1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Quy trình ban hành,sửa đổi, bổ sung các hiến pháp Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới " pptx

10 638 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung các hiến pháp Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Tác giả PGS.TS. Bùi Xuân Đức
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 184,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quyết sửa đổi, bổ sung một số điều để quy định rõ hơn một số vấn đề mà khi ban hành Hiến pháp năm 1992 chưa kịp đánh giá tổng kết để đưa vào như vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN,

Trang 1

PGS.TS Bïi Xu©n §øc *

1 Các hiến pháp Việt Nam: quá trình

ban hành, sửa đổi, bổ sung

1.1 Ban hành, sửa đổi Hiến pháp năm 1946

Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đem

lại chủ quyền cho dân tộc, dân chủ cho nhân

dân Đối với nhiều nước, sau khi giành được

chính quyền còn phải trải qua một thời gian

dài mới ban hành được hiến pháp Riêng ở

nước ta, do Đảng ta nhận thức được ý nghĩa

to lớn của hiến pháp nên mặc dù hoàn cảnh

lúc bấy giờ đang rất khó khăn, Hồ Chủ tịch

đã chủ trương nhanh chóng ban hành hiến

pháp Ngay từ phiên họp đầu tiên của Chính

phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã đề

nghị Chính phủ sớm tổ chức cuộc tuyển cử

và xây dựng hiến pháp nhằm trước hết là ban

bố quyền dân chủ của nhân dân và từ đó để

hợp thức hoá chính quyền Người nói:

“Trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế

cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém

phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến

pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền

tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến

pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ

chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với

chế độ phổ thông đầu phiếu”,(1) "Phải bầu

ngay Quốc hội, càng sớm càng tốt Bên

trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế

độ của mình Trước thế giới, Quốc hội do

dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lí không ai

có thể phủ nhận được".(2) Trước yêu cầu của thực tiễn khách quan đó, cuộc tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc hội khoá đầu tiên của nước ta đã diễn ra vào ngày 6/1/1946 và thu được kết quả tốt đẹp

Để tiến hành soạn thảo hiến pháp, theo Sắc lệnh ngày 20/9/1945, Uỷ ban dự thảo hiến pháp do Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập Tháng 11/1945 Dự án hiến pháp Việt Nam được công bố trên Công báo với mục đích để cho nhân dân Việt Nam dự vào việc lập hiến pháp của nước nhà, ai muốn sửa, kiến nghị điều gì thì gửi đến Bộ tư pháp Tại kì họp thứ hai Quốc hội khoá I ngày 9/11/1946, Dự thảo hiến pháp được thông qua Bản hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời thể hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; tất cả cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, bảo đảm các quyền tự

do dân chủ cho nhân dân và xây dựng một

* Trung tâm công tác lí luận

Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trang 2

chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân

dân Do tình hình chiến tranh đang lan rộng,

cho nên Hiến pháp năm 1946 chưa được

công bố để thực hiện một cách chính thức

Quốc hội giao cho Ban thường vụ Quốc hội

cùng với Chính phủ quy định việc thi hành

Hiến pháp Tuỳ tình hình cụ thể mà đưa các

quy định Hiến pháp ra thực hiện trên thực tế

Trong quá trình thực hiện Hiến pháp này

có việc Quốc hội (Nghị viện nhân dân) thông

qua Luật cải cách ruộng đất năm 1953 So

với Hiến pháp thì Luật này đã làm thay đổi

nội dung quy định tại Điều 12 của Hiến pháp

năm 1946 là: “Quyền tư hữu tài sản của

công dân được bảo đảm” Đây là bước đi

cần thiết để thực hiện người cày có ruộng,

chuyển dần lên chế độ công hữu về tư liệu

sản xuất phù hợp với chế độ xã hội chủ

nghĩa mà ta đang hướng tới Để đảm bảo

tính pháp lí, Luật đã được thông qua bằng

thủ tục đa số đặc biệt (2/3 tổng số đại biểu

giống như Hiến pháp)

