ công cuộc khôi
phục kinh tế, phát triển văn hoá và tiến
hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và hợp tác
hoá trong công nghiệp, thương nghiệp,
nông nghiệp Đời sống chính trị của đất
nước cũng có những thay đổi lớn: sự công
khai vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện
liên minh công - nông, xác lập hệ thống chuyên chính vô sản Cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới
Hiến pháp năm 1946 được ban hành trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập, cần phải đoàn kết cả nước để hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân đến đây
có nhiều điểm không còn phù hợp Cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới
Bản Hiến pháp sửa đổi được kì họp thứ
11 Quốc hội khoá I thông qua vào ngày 31/12/1959 và được Chủ tịch nước công bố thi hành vào ngày 1/1/1960 và sau này thường được gọi là Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 được ban hành áp dụng cho cả nước với mục tiêu để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà nhưng chủ yếu là đối với miền Bắc Những quy định của Hiến pháp xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Do vậy, đây là hiến pháp xã hội chủ nghĩa nhưng mới trong phạm vi nửa nước
Do hoàn cảnh lúc bấy giờ là miền Nam vẫn còn đang phải tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân nên trong Hiến pháp năm
1959 vẫn còn có các quy định thể hiện tính chất dân chủ nhân dân (hay có thể nói còn rơi rớt các yếu tố dân chủ nhân dân) như việc quy định về hình thức chính thể nước ta vẫn là dân chủ nhân dân (Điều 2), vẫn còn thừa nhận hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của các nhà tư sản dân tộc, bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất
và các tư liệu sản xuất khác (Điều 11, Điều
Trang 314); quan hệ tổ chức quyền lực trong các cơ
quan nhà nước cấp cao chưa hoàn toàn áp
dụng triệt để nguyên tắc tập quyền xã hội
chủ nghĩa Song về tính chất, đây là bản hiến
pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta
Hiến pháp năm 1959 với những nội dung
lớn nêu trên đã ghi nhận những thắng lợi
bước đầu của sự nghiệp cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc và là cơ sở pháp lí để
tiến hành các nhiệm vụ củng cố miền Bắc,
đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và
tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam
tiến tới thống nhất nước nhà
Sự phát triển sau này của cách mạng
Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời ở miền Nam
một chính thể với các thể chế: Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính
phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền
Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn, các uỷ ban
giải phóng, có hiến pháp là Cương lĩnh của
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam, quốc kì, quốc ca và các luật lệ riêng
Sau khi nước nhà thống nhất về mặt nhà
nước năm 1976, tại kì họp đầu tiên của Quốc
hội chung thống nhất (Quốc hội khoá VI),
Quốc hội đã ra nghị quyết áp dụng Hiến
pháp năm 1959 cho cả miền Nam trong khi
chờ có Hiến pháp mới của nước Việt Nam
thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Xét
trên góc độ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thì
đây là sự mở rộng không gian áp dụng của
Hiến pháp năm 1959 có tính chất thay thế
cho cả hệ thống chính trị Cộng hoà miền
Nam Việt Nam trước đây Đó là sự sửa đổi,
bổ sung lớn của Hiến pháp
1.3 Ban hành, sửa đổi Hiến pháp năm 1980
Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Hiến pháp năm 1959 mặc dù là hiến pháp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sau khi thống nhất nước nhà về mặt nhà nước được Quốc hội chung của cả nước quy định áp dụng trên phạm vi toàn quốc song trong điều kiện mới đã trở nên không còn phù hợp Cần thiết phải có hiến pháp mới
