TRƯỜNG KHOA THU HOẠCH BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG, THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP Họ tên học viên Lớp , 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG 2 1 1 Quan niệm về bình đẳng giới 2 1 2 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đằng giới ở Việt Nam 3 1 3 Bình đằng giới ở địa phương 5 II THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG 7 2 1 Thách thức phát triển bình đẳng giới ở địa phương 7 2 2 Giải pháp thúc đẩy bình đẳ.
Trang 1KHOA …
THU HOẠCH BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG, THÁCH THỨC PHÁT
TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG 2
1.2 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đằng giới ở ViệtNam 3
II THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG 7
2.1 Thách thức phát triển bình đẳng giới ở địa phương 7 2.2 Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới ở địa phương 9
Trang 3MỞ ĐẦU
Bình đẳng giới là một nội dung quan trọng trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa của nước ta Đấu tranh cho bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ luôn gắn với các cuộc cách mạng xã hội Việc giải phóng phụ nữ, phát huy tiềm năng của phụ nữ là đòi hỏi khách quan và bức thiết của sự phát triển xã hội Sự bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý nói riêng sẽ tạo điều kiện khai thác và phát huy một cách có hiệu quả tài lực, trí lực của phụ nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Luật Bình đẳng giới do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua (năm 2006) và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QDTTG ngày 24/12/2010 trong đó mục tiêu thứ nhất là: “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới tính trong lĩnh vực chính trị” Sau 16 năm thực thi Luật và 12 năm thực hiện Chiến lược quốc gia, mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý tuy có đạt được một số kết quả nhất định nhưng mục tiêu này vẫn chưa thực hiện được
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng hơn 51% dân số và 50,6% lực lượng lao động xã hội, họ không ngừng phát huy vai trò và khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của đất nước Vị thế của phụ nữ ngày càng được nâng cao, nhất
là trong lãnh đạo, quản lý ở nước ta có xu hướng gia tăng Tuy nhiên, so với tiềm năng của phụ nữ và với yêu cầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam thì sự tham gia của phụ nữ vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị còn ít về số lượng, thấp về chất lượng trong tương quan với nam giới Vì vậy,
nghiên cứu vấn đề “Bình đẳng giới ở địa phương, thách thức phát triển và
giải pháp” làm đề tài thu hoạch có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 4NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Quan niệm về bình đẳng giới
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bình đẳng là ngang nhau về địa vị và quyền
lợi” [6, tr 68] theo đó bình đẳng là khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn,
là quyền cơ bản của con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã nội, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp dân cư, các nhóm tuổi
Tại Điểm 3, Điều 5, Luật Bình đẳng giới nước ta năm 2006 đã khẳng định:
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [5, tr.7].
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Bình đẳng giới là sự đối xử như nhau
giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không phân biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ nam hay nữ; phụ nữ và nam giới có quyền và nghĩa vụ như nhau, có
cơ hội như nhau để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển đó
Bình đẳng giới là một trong những nội dung của bình đẳng xã hội Tuy nhiên, bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số 50/50 mà sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, vai trò chính trị, sự chia sẻ trong công việc gia đình, chăm sóc con cái…để tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới phát triển toàn diện Vì vậy, chúng ta cần hiểu đúng về bình đẳng giới:
Thứ nhất, không nhầm lẫn bình đẳng giới với quan niệm xã hội về truyền
thống thuần phong mĩ tục (không phải hủ tục) Những nét dịu dàng, cư xử tế nhị, biết chia sẻ cảm thông, yêu thương chăm sóc gia đình…vẫn là phần vô cùng quý báu của người phụ nữ Việt Nam Bình đẳng giới không có nghĩa là triệt tiêu nó
Thứ hai, bình đẳng giới không chỉ đơn thuần ngang nhau về số lượng, là sự
thăng tiến ngang nhau trong công việc mà điều quan trọng nhất là tạo điều kiện cho cả hai giới có cơ hội và sự phát triển và hưởng thụ như nhau để đi đến thực
Trang 5hiện mục tiêu lớn nhất là mang lại hạnh phúc cho mọi cá nhân, gia dình và cộng đồng Vì vậy phải có sự quan tâm, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả hai giới trong gia đình và ngoài xã hội
Thứ ba, bình đẳng giới không có nghĩa là chỉ đấu tranh đòi quyền lợi của
phụ nữ mà đấu tranh cho sự bình đẳng của cả hai giới Song, thời đại ngày nay nhìn chung sự bất bình đẳng đối với phụ nữ là đa số cho nên người ta nói nhiều đến việc đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ
Như vậy, bình đẳng giới ở đây được hiểu là bình đẳng về quyền cơ bản và về cơ hội phát triển cho cả nam giới, nữ giới Bình đẳng giới ở đây có hai nghĩa: một là, bình đẳng về nguyên tắc (mục tiêu bình đẳng); hai là, bình đẳng toàn diện (lý tưởng bình đẳng) Bình đẳng giới là mục tiêu lâu dài, đồng thời là mục tiêu quan trọng của những nỗ lực phát triển hệ thống xã hội tổng thể Bình đẳng giới nhấn mạnh giá trị, vị trí của những nguyên tắc dân chủ và các quyền cơ bản của con người, cho phụ nữ và nam giới, hướng tới ấm no, tiến bộ, hạnh phúc
1.2 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đằng giới ở Việt Nam
