1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật; thực hiện pháp luật; truy cứu trách nhiệm pháp lý; giáo dục pháp luật

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 917,8 KB
File đính kèm Phân tích ý nghĩa của VBQPPL.rar (816 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỀ BÀI “Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc Xác lập quan hệ pháp luật; Thực hiện pháp luật; Truy cứu trách nhiệm pháp lý; Giáo dục pháp luật” HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP Hà Nội, năm 2022 BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT BLHS Bộ luật Hình sự BLTTHS Bộ luật Tố tụng Hình sự TANDTC Tòa án Nhân dân tối cao VKSNDTC Viện kiểm sát Nhân dân tối cao TNHS Trách nhiệm hình sự VBQPP.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ

PHÁP LUẬT

ĐỀ BÀI

“Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật; Thực hiện pháp luật; Truy

cứu trách nhiệm pháp lý; Giáo dục pháp luật”.

Hà Nội, năm 2022

Trang 2

BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật 1

1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 1

1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật 2

1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật 5

II Vai trò, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật 5

2.1 Văn bản quy phạm phạm luật xác lập quan hệ pháp luật 5

2.2 Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở thực hiện pháp luật 6

2.3 Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý 8

2.4 Văn bản quy phạm phạm luật đảm bảo giáo dục pháp luật 9

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 4

MỞ ĐẦU

Theo dòng lịch sử, khi Nhà nước ra đời thì pháp luật cũng ra đời Vì vậy, có thể nói pháp luật là sản phẩm của xã hội tiến bộ, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội

và thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền Hiện nay, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại; trong xu thế toàn cầu hóa vai trò của pháp luật lại vô cùng quan trọng Đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam, từ sau chiến tranh, nước ta đang trên đà hồi phục và phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xây dựng Xã hội chủ nghĩa, đề cao và củng cố Nhà nước pháp quyền Những năm qua, Nhà nước ban hành một hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật để hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật Thực tiễn cho thấy, văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống nguồn luật của Việt Nam

Chính vì lẽ đó, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm

pháp luật đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật; Thực hiện pháp luật; Truy cứu trách nhiệm pháp lý; Giáo dục pháp luật” để có đánh giá khách quan nhằm nâng cao

vai trò của văn bản quy phạm pháp luật đối với các khía cạnh pháp lý

NỘI DUNG

I Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật

1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Văn bản là văn bản một

chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn văn được cấu tạo theo quy tắc của một ngôn ngữ, tạo nên thông báo có tính hệ thống” 1 Còn “quy phạm” là điều quy định làm khuôn thước để theo Ví dụ: “quy phạm đạo đức, quy phạm xã hội” 2 Theo ngôn ngữ Tiếng Anh văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có nghĩa là

“legal normative document” thuật ngữ này thường gắn liền với Việt Nam Còn ở

Anh, Canada, và Úc người ta dùng thuật ngữ “legislation” để chỉ “văn bản quy phạm pháp luật, trong đó “legislation” được coi là có 2 loại: các đạo luật do Quốc hội ban hành (statutes) và các văn bản pháp quy (subordinate legislation hoặc statutory instruments hoặc legislative instruments) (dưới nhiều tên gọi khác nhau như: “Lệnh”, “Bộ quy tắc”, “Quy chế ) được ban hành (bởi Nội các, các Bộ trưởng, chính quyền địa phương ) theo cơ chế lập pháp ủy quyền3

1 Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005;

2 Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển tiếng việt, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

3 Chính Phủ (2014), Tờ trình Dự án luật văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội

Trang 5

Theo giáo trình của trường đại học Luật Hà Nội định nghĩa:“Văn bản quy

phạm pháp luật là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, trong đó có các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội” 4

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa: “Văn bản

quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” 5

1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật

Có thể nói VBQPPL là một loại văn bản pháp lý đặc biệt, VBQPPL vừa là nguồn, vừa là hình thức pháp luật quan trọng nhất Đây là hình thức pháp luật thành văn, thể hiện rõ nét nhất tính chất của pháp luật Do đó, VBQPPL có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của pháp luật6 Theo góc nhìn tổng quát, pháp luật nói chung hay VBQPPL nói riêng đều có 04 điểm đặc trưng cơ bản sau: (i) Tính quyền lực, (ii) Tính quy phạm, (iii) Tính ý chí, (iiii) Tính xã hội