để ghi nhận những thành quả mà cách mạng Việt Nam đã giành được qua nửa thế
kỉ đấu tranh và làm cơ sở pháp lí cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi cả nước
Bản hiến pháp mới được xúc tiến xây dựng từ những năm 1977 - 1978, có bị chững lại trong thời gian chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, qua nhiều lần lấy ý kiến của cán bộ và nhân dân đã được Quốc hội khoá VI kì họp thứ bảy thông qua ngày 18/12/1980
Hiến pháp năm 1980 quy định chế độ xã hội chủ nghĩa đã và đang xây dựng Đó là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa thứ hai Hiến pháp năm 1980 có nhiều ý nghĩa
lớn Trước hết, đó là hiến pháp của thời kì
quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi cả nước Thứ hai, đó là hiến pháp
thể chế hoá quyền làm chủ tập thể của nhân dân trên tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội và tham gia quản lí nhà nước Ý nghĩa thứ ba cũng không kém phần quan trọng của Hiến pháp
Trang 4năm 1980 là hiến pháp thống nhất đất nước
về mọi mặt Nếu như với các nghị quyết
của Quốc hội năm 1976 nước ta mới thống
nhất được về mặt nhà nước còn trên các
phương diện khác về kinh tế, xã hội và cả
pháp luật giữa hai miền vẫn còn có sự khác
biệt thì hiến pháp mới ra đời đã đưa tất cả
các quan hệ trở thành thống nhất, không
còn có những khác biệt
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (năm 1986) đề ra đường lối đổi
mới đất nước Thực hiện đường lối đó mà
trước hết là đổi mới về kinh tế đòi hỏi phải
có chế độ, thể chế mới về kinh tế thị
trường nhiều thành phần Trong khi chưa
sửa đổi được Hiến pháp, Nhà nước ta đã
cho ban hành một số luật mà về tính chất
thì đóng vai trò như sửa Hiến pháp, điển
hình là Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật
công ti ngày 21/12/1990 (không kể trước
đó vào năm 1988 đã ban hành 03 nghị định
của Hội đồng bộ trưởng (Nghị định số 27,
28, 29) cũng có tính chất như vậy) Do ý
thức được tính “luật có tính hiến pháp” của
hai luật này nên khi thông qua Quốc hội
cũng đã theo thủ tục đa số đặc biệt giống
như thông qua Hiến pháp với 2/3 tổng số
đại biểu tán thành
Sửa đổi, bổ sung chính thức Hiến pháp
giai đoạn này là Nghị quyết của Quốc hội
ngày 22/12/1988 sửa đổi về Lời nói đầu và
Nghị quyết ngày 30/6/1989 sửa đổi, bổ sung
7 điều của Hiến pháp trong đó quy định mới
về hội đồng nhân dân có thường trực hội
đồng nhân dân
1.4 Ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992
Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, nhận thấy những hạn chế, sai lầm do chủ quan, nóng vội trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta (và cả các nước xã hội chủ nghĩa khác), Đảng ta đã đề ra và phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Công cuộc đổi mới được bắt đầu bằng đổi mới kinh tế với việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường dưới sự quản lí của Nhà nước và bước đầu đã thu được những thắng lợi đáng
kể Để thúc đẩy và tạo điều kiện quản lí có hiệu quả nền kinh tế thị trường chúng ta bắt tay vào công cuộc đổi mới chính trị, cụ thể đổi mới bộ máy nhà nước trước hết là bộ máy hành chính, cải cách thủ tục hành chính Tất cả những thay đổi đó đặt ra yêu cầu sửa đổi Hiến pháp năm 1980 bảo đảm thích ứng với điều kiện mới
Qua nhiều lần tiếp thu, chỉnh lí, tháng 12/1991 bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần thứ 3 đã được đưa ra lấy ý kiến nhân dân Trên cơ sở tiếp thu đóng góp của nhân dân,
Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp đã đưa ra bản