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nói phụ nữ là nói phân
nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”
[4, tr,125] Vì vậy, sự nghiệp giải phóng phụ nữ không chỉ là công việc riêng của phụ nữ mà gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của các nước trên thế giới, là một trong những tiêu chí đánh giá
sự phát triển của một xã hội Theo quan niệm của Liên hợp quốc, bình đẳng giới
có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người, có cơ hội đóng góp cũng như thụ hưởng những thành quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Nhiều năm qua, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực để mang lại bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự được sống trong một xã hội văn minh, phát triển bền vững, nhân văn Và, Việt Nam là một trong số các nước có
Trang 6nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới đã được ghi nhận, như: xây dựng và ban hành văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, là một trong các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, đã hoàn thành trước thời hạn mục tiêu bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ (đây là một trong các Mục tiêu Thiên niên kỷ mà chúng ta phấn đấu đạt tới); Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN); là nước dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số bình đẳng giới thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục tới trẻ em gái, trẻ em trai, phụ
nữ, nam giới, tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm… Đây là những con số rất có ý nghĩa, bởi việc thực hiện bình đẳng giới sẽ giúp mang lại các nguồn lợi lớn cho sự phát triền bền vững của mỗi quốc gia Về điều này, bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp châu Âu (EU) đã đưa ra một quan điểm đúng đắn về bình đẳng giới rằng, bình đẳng giới không đơn thuần là quyền lợi của chị em, mà chính là quyền lợi chung của một đất nước muốn phát triển bền vững Bởi, nếu một đất nước chỉ sử dụng một nửa dân số, không phát huy được đầy đủ và tối đa năng lực của mọi người, của mọi công dân bất kể nam hay nữ thì thật là điều đáng tiếc [1, tr208]
Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Thực hiện bình đẳng giới tạo điều kiện cho phụ nữ được tham gia công tác quản lý, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 coi việc nâng cao quyền năng chính trị cho phụ nữ là mục tiêu hàng đầu Với mục tiêu này Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới Phấn đấu đạt chỉ tiêu tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng đến năm 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phấn đấu đến năm 2021 trên 35% [2, tr.92]
Không thể phủ nhận trong xã hội hiện đại, định kiến về giới vẫn còn nhưng chỉ là trong tư tưởng của một số ít người dân Sự bình đẳng giới, vai trò cân bằng giữa nam và nữ đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực Trong lĩnh vực
Trang 7chính trị, không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng phụ nữ tham gia cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý Rất nhiều phụ nữ đã trở thành các nhà lãnh đạo, quản lý, nắm giữ những vị trí chủ chốt tại các cơ quan mà mình tham gia Với những tính cách ưu việt của người phụ nữ Việt Nam, rất nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc
Với sự tác động tích cực từ các yếu tố thể chế chính thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về thực hiện bình đẳng giới Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng Hệ thống các cơ quan chuyên trách về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ được kiện toàn trên cả nước, đặc biệt Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam - tổ chức chính trị rộng lớn dành cho phụ nữ hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, đã
có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức thực hiện bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ
đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, phụ nữ đủ tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị Điều đó góp phần đưa đến chất lượng tham chính của phụ nữ cũng được tăng lên về trình độ
và năng lực quản lý
Thực tế đó đã khẳng định sự hòa nhập của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo xã hội và các hệ thống khác trong đời sống đang trở nên cần thiết; các phẩm chất của phụ nữ đang mở rộng từ gia đình đến xã hội Những biến đổi cần thiết này giúp tăng cường vai trò của phụ nữ trong một thế giới đầy biến động, cũng như phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ trong điều kiện mới Qua đó thấy được tầm quan trọng của việc thúc đẩy bình đằng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay
1.3 Bình đằng giới ở địa phương
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự thống nhất hành động trong
cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, nhất là vai trò tích cực của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp và Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, công tác cán bộ nữ nói chung và sự tham gia của phụ nữ vào cấp ủy, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp nói riêng trong thời gian qua đã đạt nhiều
Trang 8thành tựu quan trọng Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ trong hệ thống chính trị các cấp tăng cả về số lượng và chất lượng
Đội ngũ cán bộ, công chức nữ đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, không ngừng học tập, rèn luyện, phấn đấu nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; nhiều cán bộ nữ được giao trọng trách, giữ những cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cương vị lãnh đạo, quản lý các cấp Nhiều cán bộ nữ được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao; nhạy bén, năng động, sáng tạo; có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuân thủ pháp luật, có trách nhiệm cao trong công việc và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, điển hình như tại Đại hội XII của Đảng, lần đầu tiên trong lịch sử của Đảng, có 3 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và cả 3 người đều là đại biểu Quốc hội
Tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV đã có 131/483 nữ đại biểu trúng cử, đưa tỷ lệ nữ đại biểu lên 27,12%, tăng 2,3% so với nhiệm kỳ trước và
có nhiều đại biểu trẻ tuổi Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội chiếm gần 40% (trong đó, Chủ tịch Quốc hội là nữ; chủ nhiệm các cơ quan của Quốc hội là
nữ chiếm 22,22%; phó chủ nhiệm các ủy ban là 6,45%; tất cả các ủy ban đều có thành viên là nữ; tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021 ở cấp tỉnh là 26,54%, cấp huyện là 27,85% và cấp cơ sở là 26,59%)… [2, tr.92]
Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ
nữ, giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy sự vươn lên của phụ nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ
2 khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 6 ở châu Á, vượt qua mức trung bình là 19% của các nước châu Á và 21% của thế giới [3, tr.128]
Đến nay, sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược, nhiều mục tiêu về bình đẳng giới đã và đang được triển khai đồng bộ, mang lại những thành tựu to lớn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, từng gia đình cũng như toàn xã hội, đồng thời những cố gắng, nỗ lực của Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Báo cáo Phát triển con người năm 2020 của Chương
Trang 9trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, năm 2019, Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam là 0,704, tăng 1 bậc so với năm trước và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ, ghi dấu lần đầu tiên Việt Nam lọt vào nhóm các nước có chỉ số HDI ở mức cao Cùng với đó, bất bình đẳng về thu nhập (19,1%) và hệ số Gini (35,7) của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất trong số các quốc gia được so sánh năm 2019 Đây là thành tựu không phải quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp nào cũng đạt được
Kết quả đạt được sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược Bình đẳng giới còn thể hiện ở việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị Báo cáo số 362/BC-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tỷ lệ
nữ giới tham gia các cấp ủy Đảng khóa sau đã tăng hơn khóa trước Cụ thể: Tỷ lệ nữ giới tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là 8,62%, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 11,4%, cấp huyện là 14% và cấp cơ sở là 18,1%; tới khóa XII, các tỷ lệ tương ứng đạt lần lượt là 10%, 13,3%, 14,3% và 19,07% Nhiệm kỳ 2015-2020, lần đầu tiên có 3 đồng chí nữ là Ủy viên Bộ Chính trị (đạt tỷ lệ 15,78%) Kết thúc giai đoạn, cả nước có 8/63 nữ bí thư tỉnh
ủy, 14 nữ phó bí thư tỉnh ủy [2, tr.95]
II THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Thách thức phát triển bình đẳng giới ở địa phương
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, khung thể chế, chính sách về bình đẳng giới trong chế độ công vụ, công chức ở các địa phương vẫn còn những thách thức nhất định Cụ thể là:
Thứ nhất, những thách thức trong thể chế về bình đẳng giới Hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật về giới, lồng ghép giới và các văn bản liên quan vẫn còn chung chung, chưa có các tiêu chí cụ thể để xác định vấn đề giới, lồng ghép giới Chưa có chế tài cụ thể đối với các cơ quan không thực hiện đầy đủ các quy
Trang 10định về bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức Các quy định về bình đẳng giới thường mang tính định hướng, khuyến khích nhiều hơn là những ràng buộc, những quy định bắt buộc phải thực hiện
Quy định về bình đẳng giới trong Luật Cán bộ, công chức vẫn thiên về định tính, thiếu định lượng Từ đó, tạo ra sự nhận thức và cách hiểu chưa thống nhất về vấn đề bình đẳng giới trong quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ công chức, tỷ lệ và cơ cấu giữa nam và nữ chưa được bảo đảm, việc thống kê các chỉ tiêu liên quan nam, nữ cán bộ, công chức thường chưa được chú ý đúng mức Quy định về bình đẳng giới chưa phân biệt biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới với chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ
Thứ hai, thách thức trong việc thực thi chính sách, pháp luật về vấn đề
giới trong quản lý cán bộ, công chức Việc thực thi chính sách bình đẳng giới chưa đáp ứng yêu cầu về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong quản lý cán bộ, công chức Sự thiếu vắng các công cụ đảm bảo chính sách, pháp luật về giới trong đời sống chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội tham chính của phụ nữ trong hệ thống chính trị các cấp hiện nay Vì vậy, để thúc đẩy phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, cần bổ sung những chế tài đảm bảo quyền tham chính của phụ nữ Chưa có sự đồng bộ, thống nhất về quyết tâm chính trị của cấp ủy đảng
và chính quyền địa phương với nhận thức của cộng đồng về tăng cường tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ, nhất là đối với lãnh đạo cấp chiến lược
Các quy định về nội dung mang tính bình đẳng, nhưng khi thực hiện có sự khác biệt về kết quả giữa nam và nữ Tồn tại khoảng trống giữa quy định với thực thi chính sách quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ nữ Trong Văn kiện Đại hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định cần phải “làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đánh giá công tác quy hoạch ở một số nơi vẫn còn khép kín, chưa bảo đảm sự liên thông, gắn kết Tỉ lệ cán bộ lãnh đạo và cấp ủy là người dân tộc thiểu số, cán bộ