Thứ nhất, Tính quyền lực (tính Nhà nước, tính cưỡng chế) bởi VBQPPL phải

do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện Do đó,

VBQPPL khi được ban hành và có hiệu lực sẽ thể hiện quyền lực Nhà nước, hay sử dụng sức mạnh của Nhà nước để tác động đến tất cả mọi người và các mối quan hệ pháp luật Theo quy định của Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật những chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL bao gồm: “Quốc Hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp Ngoài ra, theo quy định của pháp luật còn một

số cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phối hợp với nhau để ban thành thông tư liên tịch”7 Như vậy VBQPPL là văn bản pháp luật thành văn mà chỉ những chủ thể do pháp luật quy định mới có thẩm quyền ban hành Hay có thể hiểu, những văn bản

4 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm

2020, tr 289 - 290

5 Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

6 Trần Thanh Vân, Văn bản quy phạm pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội, Năm 2014

7 Xem: Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020

2

Trang 6

được ban hành bởi những chủ thể không có thẩm quyền thì đương nhiên không được coi là VBQPPL8

Thứ hai, Tính quy phạm thể hiện trên khía cạnh VBQPPL là hệ thống các

quy tắc xử sự; cụ thể đó là những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ

thể, rõ ràng, thống nhất không chung chung VBQPPL là giới hạn, là “hành lang

pháp lý” để tất cả mọi người tuân theo với nguyên tắc: "Mọi người được làm tất cả mọi việc trừ những điều mà pháp luật nghiêm cấm", "mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Giới hạn đó được xác định ở nhiều khía cạnh khác nhau như cho

phép, cấm đoán, bắt buộc9

Thứ ba, Tính ý chí bắt nguồn từ việc VBQPPL hay pháp luật nói chung đều

do một giai cấp, một lực lượng cầm quyền ban hành, như vậy VBQPPL sẽ phần nào thể hiện ý chí và phục vụ cho mục đích của giai cấp đó

Thứ tư, Tính xã hội: Mặc dù VBQPPL có tính nhà nước, tính ý chí, nhưng

tính xã hội vẫn là một đặc trưng cơ bản không thể thiếu Bởi nếu không có tính xã hội mà chỉ phục vụ cho lợi ích của một bộ phận tầng lớp giai cấp thì pháp luật nói chung hay VBQPPL nói riêng không thể tồn tại VBQPPL chỉ tồn tại khi phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội

Như vậy, những đặc trưng nêu trên là những đặc trưng cơ bản nhất của pháp luật nói chung và các nguồn pháp luật nói riêng, cụ thể ở đây là VBQPPL Tuy nhiên, VBQPPL vẫn có điểm đặc trưng riêng biệt mà các loại văn bản khác không có Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan: “một văn bản được coi là VBQPPL khi

có 4 tiêu chí: (1) do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; (2) theo trình tự, thủ tục, hình thức, tên gọi được luật định; (3) chứa đựng quy tắc xử sự chung; và (4) được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu”10

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành 11

8 Điều 2 Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2020)

9 Bùi Quang Xuân, Tập bài giảng: “Tài liệu ôn thi tốt nghiệp cử nhân Luật”, Khoa Luật - Trường Đại học Trà Vinh,

Tp Hồ Chí Minh, năm 2018

10 Nguyễn Minh Đoan (2013), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 99-100

11 Ở đặc điểm này tác giả đã phân tích chi tiết ở phần trên Có thể nói đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất

Trang 7

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc

xử sự mang tính bắt buộc chung (quy phạm pháp luật).

