Xác định nồng độ ion Chlor trong mẫu chất rắn bằng phương pháp chuẩn độ muối Mohr.. Rượu vang theo quy định phải chứa ít acid hơn mức cho phép, nồng độ acid có thể chuẩn độ nằm trong kho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HOÁ HỌC
Tiểu luận:
TRÌNH BÀY 4 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG
ỨNG VỚI 4 PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ
Học phần: CHEM1702 – Hoá phân tích
Họ và tên sinh viên : Dương Anh Tuấn Anh
Lớp học phần : CHEM170201 Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Ngọc Hưng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 06 năm 2022
Trang 2Mục lục
A MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu đề tài 4
3 Kết cấu đề tài 5
B NỘI DUNG 6
1 Chuẩn độ acid Tartaric (C4H6O6) trong rượu vang bằng NaOH với chỉ thị Phenolphtalein 6
1.1 Ý nghĩa của acid Tartaric trong rượu vang 6
1.2 Cơ sở lý thuyết 6
1.3 Tiến hành thí nghiệm 7
1.4 Phương trình đường cong chuẩn độ 8
2 Xác định độ cứng của nước bằng phương pháp chuẩn độ tạo phức với EDTA và đo phức 10
2.1 Ý nghĩa của xác định độ cứng của nước 10
2.2 Cơ sở lý thuyết 10
2.3 Quy trình chuẩn độ 11
2.4 Tính toán sau quy trình chuẩn độ 11
3 Xác định nồng độ ion Chlor trong mẫu chất rắn bằng phương pháp chuẩn độ muối Mohr 13
3.1 Ý nghĩa của xác định Chlor mẫu chất rắn 13
3.2 Cơ sở lý thuyết 14
3.3 Tiến hành thí nghiệm 14
3.4 Tính toán số liệu 15
4 Xác định nồng độ Sulfua dioxide trong rượu vang bằng Iodide 16
Trang 34.1 Ý nghĩa của SO2 trong rượu vang 16 4.2 Cơ sở lý thuyết 16 4.3 Tiến hành thí nghiệm 17
Trang 4Các yêu cầu để một phản ứng có thể chuẩn độ được là:
• Phản ứng phải diễn ra nhanh và hoàn toàn (có hằng số cân bằng và vận tốc lớn) Điều đó có nghĩa mối khi chất chuẩn được thêm, phản ứng là hoàn toàn tại thời điểm đó
• Phản ứng chuẩn độ phải diễn ra theo một phương trình hóa học đã định trước
• Phải có cách xác định được điểm tương đương
Có bốn phương pháp chuẩn độ hiện nay bao gồm: acid – base, oxy hóa – khử, phức chất và chuẩn độ kết tủa
Chuẩn độ giúp ta xác định được hàm lượng các chất có trong một hỗn hợp hay một tạp chất ban đầu, từ đó ta có thể gia giảm hàm lượng các chất đó cho phù hợp với giá trị cuối cùng mà ta hướng đến
2 Mục tiêu đề tài
Trình bày được 4 phương pháp chuẩn độ và ứng dụng trong từng ý nghĩa thực tiễn
Trang 6B NỘI DUNG
1 Chuẩn độ acid Tartaric (C4H6O6) trong rượu vang bằng NaOH với chỉ thị Phenolphtalein
1.1 Ý nghĩa của acid Tartaric trong rượu vang
Lượng acid chuẩn độ trong trường hợp lớn nhất phải nằm trong khoảng 5,0-8,0 g/dm3 Rượu vang theo quy định phải chứa ít acid hơn mức cho phép, nồng độ acid có thể chuẩn độ nằm trong khoảng 4,0-8,0 g/dm3 3thể hiện ở acid tartaric, do một phần acid