1.2 Ban hành Hiến pháp năm 1959

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ,

miền Bắc được giải phóng đi lên xây dựng

chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tục hoàn

thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân

Thực hiện đường lối của Đảng, ở miền

Bắc đã tiến hành mạnh mẽ công cuộc khôi

phục kinh tế, phát triển văn hoá và tiến

hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và hợp tác

hoá trong công nghiệp, thương nghiệp,

nông nghiệp Đời sống chính trị của đất

nước cũng có những thay đổi lớn: sự công

khai vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện

liên minh công - nông, xác lập hệ thống chuyên chính vô sản Cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới

Hiến pháp năm 1946 được ban hành trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập, cần phải đoàn kết cả nước để hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân đến đây

có nhiều điểm không còn phù hợp Cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới

Bản Hiến pháp sửa đổi được kì họp thứ

11 Quốc hội khoá I thông qua vào ngày 31/12/1959 và được Chủ tịch nước công bố thi hành vào ngày 1/1/1960 và sau này thường được gọi là Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp năm 1959 được ban hành áp dụng cho cả nước với mục tiêu để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà nhưng chủ yếu là đối với miền Bắc Những quy định của Hiến pháp xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Do vậy, đây là hiến pháp xã hội chủ nghĩa nhưng mới trong phạm vi nửa nước

Do hoàn cảnh lúc bấy giờ là miền Nam vẫn còn đang phải tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân nên trong Hiến pháp năm

1959 vẫn còn có các quy định thể hiện tính chất dân chủ nhân dân (hay có thể nói còn rơi rớt các yếu tố dân chủ nhân dân) như việc quy định về hình thức chính thể nước ta vẫn là dân chủ nhân dân (Điều 2), vẫn còn thừa nhận hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của các nhà tư sản dân tộc, bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất

và các tư liệu sản xuất khác (Điều 11, Điều

Trang 3

14); quan hệ tổ chức quyền lực trong các cơ

quan nhà nước cấp cao chưa hoàn toàn áp

dụng triệt để nguyên tắc tập quyền xã hội

chủ nghĩa Song về tính chất, đây là bản hiến

pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta

Hiến pháp năm 1959 với những nội dung

lớn nêu trên đã ghi nhận những thắng lợi

bước đầu của sự nghiệp cách mạng xã hội

chủ nghĩa ở miền Bắc và là cơ sở pháp lí để

tiến hành các nhiệm vụ củng cố miền Bắc,

đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và

tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam

tiến tới thống nhất nước nhà

Sự phát triển sau này của cách mạng

Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời ở miền Nam

một chính thể với các thể chế: Mặt trận dân

tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính

phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền

Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn, các uỷ ban

giải phóng, có hiến pháp là Cương lĩnh của

Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt

Nam, quốc kì, quốc ca và các luật lệ riêng

Sau khi nước nhà thống nhất về mặt nhà

nước năm 1976, tại kì họp đầu tiên của Quốc

hội chung thống nhất (Quốc hội khoá VI),

Quốc hội đã ra nghị quyết áp dụng Hiến

pháp năm 1959 cho cả miền Nam trong khi

chờ có Hiến pháp mới của nước Việt Nam

thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Xét

trên góc độ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thì

đây là sự mở rộng không gian áp dụng của

Hiến pháp năm 1959 có tính chất thay thế

cho cả hệ thống chính trị Cộng hoà miền

Nam Việt Nam trước đây Đó là sự sửa đổi,

bổ sung lớn của Hiến pháp

1.3 Ban hành, sửa đổi Hiến pháp năm 1980

Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Hiến pháp năm 1959 mặc dù là hiến pháp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sau khi thống nhất nước nhà về mặt nhà nước được Quốc hội chung của cả nước quy định áp dụng trên phạm vi toàn quốc song trong điều kiện mới đã trở nên không còn phù hợp Cần thiết phải có hiến pháp mới

để ghi nhận những thành quả mà cách mạng Việt Nam đã giành được qua nửa thế

kỉ đấu tranh và làm cơ sở pháp lí cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm

vi cả nước

Bản hiến pháp mới được xúc tiến xây dựng từ những năm 1977 - 1978, có bị chững lại trong thời gian chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, qua nhiều lần lấy ý kiến của cán bộ và nhân dân đã được Quốc hội khoá VI kì họp thứ bảy thông qua ngày 18/12/1980