Dự thảo lần thứ 4 trình Quốc hội khoá VIII xem xét thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 15/4/1992 và được công bố thi hành ngày 18/4/1992 Bản Hiến pháp này được gọi chính thức là Hiến pháp năm 1992
Sau gần 10 năm thực hiện, đến cuối năm 2001, Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội khoá X, kì họp thứ 10 ra Nghị
Trang 5quyết sửa đổi, bổ sung một số điều để quy
định rõ hơn một số vấn đề mà khi ban hành
Hiến pháp năm 1992 chưa kịp đánh giá tổng
kết để đưa vào (như vấn đề xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, đổi mới viện
kiểm sát nhân dân), quy định rõ hơn về chế
độ kinh tế, văn hoá, xã hội… nhằm đáp ứng
hơn nữa các yêu cầu của giai đoạn phát
triển mới của đất nước
Hiến pháp năm 1992 mở đầu một giai
đoạn phát triển mới của cách mạng Việt
Nam, là Hiến pháp đẩy mạnh công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước Hiến pháp đã củng
cố những thành tựu bước đầu trong công
cuộc đổi mới kinh tế, chính trị, văn hoá, từ
sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng cộng sản Việt Nam, định rõ những
nhiệm vụ cho những năm tới theo Cương
lĩnh và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
Được ban hành trong tình hình thế giới
đang có những biến động phức tạp, trong
điều kiện công cuộc đổi mới mặc dù đã
dành được một số thắng lợi nhưng còn rất
nhiều khó khăn, thách thức, Hiến pháp
năm 1992 là biểu hiện sự đồng tâm, nhất
trí cao độ của Đảng và nhân dân ta trong
việc tiếp tục con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội Để tạo cơ sở pháp lí cho sự
đổi mới tiếp tục, phục vụ sự nghiệp hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hoàn
thiện hơn nữa hệ thống chính trị, thể chế
nhà nước trong giai đoạn mới đang đặt ra
việc tiếp tục sửa đổi hiến pháp
2 Một số nhận xét, đánh giá quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hiến pháp Việt Nam qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới
2.1 Về thẩm quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp
Theo quy định của tất cả hiến pháp Việt Nam (Hiến pháp năm 1946 quy định ở Lời nói đầu và Điều 70, các hiến pháp sau tương ứng là các điều 50, 83 và 84), việc ban hành, sửa đổi hiến pháp là do Nghị viện nhân dân/Quốc hội quyết định với thủ tục bỏ phiếu đa số đặc biệt (riêng đối với Hiến pháp năm 1946 việc ban hành hoặc sửa đổi còn phải đưa ra nhân dân phúc quyết (các điều
21, 32, 70))
Nếu so với kinh nghiệm thế giới về mặt này thì có thể thấy:
Ngoại trừ các nước có hiến pháp bất thành văn, tức hiến pháp là tập hợp các đạo luật được các cơ quan nhà nước (nghị viện, nguyên thủ quốc gia, chính phủ) ban hành theo thủ tục thông thường như một đạo luật thậm chí còn là các tập tục, truyền thống, các
án lệ, tín điều tôn giáo như ở Anh, Israel… các nước có hiến pháp thành văn đều đòi hỏi chủ thể ban hành là chủ thể rất đặc biệt với trình tự thông qua chặt chẽ Chủ thể đó trước hết là nhân dân (nhiều nước, ví dụ như nước Nga hiện nay) thông qua hình thức trưng cầu dân ý Thứ đến là quốc hội hay hội đồng được bầu ra chỉ để thông qua hiến pháp gọi
là quốc hội/hội đồng lập hiến sau đó giải tán
để lập ra quốc hội lập pháp theo hiến pháp (ví dụ, nước Mỹ và ở nước ta năm 1946,
Trang 6Quốc hội được bầu cũng là quốc hội lập
hiến, lẽ ra sẽ được thay thế bởi nghị viện
nhân dân theo quy định của Hiến pháp được
thông qua song do hoàn cảnh kháng chiến
đang lan rộng nên Hiến pháp sau khi thông
qua đã không được phúc quyết, không công
bố thi hành, do đó nghị viện nhân dân cũng
không được thành lập và quốc hội lập hiến
tiếp tục tồn tại trở thành quốc hội lập pháp)
Tiếp đến là Đại hội nhân dân – cơ quan đại
diện cũng được bầu ra theo nhiệm kì nhưng
chủ yếu tập trung vào chức năng lập hiến,