VBQPPL là những quy tắc xử sự được ban hành không phải cho một cho một trường hợp cụ thể, những tổ chức hay cá nhân cụ thể, mà cho tất cả các trường hợp

và đối với tất cả những tổ chức hay cá nhân phải thực hiện khi gặp phải những tình

huống mà pháp luật đã dự liệu Do vậy, VBQPPL được thực hiện nhiều lần trong

đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu Đây là đặc điểm thể hiện

sự khác biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản khác của Nhà nước như văn bản áp dụng pháp luật, văn bản hành chính… là các văn bản không chứa quy phạm pháp luật nên không phải là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ: Quyết định bổ nhiệm, quyết định khen thưởng, giải quyết chế độ hưu trí, hay một bản án, không phải là những văn bản quy phạm pháp luật12

Thứ ba, VBPL được ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức dưới dạng văn bản theo quy định của pháp luật.

VBQPPL được ban hành theo hình thức có nghĩa là đúng tên loại văn bản và đúng thể thức, kĩ thuật trình bày Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chỉ những cơ quan được quy định trong Luật này mới có thẩm quyền và phạm vi ban hành VBQPPL cũng được quy định rõ Đồng thời, theo quy định, những VBQPPL phải có đủ và trình bày đúng những yếu tố như: quốc hiệu; tiêu ngữ; tên cơ quan ban hành; số, kí hiệu văn bản; địa danh, thời gian ban hành; tên văn bản;…

“VBQPPL được ban hành phải tuân thủ về trình tự, thủ tục ban hành tuân theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 VBQPPL được ban hành theo trình tự: lập chương trình xây dựng văn bản; soạn thảo; lấy ý kiến đóng góp; thẩm định, thẩm tra; trình, thông qua, kí chứng thực và ban hành”13

Bên cạnh những đặc điểm trên, VBQPPL còn có những ưu điểm so với các nguồn luật khác như chính xác, rõ ràng, minh bạch, đơn giản khi ban hành hoặc sửa đổi, có sự thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, dễ phổ biến và dễ áp dụng,

… Với những điểm ưu việt như trên, ở nhiều quốc gia VBQPPL được sử dụng là

12 Nguyễn Minh Đoan, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 07 (168)/Kỳ 1, Nghiên cứu lập pháp, tháng 04/2010, tr 6

13 Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, năm 2021, tr 20

4

Trang 8

nguồn luật chủ yếu, một số quốc gia lại không coi VBQPPL là nguồn pháp luật chủ yếu Ở Việt Nam, VBQPPL là nguồn luật chủ đạo và cơ bản nhất

1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật

a) Các văn bản luật

Các văn bản luật do Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất nước ta ban hành Các văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất, tất cả các văn bản khác khi ban hành phải căn cứ vào văn bản luật, không được trái, không được mâu thuẫn với các quy định trong các văn bản luật14

Văn bản luật có hai hình thức Hiến pháp và các đạo luật

Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật Nó quy định những vấn đề cơ bản nhất của quốc gia như hình thức, bản chất nhà nước, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng15 Các đạo luật, bộ luật: được ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp, điều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh vực đời sống nhà nước và xã hội

Ví dụ: Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội;…

b) Các văn bản dưới luật

Là những văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình

tự, thủ tục và hình thức được luật quy định và có hiệu lực pháp lý thấp hơn các văn bản luật Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng,…

II Vai trò, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật

2.1 Văn bản quy phạm phạm luật xác lập quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí, bởi quan hệ pháp luật có thể được thiết lập giữa các cá nhân, tổ chức với nhau hoặc giữa các cá nhân, tổ chức với Nhà nước Trong mọi trường hợp những quan hệ pháp luật này đều chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, phải việc xác lập, thực hiện các quan hệ đều phải căn

cứ theo các VBQPPL, mà như đã chứng minh VBQPPL mang ý chí của Nhà nước

14 Điều 69 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

15 Vị trí, chức năng, của Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013, Hệ thống văn bản - Cổng thông tin điện tử Bộ Công

an, truy cập ngày 11/03/2021,

Nguồn Website: http://bocongan.gov.vn/vanban/Pages/van-ban-moi.aspx?ItemID=216#:~:text

Trang 9

Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật Chỉ khi nào quan

hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh thì mới trở thành quan hệ pháp luật Việc xác định quan hệ xã hội nào cần được điều chỉnh phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, do đó mặc dù quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, nhưng không phải tất cả chúng đều trở thành quan hệ pháp luật

Ví dụ: Trong quan hệ pháp luật dân sự, chẳng hạn trong giao dịch mua bán bất động sản giữa bên A và bên B, pháp luật có những VBQPPL điều chỉnh như BLDS, Luật Đất đai,… hay trong quan hệ pháp luật về hợp đồng, giữa công ty A

và công ty B pháp luật điều chỉnh có thể là BLDS, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại,… lúc này VBQPPL sẽ là căn cứ để các bên tạo lập hợp đồng, xây dựng điều khoản, dự liệu và thỏa thuận những phương án, nghĩa vụ khi xảy ra tranh chấp Khi đã xác lập được quan hệ pháp luật theo đúng thủ tục, pháp luật sẽ bảo vệ các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Có thể thấy, VBQPPL có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng và xác lập các quan hệ pháp luật mới Bên cạnh đó, VBQPPL còn có ý nghĩa việc dự liệu, định hướng cho sự phát triển của quan hệ xã hội Đời sống xã hội vốn rất đa dạng

và thay đổi từng ngày Những mối quan hệ mới với các hình thức mới đòi hỏi các nhà lập pháp cần có sự dự liệu, “đi trước đón đầu” để tạo ra những “hành lang pháp lý” phù hợp với thực tiễn và bảo đảm cho quyền lợi của các bên trong quan

hệ pháp luật

2.2 Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở thực hiện pháp luật

“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho quy định của pháp luật trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” 16 Việc

thực hiện pháp luật có ý nghĩa to lớn trong đời sống Như đã phân tích, VBQPPL vừa là nguồn, vừa là hình thức của pháp luật, bản thân các văn bản đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung và bắt buộc phải thực hiện đối với mọi đối tượng mà nó hướng tới Tuy nhiên, sau khi ban hành VBQPPL các quy định, điều khoản trên văn bản không thể tự mình hiện thực hóa, mà cần có chủ thể là con người thực hiện pháp luật Mục đích của việc thực hiện pháp luật là nhằm thực tế hóa, đưa những

16 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm

2020, tr 406

6

Trang 10

quy định của pháp luật tổn tại trên văn bản đi vào đời sống Đồng thời, thông qua việc thực hiện pháp luật các chủ thể có thể được thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép và được pháp luật bảo vệ Nếu như không có VBQPPL thì sẽ không có

hệ thống quy tắc xử sự chung để các chủ thể có thể thực hiện pháp luật Hay nói một cách dễ hiểu, VBQPPL có vai trò làm chuẩn mực, định hướng con người những việc phải làm, việc được làm và không được làm Khi tuân thủ những điều trên, tức là con người đã thực hiện pháp luật Đây là mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước - chủ thể có thẩm quyền ban hành pháp luật, VBQPPL thể hiện ý chí của Nhà nước và buộc chủ thể khác phải thực hiện (mối quan hệ “mệnh lệnh – phục tùng”)

Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật chính là sự cụ thể hóa các mục tiêu được đề ra Văn bản quy phạm pháp luật quy định càng rõ ràng thì thực hiện pháp luật càng dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều, nói cách khác VBQPPL chính là “kim chỉ nam” cho việc thực hiện pháp luật, đảm bảo được khả năng tiếp cận pháp luật cho công dân

Mặt khác, với tư cách là tổ chức thực hiện quyền lực công, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo quyền thực hiện pháp luật của công dân Khi quyền thực hiện pháp luật của công dân đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, công dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện pháp luật Và để thực hiện được pháp luật, VBQPPL

có vai trò làm căn cứ pháp lý để các chủ thể áp dụng, thực hiện VBQPPL quy định

cụ thể về quyền, nghĩa vụ cũng như các trách nhiệm pháp lý của công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 27 Hiến pháp năm 2013, công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Hay Luật Quản lý Thuế năm 2019 quy định công dân phải phải có trách nhiệm đăng ký thuế, kê khai thuế và phải nộp thuế theo quy định của pháp luật17

2.3 Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý

“Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu

do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà

17 Điều 17 Luật Quản lý Thuế năm 2019

Ngày đăng: 24/06/2022, 08:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w