Hiến pháp năm 1980 quy định chế độ xã hội chủ nghĩa đã và đang xây dựng Đó là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa thứ hai Hiến pháp năm 1980 có nhiều ý nghĩa

lớn Trước hết, đó là hiến pháp của thời kì

quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên

phạm vi cả nước Thứ hai, đó là hiến pháp

thể chế hoá quyền làm chủ tập thể của nhân dân trên tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội và tham gia quản lí nhà nước Ý nghĩa thứ ba cũng không kém phần quan trọng của Hiến pháp

Trang 4

năm 1980 là hiến pháp thống nhất đất nước

về mọi mặt Nếu như với các nghị quyết

của Quốc hội năm 1976 nước ta mới thống

nhất được về mặt nhà nước còn trên các

phương diện khác về kinh tế, xã hội và cả

pháp luật giữa hai miền vẫn còn có sự khác

biệt thì hiến pháp mới ra đời đã đưa tất cả

các quan hệ trở thành thống nhất, không

còn có những khác biệt

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

của Đảng (năm 1986) đề ra đường lối đổi

mới đất nước Thực hiện đường lối đó mà

trước hết là đổi mới về kinh tế đòi hỏi phải

có chế độ, thể chế mới về kinh tế thị

trường nhiều thành phần Trong khi chưa

sửa đổi được Hiến pháp, Nhà nước ta đã

cho ban hành một số luật mà về tính chất

thì đóng vai trò như sửa Hiến pháp, điển

hình là Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật

công ti ngày 21/12/1990 (không kể trước

đó vào năm 1988 đã ban hành 03 nghị định

của Hội đồng bộ trưởng (Nghị định số 27,

28, 29) cũng có tính chất như vậy) Do ý

thức được tính “luật có tính hiến pháp” của

hai luật này nên khi thông qua Quốc hội

cũng đã theo thủ tục đa số đặc biệt giống

như thông qua Hiến pháp với 2/3 tổng số

đại biểu tán thành

Sửa đổi, bổ sung chính thức Hiến pháp

giai đoạn này là Nghị quyết của Quốc hội

ngày 22/12/1988 sửa đổi về Lời nói đầu và

Nghị quyết ngày 30/6/1989 sửa đổi, bổ sung

7 điều của Hiến pháp trong đó quy định mới

về hội đồng nhân dân có thường trực hội

đồng nhân dân

1.4 Ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, nhận thấy những hạn chế, sai lầm do chủ quan, nóng vội trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta (và cả các nước xã hội chủ nghĩa khác), Đảng ta đã đề ra và phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Công cuộc đổi mới được bắt đầu bằng đổi mới kinh tế với việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường dưới sự quản lí của Nhà nước và bước đầu đã thu được những thắng lợi đáng

kể Để thúc đẩy và tạo điều kiện quản lí có hiệu quả nền kinh tế thị trường chúng ta bắt tay vào công cuộc đổi mới chính trị, cụ thể đổi mới bộ máy nhà nước trước hết là bộ máy hành chính, cải cách thủ tục hành chính Tất cả những thay đổi đó đặt ra yêu cầu sửa đổi Hiến pháp năm 1980 bảo đảm thích ứng với điều kiện mới

Qua nhiều lần tiếp thu, chỉnh lí, tháng 12/1991 bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần thứ 3 đã được đưa ra lấy ý kiến nhân dân Trên cơ sở tiếp thu đóng góp của nhân dân,

Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp đã đưa ra bản

Dự thảo lần thứ 4 trình Quốc hội khoá VIII xem xét thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 15/4/1992 và được công bố thi hành ngày 18/4/1992 Bản Hiến pháp này được gọi chính thức là Hiến pháp năm 1992

Sau gần 10 năm thực hiện, đến cuối năm 2001, Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội khoá X, kì họp thứ 10 ra Nghị