tartaric được lắng đọng dưới dạng muối (tartar hoặc argol) trong quá trình lên men
rượu Đối với rượu chứa ít hơn 4 g/dm3 của acid có thể chuẩn độ đo được, khiến ta nảy sinh nghi ngờ về nguồn gốc của chúng, tức là trong quá trình chế biến, một số hành vi bất hợp pháp đã được thực hiện
Do đó, mục đích của bài tiểu luận này là xác định độ acid có thể chuẩn độ trong rượu vang trắng, sử dụng các phương pháp xác định tiêu chuẩn
Theo kết quả nhận được có thể thấy rằng chuẩn độ rượu bằng chất chỉ thị cho đủ giá trị đáng tin cậy Tuy nhiên, vì chuẩn độ điện thế ở giá trị pH 7,00 là phương pháp khách quan và đáng tin cậy hơn, các giá trị của hàm lượng acid có thể chuẩn độ trong rượu vang
1.2 Cơ sở lý thuyết
Acid Tartaric là một acid hữu cơ có dạng tinh thể màu trắng, xuất hiện tự nhiên trong nhiều loại thực vật, nhất là các loại trái cây như nho (chứa hàm lượng lớn), chuối,
me và cam, quýt
Tartaric là một acid alpha – hydroxy – carboxylic, đặc tính lưỡng tính và aldaric,
là một dẫn xuất dihydroxyl của acid succinic
Công thức hóa học: C4H6O6
Công thức cấu tạo: HO2CCH(OH)CH(OH)CO2H
Độ acid có thể chuẩn độ (độ acid) được xác định bằng cách chuẩn độ rượu (sau
khi loại bỏ CO2) cho đến điểm cuối của quá trình chuẩn độ bằng một base mạnh và được
Trang 7biểu thị bằng số proton nhận được dưới dạng nồng độ tương đương của acid đã chọn Ở Hoa Kỳ, điểm cuối được chọn là pH = 8.20 và acid để tham khảo là acid tartaric Ở một
số quốc gia khác, ví dụ như Pháp, điểm cuối là pH = 7.00 và acid tham chiếu là sulfuric
Độ acid chuẩn độ thường nằm trong khoảng 4.0-8.0 g/dm3thể hiện trong acid tartaric (Peynaud và Maurie, 1956; Boulton, 1980a; Boulton, 1980b)
Xác định độ acid có thể chuẩn độ của rượu bằng chất chỉ thị hoặc bằng phương pháp đo điện thế dựa trên sự trung hòa của tất cả các acid và muối acid của chúng bằng dung dịch Potassium hydroxide Theo mức tiêu thụ của dung dịch base, độ acid có thể chuẩn độ được tính toán Potassium hydroxide 0,25 g/L được sử dụng để trung hòa tất
cả các chất trong rượu vang có đặc tính acid, vì vậy tổng số acid trong rượu được biểu thị bằng khối lượng của acid tartaric, vì đối với chất lượng rượu vang acid này là một trong những chất quan trọng nhất
Acid Tartalic là acid phân ly 2 nấc với 𝑝𝑝𝑝𝑝𝑎𝑎 = 3.07; 4,39
Phản ứng chuẩn độ:
𝑂𝑂𝑂𝑂−+ 𝑂𝑂𝑂𝑂2𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂2𝑂𝑂 → 𝑂𝑂𝑂𝑂2𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂2−+ 𝑂𝑂2𝑂𝑂 𝑝𝑝𝑝𝑝𝑎𝑎 = 3.07 𝑂𝑂𝑂𝑂−+ 𝑂𝑂𝑂𝑂2𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂2− → 𝑂𝑂− 2𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂(𝑂𝑂𝑂𝑂)𝐶𝐶𝑂𝑂2−+ 𝑂𝑂2𝑂𝑂 𝑝𝑝𝑝𝑝𝑎𝑎 = 4.39
Khối lượng của axit tartaric được tính theo cách sau:
𝑚𝑚(𝐶𝐶4𝑂𝑂6𝑂𝑂2) = 12 𝑐𝑐(𝑂𝑂𝑂𝑂−) 𝑉𝑉(𝑂𝑂𝑂𝑂−) 𝑀𝑀(𝐶𝐶4𝑂𝑂6𝑂𝑂2) Như nội dung của axit tartaric được biểu thị bằng g/Lphương trình trên cần được nhân với hệ số 50:
𝑚𝑚(𝐶𝐶4𝑂𝑂6𝑂𝑂2) =12 𝑐𝑐(𝑂𝑂𝑂𝑂−) 𝑉𝑉(𝑂𝑂𝑂𝑂−) 𝑀𝑀(𝐶𝐶4𝑂𝑂6𝑂𝑂2) 50
1.3 Tiến hành thí nghiệm
Chọn mẫu thử rượu vang là Banatski rizling (nhà sản xuất: Vršački vinogradi,
Vršac, rượu trắng khô để bàn, hàm lượng cồn - 11,30% thể tích)
Trang 8Chuẩn bị 20 mL mẫu thử rượu cho vào cốc 100 mL, pha loãng 5 lần với nước cất
và vài giọt Phenolphtalein làm chỉ thị (Cmẫu thử = 0,2 g/L)
Chuẩn bị burret 25 mL đã tráng bằng dung dịch Potassium hydroxide 0,25 g/L nồng độ và đổ dầy
Cho cốc mẫu thử vào đĩa từ khoáy liên tục và thêm dung dịch Potassium hydroxide vào đến khi dung dịch xuất hiện màu hồng nhạt tồn tại khoảng 20 giây thì dừng chuẩn độ
Trong lúc chuẩn độ cần đặt máy đo pH và ghi lại độ pH trong mỗi lần thêm KOH vào
1.4 Phương trình đường cong chuẩn độ
𝑝𝑝 − 1 = ([𝑂𝑂𝑂𝑂−] − [𝑂𝑂+])𝑉𝑉 + 𝑉𝑉𝑜𝑜
𝐶𝐶𝑜𝑜𝑉𝑉 𝑜𝑜 +ℎ2−2ℎ+ ℎ𝑝𝑝2+ ℎ𝑝𝑝1
1+ 𝑝𝑝1𝑝𝑝 2Bảng 1 – Giá trị pH thực của mẫu và độ axit chuẩn độ của rượu phân tích được biểu thị bằng khối lượng acid tartaric trong 1 Lcủa rượu vang
Trang 9ở pH = 7,00 chiết
Theo các kết quả đã trình bày, có thể thấy rằng chuẩn độ rượu vang bằng chất chỉ thị cho các giá trị đủ tin cậy về độ axit chuẩn độ trong rượu vang (OIV, 2005) Tuy nhiên, vì chuẩn độ điện thế cho giá trị pH 7,00 là phương pháp khách quan và đáng tin cậy hơn, các giá trị về hàm lượng của tổng lượng axit trong rượu, biểu thị qua axit tartaric, đã được đưa ra theo các kết quả này Theo độ axit có thể chuẩn độ trong các loại rượu được phân tích, tất cả các loại rượu theo cấu trúc của chúng đều tương ứng với Quy định về chất lượng rượu
Việc phân tích các đường cong chiết áp vi sai cho thấy rằng những đường cong này có thể cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi liệu các chất vô cơ, nhóm amin và phenol
có trong rượu vang với số lượng lớn hơn hay không, vì chúng luôn có trong rượu vang Tuy nhiên, cả phương pháp phân tích không đưa ra câu trả lời chặt chẽ cho câu hỏi chất nào có trong các mẫu được phân tích
Trang 102 Xác định độ cứng của nước bằng phương pháp chuẩn độ tạo phức với EDTA và đo phức
2.1 Ý nghĩa của xác định độ cứng của nước
Độ cứng của nước chính là hàm lượng chất khoáng hòa tan trong nước chủ yếu
là do các muối có chứa Ca2+ và Mg2+ > 3mg Nước cứng có nhiều tác hại với đời sống sinh hoạt của con người
Trong suốt lịch sử, chất lượng và số lượng nước có sẵn cho con người là những yếu tố quan trọng quyết định sự sinh tồn của loài người Đặc biệt, chất lượng chấp nhận được được xác định bởi mục đích sử dụng của nó; ví dụ, nước có hàm lượng muối trung bình có thể được sử dụng để tưới cây trồng, nhưng không được sử dụng cho con người Nước có sẵn thường không đáp ứng đủ các yêu cầu tối thiểu về mặt mục đích của con người và phải được xử lý theo một cách nào đó để có thể chấp nhận được