bầu các chức sắc cao cấp của Nhà nước,
quyết định những vấn đề trọng đại của đất
nước trong đó quan trọng là việc phê chuẩn
những hiệp ước quốc tế quan trọng (ví dụ
như Đại hội nhân dân ở Trung Quốc, Đại hội
đại biểu nhân dân Liên Xô thời kì Goocbachốp,
Đại hội nhân dân Indonesia…) và cuối cùng
là quốc hội/nghị viện lập pháp (ở đa số các
nước) Đối với cơ quan lập hiến là quốc
hội/nghị viện lập pháp thì thường đòi hỏi hiến
pháp được thông qua với thủ tục đa số đặc
biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu, sau đó
còn phải được nguyên thủ quốc gia (vua, tổng
thống) xem xét công bố hoặc đưa ra cho nhân
dân phúc quyết (như là phê chuẩn)
Hiến pháp nước ta quy định cho Quốc
hội có quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp
với thủ tục đa số đặc biệt (2/3) cơ bản cũng
là phù hợp với xu thế chung trên thế giới
Hơn nữa, Quốc hội nước ta được coi là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất thì quyền
đó là hợp lí Tuy nhiên trên diễn đàn khoa
học nhiều ý kiến đề nghị nên để cho nhân
dân hoặc chí ít phải là quốc hội lập hiến như Quốc hội năm 1946 ban hành hiến pháp, còn việc sửa đổi, bổ sung thì có thể tiếp tục để cho Quốc hội đương nhiệm thực hiện nhưng sau đó phải được đưa ra để cho nhân dân phúc quyết
Về ý kiến trên, chúng tôi cho rằng xét trên phương diện dân chủ thì rất đáng lưu ý song trên phương diện thực tế thì cần phải có những điều kiện nhất định Việc tổ chức thông qua hiến pháp bằng trưng cầu dân ý đòi hỏi phải có luật trưng cầu dân ý và tổ chức công phu, kết quả phụ thuộc nhiều vào
sự tuyên truyền, vận động, giải thích, đặc biệt còn phụ thuộc vào trình độ dân trí Việc thành lập hội đồng/quốc hội lập hiến để thông qua hiến pháp cũng ít phổ biến trên thế giới vì việc thành lập (bầu cử) ra hai quốc hội với thời gian rất gần nhau thường phức tạp Phổ biến hơn cả vẫn là trao quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp cho đại hội nhân dân, nghị viện/quốc hội lập pháp tức lấy quốc hội lập pháp làm quốc hội lập hiến
Để bảo đảm dân chủ và chặt chẽ cũng như tính tối cao của hiến pháp, các nước theo cách này thường quy định thủ tục thông qua, sửa đổi hiến pháp một cách chặt chẽ hơn Nếu với luật, thường việc biểu quyết thông qua chỉ cần có quá bán tổng số đại biểu quốc hội lập pháp đồng ý là đủ thì đối với hiến pháp là phải 2/3, hoặc 3/4 tổng số đại biểu Hơn nữa, sau khi đã được thông qua thì hiến pháp còn phải được đưa ra cho nguyên thủ quốc gia (vua, tổng thống) phê chuẩn hoặc nhân dân bỏ phiếu phúc quyết Nước ta,
Trang 7nếu có vận dụng thì cũng nên như vậy, tức
vẫn để cho Quốc hội ban hành, sửa đổi, bổ
sung hiến pháp nhưng tạo điều kiện tốt hơn
cho sự tham gia của đông đảo nhân dân vào
quá trình này dưới hai hình thức: thảo luận
toàn dân và sau đó là nhân dân phúc quyết
2.2 Về trình tự, thủ tục ban hành và sửa
đổi hiến pháp
Xuất phát từ quyền lập hiến duy nhất của
Quốc hội, việc soạn thảo, thông qua, công bố
hiến pháp, sửa đổi hiến pháp và trình tự, thủ
tục giải thích hiến pháp đều do Quốc hội quyết
định và quy định Tuy nhiên, cho đến nay,
Quốc hội chưa ban hành một luật hoặc nghị
quyết quy định cụ thể về trình tự, thủ tục này
Quy trình được thực hiện trong các lần ban
hành và sửa đổi, bổ sung hiến pháp chủ yếu
đều dựa vào các quy định mang tính nguyên
tắc của hiến pháp, có kế thừa và phát triển,
đổi mới phù hợp với điều kiện cụ thể nhằm
đề cao dân chủ, đồng thời bảo đảm chặt chẽ
về nguyên tắc pháp lí Có thể thấy quy trình
lập hiến nước ta gồm các thủ tục sau đây:
+ Đề nghị và quyết định việc ban hành
hiến pháp hoặc sửa đổi, bổ sung hiến pháp:
Việc này do nhiều chủ thể khác nhau
thực hiện:
- Do Chính phủ đề nghị (năm 1945 đề nghị