Trang 5

quyết sửa đổi, bổ sung một số điều để quy

định rõ hơn một số vấn đề mà khi ban hành

Hiến pháp năm 1992 chưa kịp đánh giá tổng

kết để đưa vào (như vấn đề xây dựng nhà

nước pháp quyền XHCN, đổi mới viện

kiểm sát nhân dân), quy định rõ hơn về chế

độ kinh tế, văn hoá, xã hội… nhằm đáp ứng

hơn nữa các yêu cầu của giai đoạn phát

triển mới của đất nước

Hiến pháp năm 1992 mở đầu một giai

đoạn phát triển mới của cách mạng Việt

Nam, là Hiến pháp đẩy mạnh công cuộc đổi

mới toàn diện đất nước Hiến pháp đã củng

cố những thành tựu bước đầu trong công

cuộc đổi mới kinh tế, chính trị, văn hoá, từ

sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

của Đảng cộng sản Việt Nam, định rõ những

nhiệm vụ cho những năm tới theo Cương

lĩnh và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội

của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

Được ban hành trong tình hình thế giới

đang có những biến động phức tạp, trong

điều kiện công cuộc đổi mới mặc dù đã

dành được một số thắng lợi nhưng còn rất

nhiều khó khăn, thách thức, Hiến pháp

năm 1992 là biểu hiện sự đồng tâm, nhất

trí cao độ của Đảng và nhân dân ta trong

việc tiếp tục con đường xây dựng chủ

nghĩa xã hội Để tạo cơ sở pháp lí cho sự

đổi mới tiếp tục, phục vụ sự nghiệp hội

nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hoàn

thiện hơn nữa hệ thống chính trị, thể chế

nhà nước trong giai đoạn mới đang đặt ra

việc tiếp tục sửa đổi hiến pháp

2 Một số nhận xét, đánh giá quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hiến pháp Việt Nam qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới

2.1 Về thẩm quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp

Theo quy định của tất cả hiến pháp Việt Nam (Hiến pháp năm 1946 quy định ở Lời nói đầu và Điều 70, các hiến pháp sau tương ứng là các điều 50, 83 và 84), việc ban hành, sửa đổi hiến pháp là do Nghị viện nhân dân/Quốc hội quyết định với thủ tục bỏ phiếu đa số đặc biệt (riêng đối với Hiến pháp năm 1946 việc ban hành hoặc sửa đổi còn phải đưa ra nhân dân phúc quyết (các điều

21, 32, 70))

Nếu so với kinh nghiệm thế giới về mặt này thì có thể thấy:

Ngoại trừ các nước có hiến pháp bất thành văn, tức hiến pháp là tập hợp các đạo luật được các cơ quan nhà nước (nghị viện, nguyên thủ quốc gia, chính phủ) ban hành theo thủ tục thông thường như một đạo luật thậm chí còn là các tập tục, truyền thống, các

án lệ, tín điều tôn giáo như ở Anh, Israel… các nước có hiến pháp thành văn đều đòi hỏi chủ thể ban hành là chủ thể rất đặc biệt với trình tự thông qua chặt chẽ Chủ thể đó trước hết là nhân dân (nhiều nước, ví dụ như nước Nga hiện nay) thông qua hình thức trưng cầu dân ý Thứ đến là quốc hội hay hội đồng được bầu ra chỉ để thông qua hiến pháp gọi

là quốc hội/hội đồng lập hiến sau đó giải tán

để lập ra quốc hội lập pháp theo hiến pháp (ví dụ, nước Mỹ và ở nước ta năm 1946,

Trang 6

Quốc hội được bầu cũng là quốc hội lập

hiến, lẽ ra sẽ được thay thế bởi nghị viện

nhân dân theo quy định của Hiến pháp được

thông qua song do hoàn cảnh kháng chiến

đang lan rộng nên Hiến pháp sau khi thông

qua đã không được phúc quyết, không công

bố thi hành, do đó nghị viện nhân dân cũng

không được thành lập và quốc hội lập hiến

tiếp tục tồn tại trở thành quốc hội lập pháp)

Tiếp đến là Đại hội nhân dân – cơ quan đại

diện cũng được bầu ra theo nhiệm kì nhưng

chủ yếu tập trung vào chức năng lập hiến,

bầu các chức sắc cao cấp của Nhà nước,

quyết định những vấn đề trọng đại của đất

nước trong đó quan trọng là việc phê chuẩn

những hiệp ước quốc tế quan trọng (ví dụ

như Đại hội nhân dân ở Trung Quốc, Đại hội

đại biểu nhân dân Liên Xô thời kì Goocbachốp,

Đại hội nhân dân Indonesia…) và cuối cùng

là quốc hội/nghị viện lập pháp (ở đa số các

nước) Đối với cơ quan lập hiến là quốc

hội/nghị viện lập pháp thì thường đòi hỏi hiến

pháp được thông qua với thủ tục đa số đặc

biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu, sau đó

còn phải được nguyên thủ quốc gia (vua, tổng

thống) xem xét công bố hoặc đưa ra cho nhân

dân phúc quyết (như là phê chuẩn)