Loại và mức độ xử lý nước phụ thuộc nhiều vào nguồn và mục đích sử dụng Calcium là cation được tìm thấy với nồng độ cao nhất trong hầu hết các hệ thống nước ngọt, cùng với magnenium và đôi khi với iron (II) Các ion này, thường hiện diện dưới dạng bicacbonate hoặc sunfate, là nguyên nhân gây ra độ cứng của nước, tạo ra
“kết tủa” không hòa tan khi phản ứng với xà phòng Mặc dù các ion gây ra độ cứng của nước không tạo thành các sản phẩm không hòa tan với chất tẩy rửa, nhưng chúng ảnh hưởng xấu đến hiệu suất của chất tẩy rửa Một vấn đề khác do nước cứng gây ra là sự hình thành các cặn khoáng Sản phẩm rắn này phủ lên bề mặt của hệ thống nước nóng, làm tắc nghẽn đường ống và giảm hiệu quả làm nóng Các muối hòa tan như Calcium
và magnenium bicacbonate và sunfate có thể gây hại đặc biệt trong nước cấp cho lò hơi Như vậy, việc xác định độ cứng của nước và loại bỏ nó (làm mềm nước) là điều cần thiết cho nhiều mục đích sử dụng nước
2.2 Cơ sở lý thuyết
Một phương pháp được sử dụng rộng rãi để xác định hàm lượng ion Calcium và magnenium trong nước, là chuẩn độ complexom, chất chuẩn độ là EDTA (etylen-diamino-tetraaceticacid), sử dụng Eriochrome Black T hoặc Calmagit làm chất chỉ thị điểm cuối trực quan
Trang 11Phản ứng chuẩn độ:
𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶 + 𝑌𝑌 → 𝐶𝐶𝐶𝐶𝑌𝑌 + 𝐶𝐶𝐶𝐶 𝑀𝑀𝑀𝑀𝐶𝐶𝐶𝐶 + 𝑌𝑌 → 𝑀𝑀𝑀𝑀𝑌𝑌 + 𝐶𝐶𝐶𝐶 Phản ứng thay thế định lượng:
𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶𝐶 + 𝑀𝑀𝑀𝑀𝑌𝑌 → 𝐶𝐶𝐶𝐶𝑌𝑌 + 𝑀𝑀𝑀𝑀𝐶𝐶𝐶𝐶 Phản ứng chỉ thị xảy ra khi thêm 1 giọt complexon III
2 Chuẩn độ bằng dung dịch EDTA 5.10-4 M đã chuẩn hóa lần thứ n cho đến khi chất chỉ thị chuyển sang màu xanh chàm Tính độ cứng của nước, biểu thị bằng miligam CaCO3 tương đương với tổng lượng Ca 2+ và Mg 2+ có trong một lít nước
2.4 Tính toán sau quy trình chuẩn độ
Sau khi chuẩn độ nhiều lần ta tính giá trị trung bình của VEDTA (mL):
𝑉𝑉𝐸𝐸𝐸𝐸𝐸𝐸𝐸𝐸(𝑚𝑚𝑚𝑚) = 𝑉𝑉1+ 𝑉𝑉2+ ⋯ + 𝑉𝑉𝐶𝐶 𝑛𝑛Xem như Vrỗng = 0
Trang 12Một số thời điểm chuẩn độ quan trọng
Ta nhận thấy 𝑝𝑝𝐶𝐶𝐶𝐶𝑐𝑐𝑢𝑢ố𝑝𝑝 tuỳ thuộc vào tỉ lệ nồng độ CaY và MgY Nếu [𝑀𝑀𝑀𝑀𝐶𝐶][𝐶𝐶𝑎𝑎𝐶𝐶] = 101
→ 𝑝𝑝𝐶𝐶𝐶𝐶𝑐𝑐𝑢𝑢ố𝑝𝑝 = 6.4 đối với điểm cuối đổi màu trung gian và 𝑝𝑝𝐶𝐶𝐶𝐶𝑐𝑐𝑢𝑢ố𝑝𝑝 = 7.4 đối với điểm cuối đổi màu rõ rệt Cả hai trường hợp này đều nằm trong khoảng bước nhảy 5.3 ÷ 8.24 nên ta chuẩn độ cho đến khi dung dịch có màu chàm rõ rệt
Trang 133 Xác định nồng độ ion Chlor trong mẫu chất rắn bằng phương pháp chuẩn
độ muối Mohr
3.1 Ý nghĩa của xác định Chlor mẫu chất rắn
Muối (NaCl), được cấu thành từ hai nguyên tố hoá học là Soldium và Chlorua,
có vị mặn, là gia vị thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày Na+ là chất điện giải có vai trò điều hoà áp lực thẩm thấu và cân bằng thể dịch, cân bằng acid - base, cũng như các hoạt động điện sinh lý cho cơ và thần kinh