soạn thảo, ban hành Hiến pháp năm 1946);
- Do cơ quan thường trực của Quốc hội
đề nghị (năm 1957 Ban thường vụ Quốc hội
đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 để ban
hành Hiến pháp năm 1959 và năm 2001 Uỷ
ban thường vụ Quốc hội đề nghị sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp năm 1992);
- Do Chủ tịch Quốc hội đề nghị (năm
1989 đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1980
để ban hành Hiến pháp năm 1992)
Sau khi xem xét đề nghị về việc chuẩn bị ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, nếu Quốc hội tán thành thì Quốc hội thành lập Uỷ ban
dự thảo hiến pháp với thành phần là những người đại diện các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, các cơ quan của Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội khác, một số chuyên gia pháp lí có trình độ cao, có kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng pháp luật… Chủ tịch Uỷ ban dự thảo hiến pháp có thể là Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch Quốc hội Có thể nói, với thành phần như vậy, Uỷ ban dự thảo hiến pháp thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc Uỷ ban này có nhiệm vụ soạn thảo
dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp
và tờ trình; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các ngành, các cấp và nhân dân để chỉnh lí dự thảo văn bản trình Quốc hội xem xét, thông qua + Soạn thảo dự án (tờ trình và dự thảo văn bản):
Việc soạn thảo dự thảo về hiến pháp được tiến hành theo trình tự: tổng kết thực tiễn việc thi hành hiến pháp; nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội thuộc phạm vi nội dung cần đề nghị
Trang 8sửa đổi, bổ sung; lập đề cương soạn thảo
văn bản, biên soạn dự thảo văn bản; chuẩn
bị tờ trình và tài liệu liên quan đến dự án
(dự thảo hiến pháp hoặc nghị quyết sửa đổi,
bổ sung hiến pháp) và trình ra trước kì họp
Quốc hội Khác với quy trình xây dựng luật,
pháp lệnh, quy trình lập hiến không có công
đoạn thẩm định, thẩm tra
+ Lấy ý kiến đóng góp của các ngành,
các cấp, các tổ chức đoàn thể nhân dân; công
bố lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân đối với
dự thảo hiến pháp/hiến pháp sửa đổi hoặc dự
thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều
của hiến pháp:
Đây là thủ tục không thể thiếu trong hoạt
động lập hiến và lập pháp nói chung Hoạt
động này có thể diễn ra tại tất cả các công
đoạn của quy trình lập hiến với nhiều hình
thức khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp
nhưng tập trung nhất là sau khi dự thảo được
công bố để nhân dân, các ngành, các cấp
đóng góp ý kiến Việc lấy ý kiến của nhân
dân, các ngành, các cấp thường được tiến
hành sau khi Quốc hội đã thảo luận, cho ý
kiến bước đầu vào dự thảo hiến pháp hoặc
dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số
điều của hiến pháp Ý kiến đóng góp của các
ngành các cấp, các tổ chức đoàn thể nhân
dân và nhân dân nói chung được Uỷ ban dự
thảo hiến pháp tổng hợp đầy đủ, tổ chức
nghiên cứu, tiếp thu để hoàn thiện dự thảo
văn bản, bảo đảm chất lượng cả về nội dung
và hình thức, thực sự là sản phẩm kết tinh trí
tuệ của toàn dân, trình Quốc hội xem xét
+ Xem xét, thông qua dự thảo hiến pháp/
hiến pháp sửa đổi hoặc dự thảo nghị quyết
sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp: Khi tiến hành xem xét, thông qua dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp, Quốc hội thường vận dụng các quy định của việc xem xét, thông qua luật Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có vị trí đặc biệt quan trọng nên Quốc hội thường xem xét, thông qua tại hai kì họp Theo đó, tại kì họp thứ nhất, Uỷ ban dự thảo hiến pháp trình Quốc hội về dự