Hiến pháp nước ta quy định cho Quốc

hội có quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp

với thủ tục đa số đặc biệt (2/3) cơ bản cũng

là phù hợp với xu thế chung trên thế giới

Hơn nữa, Quốc hội nước ta được coi là cơ

quan quyền lực nhà nước cao nhất thì quyền

đó là hợp lí Tuy nhiên trên diễn đàn khoa

học nhiều ý kiến đề nghị nên để cho nhân

dân hoặc chí ít phải là quốc hội lập hiến như Quốc hội năm 1946 ban hành hiến pháp, còn việc sửa đổi, bổ sung thì có thể tiếp tục để cho Quốc hội đương nhiệm thực hiện nhưng sau đó phải được đưa ra để cho nhân dân phúc quyết

Về ý kiến trên, chúng tôi cho rằng xét trên phương diện dân chủ thì rất đáng lưu ý song trên phương diện thực tế thì cần phải có những điều kiện nhất định Việc tổ chức thông qua hiến pháp bằng trưng cầu dân ý đòi hỏi phải có luật trưng cầu dân ý và tổ chức công phu, kết quả phụ thuộc nhiều vào

sự tuyên truyền, vận động, giải thích, đặc biệt còn phụ thuộc vào trình độ dân trí Việc thành lập hội đồng/quốc hội lập hiến để thông qua hiến pháp cũng ít phổ biến trên thế giới vì việc thành lập (bầu cử) ra hai quốc hội với thời gian rất gần nhau thường phức tạp Phổ biến hơn cả vẫn là trao quyền ban hành và sửa đổi hiến pháp cho đại hội nhân dân, nghị viện/quốc hội lập pháp tức lấy quốc hội lập pháp làm quốc hội lập hiến

Để bảo đảm dân chủ và chặt chẽ cũng như tính tối cao của hiến pháp, các nước theo cách này thường quy định thủ tục thông qua, sửa đổi hiến pháp một cách chặt chẽ hơn Nếu với luật, thường việc biểu quyết thông qua chỉ cần có quá bán tổng số đại biểu quốc hội lập pháp đồng ý là đủ thì đối với hiến pháp là phải 2/3, hoặc 3/4 tổng số đại biểu Hơn nữa, sau khi đã được thông qua thì hiến pháp còn phải được đưa ra cho nguyên thủ quốc gia (vua, tổng thống) phê chuẩn hoặc nhân dân bỏ phiếu phúc quyết Nước ta,

Trang 7

nếu có vận dụng thì cũng nên như vậy, tức

vẫn để cho Quốc hội ban hành, sửa đổi, bổ

sung hiến pháp nhưng tạo điều kiện tốt hơn

cho sự tham gia của đông đảo nhân dân vào

quá trình này dưới hai hình thức: thảo luận

toàn dân và sau đó là nhân dân phúc quyết

2.2 Về trình tự, thủ tục ban hành và sửa

đổi hiến pháp

Xuất phát từ quyền lập hiến duy nhất của

Quốc hội, việc soạn thảo, thông qua, công bố

hiến pháp, sửa đổi hiến pháp và trình tự, thủ

tục giải thích hiến pháp đều do Quốc hội quyết

định và quy định Tuy nhiên, cho đến nay,

Quốc hội chưa ban hành một luật hoặc nghị

quyết quy định cụ thể về trình tự, thủ tục này

Quy trình được thực hiện trong các lần ban

hành và sửa đổi, bổ sung hiến pháp chủ yếu

đều dựa vào các quy định mang tính nguyên

tắc của hiến pháp, có kế thừa và phát triển,

đổi mới phù hợp với điều kiện cụ thể nhằm

đề cao dân chủ, đồng thời bảo đảm chặt chẽ

về nguyên tắc pháp lí Có thể thấy quy trình

lập hiến nước ta gồm các thủ tục sau đây:

+ Đề nghị và quyết định việc ban hành

hiến pháp hoặc sửa đổi, bổ sung hiến pháp:

Việc này do nhiều chủ thể khác nhau

thực hiện:

- Do Chính phủ đề nghị (năm 1945 đề nghị

soạn thảo, ban hành Hiến pháp năm 1946);

- Do cơ quan thường trực của Quốc hội

đề nghị (năm 1957 Ban thường vụ Quốc hội

đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 để ban

hành Hiến pháp năm 1959 và năm 2001 Uỷ

ban thường vụ Quốc hội đề nghị sửa đổi, bổ

sung một số điều của Hiến pháp năm 1992);

- Do Chủ tịch Quốc hội đề nghị (năm

1989 đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1980

để ban hành Hiến pháp năm 1992)

Sau khi xem xét đề nghị về việc chuẩn bị ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, nếu Quốc hội tán thành thì Quốc hội thành lập Uỷ ban

dự thảo hiến pháp với thành phần là những người đại diện các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, các cơ quan của Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội khác, một số chuyên gia pháp lí có trình độ cao, có kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng pháp luật… Chủ tịch Uỷ ban dự thảo hiến pháp có thể là Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch Quốc hội Có thể nói, với thành phần như vậy, Uỷ ban dự thảo hiến pháp thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc Uỷ ban này có nhiệm vụ soạn thảo

dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp

và tờ trình; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các ngành, các cấp và nhân dân để chỉnh lí dự thảo văn bản trình Quốc hội xem xét, thông qua + Soạn thảo dự án (tờ trình và dự thảo văn bản):

Việc soạn thảo dự thảo về hiến pháp được tiến hành theo trình tự: tổng kết thực tiễn việc thi hành hiến pháp; nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ

xã hội thuộc phạm vi nội dung cần đề nghị

Trang 8

sửa đổi, bổ sung; lập đề cương soạn thảo

văn bản, biên soạn dự thảo văn bản; chuẩn

bị tờ trình và tài liệu liên quan đến dự án

(dự thảo hiến pháp hoặc nghị quyết sửa đổi,

bổ sung hiến pháp) và trình ra trước kì họp

Quốc hội Khác với quy trình xây dựng luật,

pháp lệnh, quy trình lập hiến không có công

đoạn thẩm định, thẩm tra

+ Lấy ý kiến đóng góp của các ngành,

các cấp, các tổ chức đoàn thể nhân dân; công

bố lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân đối với

dự thảo hiến pháp/hiến pháp sửa đổi hoặc dự

thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều

của hiến pháp:

Đây là thủ tục không thể thiếu trong hoạt

động lập hiến và lập pháp nói chung Hoạt

động này có thể diễn ra tại tất cả các công

đoạn của quy trình lập hiến với nhiều hình

thức khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp

nhưng tập trung nhất là sau khi dự thảo được

công bố để nhân dân, các ngành, các cấp

đóng góp ý kiến Việc lấy ý kiến của nhân

dân, các ngành, các cấp thường được tiến

hành sau khi Quốc hội đã thảo luận, cho ý

kiến bước đầu vào dự thảo hiến pháp hoặc

dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số

điều của hiến pháp Ý kiến đóng góp của các

ngành các cấp, các tổ chức đoàn thể nhân

dân và nhân dân nói chung được Uỷ ban dự

thảo hiến pháp tổng hợp đầy đủ, tổ chức

nghiên cứu, tiếp thu để hoàn thiện dự thảo

văn bản, bảo đảm chất lượng cả về nội dung

và hình thức, thực sự là sản phẩm kết tinh trí

tuệ của toàn dân, trình Quốc hội xem xét

+ Xem xét, thông qua dự thảo hiến pháp/

hiến pháp sửa đổi hoặc dự thảo nghị quyết

sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp: Khi tiến hành xem xét, thông qua dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp, Quốc hội thường vận dụng các quy định của việc xem xét, thông qua luật Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có vị trí đặc biệt quan trọng nên Quốc hội thường xem xét, thông qua tại hai kì họp Theo đó, tại kì họp thứ nhất, Uỷ ban dự thảo hiến pháp trình Quốc hội về dự