Trong các thực phẩm tự nhiên, Soldium thường có nhiều ở thức ăn nguồn động vật như: Thuỷ - hải sản, thịt, sữa và các sản phẩm của sữa, lượng Soldium thấp chủ yếu
là các loại trái cây và rau
Các thực phẩm chế biến sẵn thường có nhiều Soldium như mì tôm, xúc xích, dưa
cà muối,
Nguồn Soldium tiêu thụ hàng ngày chủ yếu là từ muối ăn, các loại bột canh, nước mắm, nước tương,… được thêm vào trong quá trình chế biến thực phẩm (bao gồm quá trình sơ chế, ướp, nấu nướng thực phẩm thông thường cũng như thực phẩm chế biến sẵn) và quá trình chấm trên bàn ăn Thông thường 8 g bột canh / 11 g hạt nêm / 25 ml nước mắm / 35 ml xì dầu có chứa lượng Soldium tương đương 5 g muối Nhu cầu muối của cơ thể là bao nhiêu? Nhu cầu muối khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sinh
lý, bệnh lý của mỗi người
Lượng muối cho trẻ nhỏ dưới một tuổi chỉ dưới 1g/ ngày và với trẻ sơ sinh là dưới 0,3 g/ ngày Tuy nhiên bạn không cần bổ sung muối vào thức ăn hàng ngày của trẻ,
vì trong sữa mẹ và các thực phẩm tự nhiên mà bé ăn dặm như thịt, trứng, sữa, đều đã
có thành phần Soldium phù hợp với khuyến cáo của các chuyên gia
• Lượng muối cho trẻ nhỏ từ 1 – 3 tuổi tiêu thụ tối đa dưới 2 g muối/ngày
• Trẻ 3 - 7 tuổi muối dưới 3 g/ ngày
• Trẻ từ 7 tuổi trở lên, người trưởng thành có thể dùng tối đa 5 g muối
• Với người bệnh mắc các bệnh như tim mạch, thận, tăng huyết áp, lượng muối có thể điều chỉnh giảm theo chỉ dẫn của Bác sỹ
Trang 14• Một thìa cà phê 5 g muối có chứa khoảng 2.000 mg Soldium, tương đương với lượng muối chỉ nên dùng trong ngày với một người trưởng thành
3.2 Cơ sở lý thuyết
Phương pháp Mohr sử dụng các ion chromate làm chất chỉ thị trong phép chuẩn
độ các ion chlorua vớidung dịch chuẩn bạc nitrate Sau khi tất cả chlorua đã được kết tủa như bạc trắng chlorua, lượng dư chất chuẩn độ đầu tiên dẫn đến sự hình thành kết tủa bạc chromate,báo hiệu điểm kết thúc quá trình chuẩn độ Các phản ứng là:
𝐴𝐴𝑀𝑀++ 𝐶𝐶𝐶𝐶− ↔ 𝐴𝐴𝑀𝑀𝐶𝐶𝐶𝐶(𝑠𝑠)2𝐴𝐴𝑀𝑀++ 𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂42− ↔ 𝐴𝐴𝑀𝑀2𝐶𝐶𝐶𝐶𝑂𝑂4(𝑠𝑠)Bằng các phép đo phân vị và số mol tiêu thụ ở điểm cuối, có thể xác định được chlorua trong một mẫu chưa biết Báo cáo này mô tả các thử nghiệm nhằm xác định nồng độ chlorua trong mẫu rắn
3.3 Tiến hành thí nghiệm
* Hoá chất dụng cụ:
Các mẫu chất rắn khảo sát là: NaCl, CaCO3 , NaHCO3 , K 2CrO4 và AgNO3Buret, Pippet 25mL, bình tam giác 250mL, bình định mức 500mL, xi lanh 100mL
* Quy trình thí nghiệm:
1 Chuẩn bị dung dịch K2CrO4 5%; pha 1g K2CrO4 trong 20mL nước cất
2 Chuẩn bị dung dịch AgNO3 chuẩn: cho 9g AgNO3 vào bình định mức 500mL