án và Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Trong thời gian giữa hai kì họp, dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp được công bố để lấy ý kiến nhân dân; Uỷ ban dự thảo hiến pháp tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, của nhân dân, các ngành, các cấp để chỉnh lí dự thảo văn bản Tại kì họp thứ hai, Uỷ ban dự thảo hiến pháp trình Quốc hội báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lí; Quốc hội nghe đọc bản dự thảo
đã được tiếp thu, chỉnh lí và thảo luận về một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau; bản
dự thảo văn bản được chỉnh lí lần cuối trên
cơ sở tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội sau đó được trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua
+ Công bố hiến pháp/hiến pháp sửa đổi hoặc nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp:
Việc công bố hiến pháp mới hoặc nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp do Chủ tịch nước (hoặc Chủ tịch Hội đồng nhà nước) thực hiện Riêng Hiến pháp
Trang 9năm 1946, do điều kiện đất nước có chiến
tranh nên sau khi thông qua Quốc hội đã ra
nghị quyết uỷ nhiệm Chính phủ và Ban
thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm tổ chức
thi hành Hiến pháp một cách thích hợp
Với những trình tự, thủ tục như trên, có
thể thấy quy trình lập hiến nước ta cũng
không khác nhiều so với quy trình chung của
các nước trên thế giới So với quy trình ban
hành bằng trưng cầu dân ý hay bằng quốc hội
lập hiến hoặc đại hội nhân dân thì quy trình
này có những ưu việt nhất định: ít rủi ro hơn
(so với trưng cầu dân ý vì trong trưng cầu dân
ý nhân dân chỉ có một sự lựa chọn đồng ý
hoặc không nên kết quả phụ thuộc rất lớn vào
trình độ dân trí của nhân dân), tranh thủ được
nhiều ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân
dân (so với quốc hội lập hiến và đại hội nhân
dân vì trong cơ chế này đã có đông đảo đại
diện nên thường không tổ chức lấy ý kiến
nhân dân nữa) Nếu có khiếm khuyết thì đó là
cơ chế này phần nhiều còn mang nặng tính
chủ quan của những cơ cấu có thẩm quyền,
phần nhiều theo ý đã định sẵn, thiếu tôn trọng
và không tổ chức tiếp thu nghiêm túc ý kiến
đóng góp của nhân dân Về phần nhân dân,
cũng từ thực trạng đó mà có tâm lí thờ ơ,
không quan tâm, không thể hiện hết trách
nhiệm của mình, đóng góp qua loa, đại khái
Điều này có thể khắc phục được bằng việc
nêu cao ý thức trách nhiệm của cả hai bên và
quan trọng hơn là chuyển sang đóng góp theo
cơ chế phản biện xã hội Sau khi Dự thảo
được thông qua, cần thiết cho nhân dân được
thể hiện chính kiến một lần nữa dưới hình
thức phúc quyết Việc ban hành và thực hiện
các văn bản, quy chế về phản biện xã hội, Luật trưng cầu dân ý mà Nhà nước ta đang xúc tiến là rất có ý nghĩa để có thể vận dụng
tổ chức các khâu này
2.3 Về việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp theo kiểu đặc thù dưới hình thức ban hành các đạo luật thường nhưng theo quy trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp
Ở nước ta, trong quá trình thi hành các hiến pháp Việt Nam, ngoài những lần tổ chức sửa đổi, bổ sung hiến pháp một cách chính thức (như năm 1988, 1989 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980, năm 2001 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992) thì còn có những lần Nhà nước ta ban hành các văn bản (các luật, nghị quyết của Quốc hội, thậm chí cả nghị định của Chính phủ) để thể chế hoá đường lối, chính sách mới của Đảng có nội dung khác với quy định của Hiến pháp hiện hành như: Luật cải cách ruộng đất năm 1953, Nghị quyết của Quốc hội khoá VI quy định
áp dụng Hiến pháp năm 1959 cho cả miền Nam trong khi chờ Hiến pháp mới, các Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ti tháng 12/1990 nêu trên nhưng với ý thức như là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nên đã tiến hành theo quy trình ban hành Hiến pháp (thông qua với đa số đặc biệt) Theo chúng tôi, nên nhìn nhận phương pháp này ở mặt tích cực của nó là đã đáp ứng kịp thời việc điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh Kinh nghiệm thế giới về phương thức này cũng khá phổ biến: Hiến pháp Mỹ sửa đổi, bổ sung chủ yếu bằng phương thức này (cho đến nay đã có 27 lần ban hành luật sửa đổi, bổ sung – được gọi là các tu chính hiến pháp); Hiến pháp Liên Xô
Trang 10(cũ) những năm 1960 - 1980 của thế kỉ trước
hầu như được sửa đổi, bổ sung hàng năm bởi
các nghị quyết, luật của Xô viết tối cao Liên
Xô, Pháp lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối
cao, trong đó sửa nhiều nhất là về số lượng và
tên gọi các bộ, uỷ ban nhà nước trong Hội
đồng bộ trưởng Liên Xô; Liên bang Nga sau
khi chuyển đổi chế độ, trước khi ban hành
Hiến pháp năm 1993 đã ra Luật về quyền sở
hữu đất đai, tại đó xác lập chế độ tư hữu về
đất đai, có ý nghĩa như sửa Hiến pháp Việc
chúng ta làm như vậy trong thời gian qua
không phải thường xuyên, tràn lan mà chỉ
trong trường hợp do yêu cầu cấp thiết bắt
buộc, không thể không làm nhưng xem ra
cũng là phù hợp với thực tế của thế giới chứ
không phải là không phù hợp hoặc là “vi
hiến” Thiết nghĩ ngay trong giai đoạn hiện
nay, có những vấn đề cấp bách đặt ra nhưng
đụng đến Hiến pháp mà chúng ta chưa thể tổ
chức sửa đổi, bổ sung Hiến pháp theo kiểu
chính thức ngay được thì cũng không nên câu
nệ mà vẫn có thể giải quyết theo phương thức
này Ví dụ như trường hợp quyết định không
tổ chức hội đồng nhân dân ở huyện, quận và
phường ngay từ năm 2011 thì không nhất
thiết phải tổ chức sửa Hiến pháp (vì quá vội
vã) mà có thể ban hành Luật về tổ chức chính
quyền địa phương theo kiểu trên để quy định
Cách làm này giúp chúng ta có được cơ sở
pháp lí mới kịp thời điều chỉnh những vấn đề
đã chín muồi, lại tránh phải sửa Hiến pháp
một cách “vội vàng, cập rập”, chờ hội đủ điều
kiện thì sửa lớn Hiến pháp luôn một thể
Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy
chúng ta đã nhận thức và vận dụng được
những giá trị tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến thế giới Qua các giai đoạn phát triển, Nhà nước ta luôn coi trọng việc ban hành hiến pháp để ban bố quyền tự do dân chủ của nhân dân, hợp thức hoá chính quyền và bằng hiến pháp quy định ra phương thức tổ chức
và thực hiện quyền lực nhân dân "theo những lí tưởng dân quyền" Theo sự phát triển của xã hội Việt Nam, hiến pháp luôn được Nhà nước quan tâm sửa đổi, bổ sung để bảo đảm hiến định đầy đủ những quan hệ xã hội cơ bản làm nền tảng pháp lí cho sự phát triển của đất nước
Với hình thức là hiến pháp thành văn, hiến pháp Việt Nam thuộc loại khó sửa đổi,
bổ sung Sự khó thay đổi này bảo đảm tính pháp lí tối cao của hiến pháp so với các đạo luật khác, là cơ sở cho việc bảo đảm tính ổn định của chế độ nhà nước Tuy nhiên, quy trình đó cũng rất uyển chuyển để có thể đảm bảo cho hiến pháp luôn được kịp thời phản ánh những thay đổi lớn của xã hội So với các nước trên thế giới, quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hiến pháp nước ta cơ bản là không thua kém, ngoại trừ một số điểm mà chúng tôi đã phân tích trong bài Hi vọng những điều này sẽ tiếp tục phát huy trong thời gian tới Và sẽ là rất tốt nếu như những trình tự, thủ tục này được pháp điển hoá đầy
đủ (vào ngay trong Hiến pháp hoặc trong một đạo luật)./
(1).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 4, tr 8
(2).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 4, tr 133