án và Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Trong thời gian giữa hai kì họp, dự thảo hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp được công bố để lấy ý kiến nhân dân; Uỷ ban dự thảo hiến pháp tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, của nhân dân, các ngành, các cấp để chỉnh lí dự thảo văn bản Tại kì họp thứ hai, Uỷ ban dự thảo hiến pháp trình Quốc hội báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lí; Quốc hội nghe đọc bản dự thảo

đã được tiếp thu, chỉnh lí và thảo luận về một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau; bản

dự thảo văn bản được chỉnh lí lần cuối trên

cơ sở tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội sau đó được trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua

+ Công bố hiến pháp/hiến pháp sửa đổi hoặc nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp:

Việc công bố hiến pháp mới hoặc nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp do Chủ tịch nước (hoặc Chủ tịch Hội đồng nhà nước) thực hiện Riêng Hiến pháp

Trang 9

năm 1946, do điều kiện đất nước có chiến

tranh nên sau khi thông qua Quốc hội đã ra

nghị quyết uỷ nhiệm Chính phủ và Ban

thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm tổ chức

thi hành Hiến pháp một cách thích hợp

Với những trình tự, thủ tục như trên, có

thể thấy quy trình lập hiến nước ta cũng

không khác nhiều so với quy trình chung của

các nước trên thế giới So với quy trình ban

hành bằng trưng cầu dân ý hay bằng quốc hội

lập hiến hoặc đại hội nhân dân thì quy trình

này có những ưu việt nhất định: ít rủi ro hơn

(so với trưng cầu dân ý vì trong trưng cầu dân

ý nhân dân chỉ có một sự lựa chọn đồng ý

hoặc không nên kết quả phụ thuộc rất lớn vào

trình độ dân trí của nhân dân), tranh thủ được

nhiều ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân

dân (so với quốc hội lập hiến và đại hội nhân

dân vì trong cơ chế này đã có đông đảo đại

diện nên thường không tổ chức lấy ý kiến

nhân dân nữa) Nếu có khiếm khuyết thì đó là

cơ chế này phần nhiều còn mang nặng tính

chủ quan của những cơ cấu có thẩm quyền,

phần nhiều theo ý đã định sẵn, thiếu tôn trọng

và không tổ chức tiếp thu nghiêm túc ý kiến

đóng góp của nhân dân Về phần nhân dân,

cũng từ thực trạng đó mà có tâm lí thờ ơ,

không quan tâm, không thể hiện hết trách

nhiệm của mình, đóng góp qua loa, đại khái

Điều này có thể khắc phục được bằng việc

nêu cao ý thức trách nhiệm của cả hai bên và

quan trọng hơn là chuyển sang đóng góp theo

cơ chế phản biện xã hội Sau khi Dự thảo

được thông qua, cần thiết cho nhân dân được

thể hiện chính kiến một lần nữa dưới hình

thức phúc quyết Việc ban hành và thực hiện

các văn bản, quy chế về phản biện xã hội, Luật trưng cầu dân ý mà Nhà nước ta đang xúc tiến là rất có ý nghĩa để có thể vận dụng

tổ chức các khâu này

2.3 Về việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp theo kiểu đặc thù dưới hình thức ban hành các đạo luật thường nhưng theo quy trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp

Ở nước ta, trong quá trình thi hành các hiến pháp Việt Nam, ngoài những lần tổ chức sửa đổi, bổ sung hiến pháp một cách chính thức (như năm 1988, 1989 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1980, năm 2001 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992) thì còn có những lần Nhà nước ta ban hành các văn bản (các luật, nghị quyết của Quốc hội, thậm chí cả nghị định của Chính phủ) để thể chế hoá đường lối, chính sách mới của Đảng có nội dung khác với quy định của Hiến pháp hiện hành như: Luật cải cách ruộng đất năm 1953, Nghị quyết của Quốc hội khoá VI quy định

áp dụng Hiến pháp năm 1959 cho cả miền Nam trong khi chờ Hiến pháp mới, các Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ti tháng 12/1990 nêu trên nhưng với ý thức như là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nên đã tiến hành theo quy trình ban hành Hiến pháp (thông qua với đa số đặc biệt) Theo chúng tôi, nên nhìn nhận phương pháp này ở mặt tích cực của nó là đã đáp ứng kịp thời việc điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh Kinh nghiệm thế giới về phương thức này cũng khá phổ biến: Hiến pháp Mỹ sửa đổi, bổ sung chủ yếu bằng phương thức này (cho đến nay đã có 27 lần ban hành luật sửa đổi, bổ sung – được gọi là các tu chính hiến pháp); Hiến pháp Liên Xô

Trang 10

(cũ) những năm 1960 - 1980 của thế kỉ trước

hầu như được sửa đổi, bổ sung hàng năm bởi

các nghị quyết, luật của Xô viết tối cao Liên

Xô, Pháp lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối

cao, trong đó sửa nhiều nhất là về số lượng và

tên gọi các bộ, uỷ ban nhà nước trong Hội

đồng bộ trưởng Liên Xô; Liên bang Nga sau

khi chuyển đổi chế độ, trước khi ban hành

Hiến pháp năm 1993 đã ra Luật về quyền sở

hữu đất đai, tại đó xác lập chế độ tư hữu về

đất đai, có ý nghĩa như sửa Hiến pháp Việc

chúng ta làm như vậy trong thời gian qua

không phải thường xuyên, tràn lan mà chỉ

trong trường hợp do yêu cầu cấp thiết bắt

buộc, không thể không làm nhưng xem ra

cũng là phù hợp với thực tế của thế giới chứ

không phải là không phù hợp hoặc là “vi

hiến” Thiết nghĩ ngay trong giai đoạn hiện

nay, có những vấn đề cấp bách đặt ra nhưng

đụng đến Hiến pháp mà chúng ta chưa thể tổ

chức sửa đổi, bổ sung Hiến pháp theo kiểu

chính thức ngay được thì cũng không nên câu

nệ mà vẫn có thể giải quyết theo phương thức

này Ví dụ như trường hợp quyết định không

tổ chức hội đồng nhân dân ở huyện, quận và

phường ngay từ năm 2011 thì không nhất

thiết phải tổ chức sửa Hiến pháp (vì quá vội

vã) mà có thể ban hành Luật về tổ chức chính

quyền địa phương theo kiểu trên để quy định

Cách làm này giúp chúng ta có được cơ sở

pháp lí mới kịp thời điều chỉnh những vấn đề

đã chín muồi, lại tránh phải sửa Hiến pháp

một cách “vội vàng, cập rập”, chờ hội đủ điều

kiện thì sửa lớn Hiến pháp luôn một thể

Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy

chúng ta đã nhận thức và vận dụng được

những giá trị tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến thế giới Qua các giai đoạn phát triển, Nhà nước ta luôn coi trọng việc ban hành hiến pháp để ban bố quyền tự do dân chủ của nhân dân, hợp thức hoá chính quyền và bằng hiến pháp quy định ra phương thức tổ chức

và thực hiện quyền lực nhân dân "theo những lí tưởng dân quyền" Theo sự phát triển của xã hội Việt Nam, hiến pháp luôn được Nhà nước quan tâm sửa đổi, bổ sung để bảo đảm hiến định đầy đủ những quan hệ xã hội cơ bản làm nền tảng pháp lí cho sự phát triển của đất nước

Với hình thức là hiến pháp thành văn, hiến pháp Việt Nam thuộc loại khó sửa đổi,

bổ sung Sự khó thay đổi này bảo đảm tính pháp lí tối cao của hiến pháp so với các đạo luật khác, là cơ sở cho việc bảo đảm tính ổn định của chế độ nhà nước Tuy nhiên, quy trình đó cũng rất uyển chuyển để có thể đảm bảo cho hiến pháp luôn được kịp thời phản ánh những thay đổi lớn của xã hội So với các nước trên thế giới, quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hiến pháp nước ta cơ bản là không thua kém, ngoại trừ một số điểm mà chúng tôi đã phân tích trong bài Hi vọng những điều này sẽ tiếp tục phát huy trong thời gian tới Và sẽ là rất tốt nếu như những trình tự, thủ tục này được pháp điển hoá đầy

đủ (vào ngay trong Hiến pháp hoặc trong một đạo luật)./

(1).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 4, tr 8

(2).Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 4, tr 133

Ngày đăng: 23/02/2014, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w