và cho nước cất vào đến vạch định mức Nồng độ dung dịch này xấp xỉ 0.1M Dung dịch này được dùng để chuẩn hoá NaCl đã được làm khô ở nhiệt độ phòng
3 Chuẩn bị 0,25g NaCl được hoà tan trong 100mL nước cất trong bình tam giác 250mL Để điều chỉnh pH ta thêm một lượng NaHCO3 để mẫu chất rắn hết sủi bọt Thêm
Trang 15vào khoảng 2mL K 2CrO4 để dung dịch được chuẩn độ lần đầu tiên, dung dịch sẽ có màu đỏ vĩnh viễn của 𝐴𝐴𝑀𝑀2𝐶𝐶𝐶𝐶2𝑂𝑂4
4 Xác định 𝐶𝐶𝐶𝐶− trong mẫu chất rắn: Mẫu mì tôm chưa biết được làm khô ở 110oC trong 1 giờ và làm nguội trong bình hút ẩm Các mẫu riêng lẻ được hoà tan trong 100mL nước cất trong bình tam giác 250mL Để điều chỉnh pH ta thêm một lượng NaHCO3 để mẫu chất rắn hết sủi bọt Thêm vào khoảng 2mL K 2CrO4 để dung dịch được chuẩn độ lần đầu tiên, dung dịch sẽ có màu đỏ vĩnh viễn của 𝐴𝐴𝑀𝑀2𝐶𝐶𝐶𝐶2𝑂𝑂 4 Chất chỉ thị đưuọc xác định bằng cách cho CaCO3 vào 100mL nước cất chứa K 2CrO4
Trang 16dịch có tính axit hơn, nồng độ ion chromate quá thấp để tạo ra kết tủa ở điểm tương đương Nếu độ pH trên 10, màu nâu hiđroxide bạc tạo thành và che lấp điểm cuối Độ
pH thích hợp đạt được bằng cách bão hòa dung dịch chất phân tích bằng soldium hydro cacbonate
4 Xác định nồng độ Sulfua dioxide trong rượu vang bằng Iodide
Sulfua dioxide lỏng được thêm vào nho trong quá trình sản xuất rượu vang, từ thu hoạch, lên men, đóng chai; nấm men cũng tạo ra SO2 tự nhiên
Việc tiêu thụ sulfit nói chung là vô hại, trừ khi bạn bị hen suyễn nặng hoặc cơ thể bạn không có các enzym cụ thể cần thiết để phân hủy sulfit khi chúng vào trong cơ thể FDA ước tính rằng ít hơn 1% dân số Hoa Kỳ nhạy cảm với sulfite, vì vậy việc dị ứng hoặc có những phản ứng tiêu cực với sulfite là tương đối hiếm Nếu bạn bị dị ứng sulfite (có thể được phát hiện trong một giai đoạn nào có trong suốt cuộc đời của bạn), thì có nhiều khả năng bạn sẽ phát hiện khi ăn hay uống một loại thực phẩm nào đó mà không phải là rượu vang Vì sự thật là nhiều loại thực phẩm có hàm lượng sulfite cao hơn rượu vang
Nói một cách đơn giản, sulfite giúp bảo quản rượu và làm chậm các phản ứng hóa học khiến rượu bị biến chất (Bạn đã bao giờ mở rượu và nó bị hỏng vào ngày hôm sau?)
Quá trình sử dụng sulfit trong rượu vang đã có từ thời La Mã cổ đại Trong thời
La Mã, các nhà sản xuất rượu đã đốt nến lưu huỳnh trong các thùng đựng rượu rỗng (gọi
là amphorae) để ngăn rượu biến thành giấm
Lưu huỳnh bắt đầu được sử dụng trong sản xuất rượu (thay vì chỉ làm sạch thùng rượu) vào đầu những năm 1900 để ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và các loại nấm men khác Các nhà Oenologists không ngừng cải tiến sản phẩm sống này - rượu vang
4.2 Cơ sở lý thuyết
Phương pháp này dựa trên phản ứng oxy hóa khử trong đó Sulfua đioxide, ở dạng ion bisulfite, phản ứng với iodide như sau: