1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M.KEYNES VÀ VẬN DỤNG TRONG CÁC CHÍNH SÁCH XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

117 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Kinh Tế Của J.M.Keynes Và Vận Dụng Trong Các Chính Sách Xử Lý Khủng Hoảng Ở Việt Nam Từ Năm 2008 Đến Nay
Tác giả Nguyễn Quang Trung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Khuyên
Trường học Học viện Chính trị Quốc Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề tái khóa luận sinh viên tập tủng phân tích thưucj trạng nền kinh tế Việt Nam khi đối mặt với hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn lần lượt vào năm 2008 và gần đây là khủng khoảng Covid 19. Cùng với đó là phân tích, đánh giá cách Chính phủ xử lý khủng hoảng kinh tế dựa trên Học thuyết kinh tế của J.M. Keynes. Cuối cùng là đưa ra những khuyến nghị nhằm giải quyết những vấn đề mới phát sinh và những vấn đề còn tồn đọng hậu khủng hoảng kinh tế do Covid 19 gây ra.

Trang 1

vBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC

GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN QUANG TRUNG

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M.KEYNES VÀ VẬN DỤNG TRONG CÁC CHÍNH SÁCH XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2008

Trang 2

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ở chương I tác giả trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn khủng hoảng kinh tế vàhọc thuyết kinh tế của J.M Keynes Cụ thể đã làm rõ các vấn đề liên quan đếnkhủng hoảng như khái niệm, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, hậu quả củakhủng hoảng kinh tế Cũng như trình bày học thuyết kinh tế của J.M Keynes, cácchính sách xử linh khủng hoảng kinh tế từ góc độ học thuyết kinh tế của J.M.Keynes ở phần tiếp theo của chương, đây là cơ sở để tác giả tiến hành phân tíchchương II

Chương II tác giả tiến hành phân tích thực trạng vận dụng học thuyết kinh tếcủa J.M Keynes và xử lý khủng hoảng kinh tế của Việt Nam trong hai cuộc khủnghoảng kinh tế diễn ra vào năm 2008 và cuộc khủng hoảng kinh tế do đại dịchCovid – 19 gây ra Thông qua việc phân tích hai cuộc khủng hoảng này tác giảhướng đến việc chỉ ra tính chất của khủng hoảng kinh tế ngày nay ngày càng khó

để có thể dự báo vì khủng hoảng có thể xuất phát từ các lý do phi kinh tế

Ở chương III tác giả sẽ đưa ra những nhận định về các yếu tố kinh tế lần phikinh tế có thể ảnh hưởng đến chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế của Việt Namđồng thời đề xuất ra những giải pháp căn cơ để có thể giải quyết được tình trạngtrên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh

tế chính trị với đề tài: “Học thuyết kinh tế của J.M Keynes và vận dụng trong các chính sách xử lý khủng hoảng ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay” bản thân tác giả gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của công tác nghiên cứu khoa học Tuy nhiên sau khi hoàn thành khóa luận thì tác giả nhận ra một điều rằng công tác khoa học thì sẽ không bao giờ là hết khó khăn, không có khó khăn thì chắc chắn đó không phải là công tác nghiên cứu khoa học Bên cạnh nỗ lực của cá nhân nếu không có

sự đồng hành, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đặc biệt là tập thể Thầy Cô Khoa Kinh tế Chính trị - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã nâng đỡ và dìu dắt tác giả trong 4 năm học

Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình đã là chỗ dựa về tinh thần trong quá trình thực hiện nghiên cứu, bên cạnh đó tác giả gửi một lời cảm ơn lớn dành cho những người bạn đã hết lòng giúp đỡ trong nhiều khía cạnh để nghiên cứu này có thể được hoàn thành Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến với hai người, người thứ nhất là Cô Nguyễn Thị Khuyên – người hướng dẫn khoa học

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành Người thứ hai tác giả muốn gửi lời cảm ơn là Cô Đinh Thu Hà – cô là người đã truyền cảm hứng cho tôi chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp và cũng gợi mở cho tôi nhiều khía cạnh mới để khai thác

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2022

Tác giả

Nguyễn Quang Trung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tác giả, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Khuyên Mọi số liệu là do tác giả nghiên cứu và rút ra, mọi trích dẫn trong khóa luận này là trung thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung, kết quả của khóa luận này

TÁC GIẢ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 10

1 Tính cấp thiết của đề tài: 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 11

3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Kết cấu của khóa luận 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M KEYNES 15

1.1 Cơ sở lý luận về khủng hoảng kinh tế 15

1.1.1 Khái niệm về khủng hoảng kinh tế và khái niệm liên quan 15

1.1.2 Nguyên nhân khủng hoảng. 16

1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan 17

1.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan 17

1.1.3 Hậu quả của khủng hoảng kinh tế 18

1.2 Học thuyết kinh tế của J.M Keynes 19

1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận 19

1.2.1.1 Hoàn cảnh ra đời 19

Trang 5

1.2.1.2 Đặc điểm phương pháp luận 21

1.2.2 “Lý thuyết tổng quát về việc làm” của J.M Keynes 23

1.2.2.1 Các phạm trù cơ bản trong “Lý thuyết tổng quát về việc làm”. 23

1.2.3 Học thuyết về sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế của J.M Keynes 31

1.2.3.1 Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân 31

1.2.3.2 Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ 31

1.2.3.3 Các hình thức tạo việc làm 32

1.2.3.4 Khuyến khích tiêu dùng 32

1.3 Các chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế từ góc độ học thuyết kinh tế của J.M Keynes33 1.3.1 Chính sách tài khóa của Chính phủ 33

1.3.2 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng TW 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M KEYNES VÀO XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HAI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ (2008) VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ DO COVID – 19 (2020) 40

2.1 Vận dụng học thuyết kinh tế của J.M Keynes vào chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế năm 2008 40 2.1.1 Khủng hoảng kinh tế năm 2008 và những tác động của nó đến Việt Nam 40

2.1.2 Các chính sách Việt Nam đã thực hiện để xử lý khủng hoảng kinh tế năm 2008 từ góc độ vận dụng học thuyết kinh tế của J.M Keynes 49

2.1.3 Đánh giá chung về vận dụng học thuyết kinh tế của J.M Keynes vào chính sách xử lý khủng hoảng tại Việt Nam 51

2.1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra 52

2.2 Vận dụng học thuyết kinh tế của J.M.Keynes vào xử lý khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid – 19 gây ra 56

2.2.1 Cuộc khủng khoảng kinh tế do đại dịch Covid – 19 và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam56 2.2.2 Vận dụng học thuyết của J.M Keynes vào trong xử lý cuộc khủng hoảng kinh tế do Covid–19 gây ra hiện nay. 68

2.2.2.1 Quan điểm vận dụng học thuyết của J.M Keynes của Chính phủ 68

2.2.2.2 Chính sách tài khóa 69

2.2.2.3 Chính sách tiền tệ 79

Trang 6

2.2.3 Đánh giá chung về vận dụng chọc thuyết kinh tế của J.M Keynes vào chính sách xử lý

khủng hoảng tại Việt Nam 87

2.2.3.1 Thành tựu 87

2.2.3.2 Hạn chế 91

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 96

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TRONG XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NĂM 2022 98

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách xử lý khủng hoảng của Việt Nam 98

3.1.1 Căng thẳng quân sự giữa Nga và Ukraine 98

3.1.2 Rủi ro lạm phát 100

3.1.3 Triển vọng tăng trưởng của Thế giới và Việt Nam 102

3.2 Giải pháp tăng hiệu quả chính sách trong xử lý khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam năm 2022. 104 3.2.1 Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công 104

3.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công 111

3.2.3 Giải pháp hỗ trợ hồi phục thị trường lao động 112

3.2.4 Chính sách đối phó với rủi ro lạm phát trong năm 2022 116

3.2.4.1 Nhóm giải pháp giảm chi phí sản xuất hàng hóa 116

3.2.4.2 Nhóm giải pháp về kiểm soát lạm phát thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.118 TIỂU KẾT CHƯƠNG III 120

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Hình 1: Quan hệ giữa lãi suất và khối lượng tiền tệ………30Bảng 1: Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008……….45Biều đồ 1: Cơ cấu mẫu doanh nghiệp điều tra theo ngành sản xuất (%)………….60Biểu đồ 2: Cơ cấu doanh nghiệp điều tra theo loại hình doanh nghiệp (%)………60Biểu đồ 3: Cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô doanh nghiệp (%)……… 61

Biều đồ 4: Tăng trưởng bán lẻ thị trường Việt Nam (12/2018 – 9/2021) (%)…….64 Biều đồ 5: Tổng vốn đầu tư xã hội quý III năm 2021(%)……… … 64

Bảng 2: Giá trị xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn (tỷ USD)

……….66

Bảng 3: Giá trị nhập khẩu của một số nhóm hàng lớn (Tỷ USD)……… 67

Biểu đồ 6: Tình hình lạm phát Việt Nam và trên thế giới (%)

Trang 8

Biểu đồ 13: So sánh xu hướng tăng trường kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2019

– 2021……….… 96

Biểu đồ 14: Căng thẳng Nga – Ukraine tác động tới tăng trưởng (%)……… …101 Biểu đồ 15: Các thành phần đóng góp vào tăng trưởng toàn cầu (%)……… …104 Bảng 4: Triển vọng Kinh tế Việt Nam năm 2022……….105

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Cuộc đại suy thoái những năm 1929 – 1933 giáng một đòn nặng nề vào chủnghĩa tư bản nói chung và những nhà nghiên cứu thuộc trường phái kinh tế học cổđiển, tân cổ điển Sản lượng công nghiệp của Mỹ trong thời kỳ này giảm trên 30%.Hơn 1/3 số ngân hàng thương mại sụt đổ và không còn khả năng hoạt động trở lại,

tỷ lệ thất nghiệp tăng cao chưa từng thấy lên mức hơn 25% và sự kinh hoàng nàykhông chỉ giành cho Mỹ mà còn có phần còn lại của thế giới Thị trường với sựđiều tiết của “Bàn tay vô hình” đã không thể nào cân bằng được thị trường nữa,câu hỏi là bây giờ là ai sẽ cứu rỗi chủ nghĩa tư bản?

Trong bối cảnh đó John Maynard Keynes xuất hiện như là cứu tinh của chủ

nghĩa tư bản, “Keynes không phải là người theo chủ nghĩa xã hội – ông đến để cứu

chủ nghĩa tư bản, không phải để chôn nó… Trong lịch sử khoa học xã hội chưa từng có thành tựu nào tương tự như của Keynes”[ CITATION Pau06 \l 1066 ].

Trong tác phẩm Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ ông cho rằng tất cả

những gì cần làm để chính phủ có thể kiểm soát, đưa nền kinh tế trở lại con đườngthịnh vượng đó bơm tiền vào nền kinh tế, bằng thâm hụt ngân sách, sử dụng cáccông trình công cộng… nhằm tác động vào tổng cầu và khôi phục niềm tin củanhững nhà đầu tư để tiếp tục gia tăng lượng tiền đổ vào nền kinh tế Qua đó thấyđược vai trò của học thuyết kinh tế Keynes đối với nền kinh tế hiện đại là quan

Trang 9

trọng đến như thế nào Nhưng rồi khi những nhà hoạch định chính sách hiểu sai vàvận dụng sai học thuyết của Keynes, mặt khác là sự phủ nhận đến từ các nhà kinh

tế học tân cổ điển đã vùi lấp đi sự vĩ đại của học thuyết này thì những biến cố gầnđây đã đưa tư tưởng Keynes quay lại với đời

Cái gọi là “bàn tay vô hình” mà có vẻ chứng minh cho cơ chế mới của các thịtrường bãi bỏ vai trò của “bàn tay hữu hình”, chỉ kéo dài không đến 10 năm Nhìn

từ góc độ này, nó cũng giống như thập niên 20 huy hoàng trước khi cuộc Đại suythoái những năm 1929 - 1933 Với sự sụp đổ tài chính năm 2007 – 1008, niềm tincủa trường phái tân cổ điển vào các thị trường tự điều tiết hóa ra chỉ là ảo tưởng

mà họ tự vẽ lên để trấn an chính mình Covid – 19 là một yếu tố phi kinh tế, là mộtbiến số đối với nền kinh tế, làm thay đổi quỹ đạo vận hành của các quy luật kinh tếthị trường,và dĩ nhiên thị trường cũng không thể nào điều tiết được, vì thế nên cầnphải có sự điều tiết của nhà nước

Những cuộc khủng hoảng xuất hiện này càng dày đặc làm cho vai trò của họcthuyết Keynes trở nên vô cùng cần thiết đối với mỗi nền kinh tế Việc không thểnào dự báo được các cuộc khủng hoảng đặt nền kinh tế thế giới vào tình trạng bịđộng, việc mà chính phủ các nước trong đó có Việt Nam có thể làm chính là vậndụng học thuyết của Keynes trong xây dựng chính sách nhằm chống lại ảnh hưởngtiêu cực của các cuộc khủng hoảng và vươn lên hậu khủng hoảng Dịch bệnhCovid – 19 vẫn đang diễn ra nhưng chưa có dấu hiệu gì cho thấy dịch bệnh đanglắng xuống bất chấp nỗ lực của thế giới trong việc phổ cập tiêm vắc xin ngừaCovid – 19, theo dự báo của nhiều chuyên gia thì dịch bệnh vẫn còn kéo dài gâyảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế

Xu hướng kinh tế hiện đại đã khiến cho các nền kinh tế thế giới hội nhập sâurộng, việc các cuộc khủng hoảng diễn ra thường xuyên gây ảnh hưởng trên phạm

vi toàn thế giới trong đó có Việt Nam Vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn

Trang 10

đề tài “Học thuyết kinh tế của J.M.Keynes và vận dụng trong các chính sách xử lý

khủng hoảng ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay” làm khóa luận tốt nghiệp của

mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Vấn đề về chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế của các nước nói chung vàViệt Nam nói riêng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứucũng như các chuyên gia ngân hàng

Theo hiểu biết của tác giả, gần đây có một số công trình nghiên cứu khoa học

có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài đã được công bố, đó là một số côngtrình đáng chú ý sau:

- Nghiên cứu “Lý thuyết của John Maynard Keynes về việc làm và vận dụng

vào thực tiễn Việt Nam” – PGS.TS Phan huy Đường – ThS Bùi Đức Tùng –Trường Đại học Kinh tế - Đại Học Quốc gia Hà nội

- Nghiên cứu “Lý thuyết kinh tế vĩ mô kể từ Keynes và những hàm ý cho tầm

nhìn chính sách ở Việt Nam” – TS Nguyễn Đức Thành – Trường Đại Học Kinh tế

- Đại học Quốc gia Hà nội

- Nghiên cứu “Học thuyết Keynes và những vấn đề kích cầu nhằm chống suy

giảm kinh tế ở nước ta” – TS Đinh Văn Thông – Khoa Kinh tế Chính trị, Trườngđại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà nội

Tuy nhiên ở mỗi đề tài thì góc độ nghiên cứu và phương pháp tiếp cận lại khácnhau để các tác giả phân tích, phân giải vấn đề Song đến nay vấn đề về nghiên cứuchính sách nhằm xử lý khủng hoảng ở Việt Nam vào năm 2008 có thể sẽ có nhữngđiểm khác biệt so với chính sách xử lý khủng hoảng kép do Covid – 19 gây ra vìtính chất của hai cuộc khủng hoảng này là khác nhau và cũng chưa có tiền lệ Vì

vậy đề tài “Học thuyết kinh tế của J.M.Keynes và vận dụng trong các chính sách

Trang 11

xử lý khủng hoảng ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay” không bị trùng lặp và cần

được nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về học thuyết kinh tếcủa Keynes, đánh giá thực trạng việc vận dụng những chính sách xử lý khủnghoảng của Việt nam, tác giả đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả, hiệu lực sửdụng chính sách của chính phủ nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Đưa ramột số giải pháp cải thiện hiệu quả, hiệu lực các chính sách khôi phục kinh tế trong

bối cảnh đại hậu Đại dịch Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn học thuyết kinh tế của J.M.Keynes và

vận dụng học thuyết trên vào chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế

- Chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực mà các cuộc khủng hoảng kinh tế đã gây ra cho

nền kinh tế nước ta Từ đó tiến tới phân tích thực trạng việc vận dụng học thuyếtkinh tế của J.M Keynes thông qua việc chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cựccủa chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế, những vấn đề cấp bách đặt ra cần giảiquyết để tiếp tục nâng cao hiệu quả chính sách và hạn chế những tác động tiêu cựccủa khủng hoảng kinh tế

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học thuyết kinh tế của Keyness và chínhsách kinh tế của chính phủ trong bối cảnh khủng hoảng diễn ra

Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá học thuyết của Keynes và chính sách

xử lý khủng hoảng ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến tháng 5năm 2022 và đề xuất giải pháp từ tháng 5 năm 2022 đến hết năm 2022

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận làcác pháp như: thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, sửdụng số liệu thống kê để luận chứng

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung khóa luậngồm 3 chương, 8 tiết

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách trong xử lý khủng hoảngkinh tế tại Việt Nam năm 2022

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH

TẾ VÀ HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M KEYNES

1.1 Cơ sở lý luận về khủng hoảng kinh tế

1.1.1 Khái niệm về khủng hoảng kinh tế và khái niệm liên quan

Trước khi Keynes đề xuất lý thuyết kinh tế của mình, trường phái kinh tếchính trong thời kỳ này là kinh tế học cổ điển Lý thuyết kinh tế học cổ điển lựachọn chính sách tự do, nghĩa là thị trường sẽ tự điều chính theo quy luật cung cầu.Các nhà kinh tế học cổ điển khảng đình rằng tổng cung, không phải tổng cầu làtrọng tâm chủ yếu của nền kinh tế thị trường có nghĩa là chỉ cần các cá nhân và

Trang 13

doanh nghiệp sản xuất hàng hóa để bán hàng thì hàng hóa đó sẽ được mua Kinh tếhọc cổ điển cũng cho rằng thị trường tự do sẽ tự động đảm bảo rằng thị trường sẽkhông có thất nghiệp Họ giải thích khủng hoảng chính là một phần của cơ chế tựđiều chỉnh của thị trường và khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng thì hoàn toàn cóthể tự điều chỉnh để quay về điểm cân bằng Nhưng các cuộc khủng hoảng diễn raliên tục và thường xuyên đã kéo nền kinh tế đi xuống, đỉnh điểm đó chính là cuộckhủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933, lý thuyết kinh tế cổ điển đã không thể giảiquyết được các vấn đề liên quan đến khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp không tựnguyện tăng một cách đột biến Từ đó mà định nghĩa về khủng hoảng sau thời kỳnày đã có những sự chuyển biến

- Khủng hoảng kinh tế được hiểu rằng là sự suy giảm các hoạt động

kinh tế kéo dài và trầm trong hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế Khủng hoảngkinh tế có thể diễn ra trên phạm vi một quốc gia, có thể nổ ra trong phạm vi củakhu vực nhưng cũng có thể nổ ra trên toàn thế giới

- Khái niệm khủng hoảng tài chính: Khủng hoàng tài chính được định

nghĩa là một tình huống trong đó các tài sản chính bị mất một phần đáng kể giá trịcủa chúng hoặc có một sự sụt giảm mạnh về giá trị của tài sản, hay nói cách khácthì khủng hoảng tài chính là do các tập đoàn tài chính mất khả năng thanh khoản.Kết quả là khiến cho nền kinh tế đi từ trạng thái cân bằng với sản lượng cao, trong

đó thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả thành một nền kinh tế có sản lượnggiảm mạnh

Tuy nhiên trong đề tài mà tác giả thực hiện đang sử dụng học thuyết kinh tếcủa J.M Keynes để giải quyết các vấn đề liên quan đến khủng hoảng kinh tế, thếnên thiết nghĩ cần phải đặt mình vào tầm nhìn, có cùng thế giới quan với Keynes

Để có thể giải quyết khủng hoảng kinh tế thì ta phải nhìn các cuộc khủng hoảng

Trang 14

dưới lăng kính quan sát của Keynes, và định nghĩa chúng theo học thuyết củaKeynes.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính lớn vào năm 1929 đã tạo ra một niềm tintrong Keynes rằng khủng hoảng kinh tế là do tỷ lệ tiết kiệm cao hơn tỷ lệ đầu tư thì

nó sẽ gây ra suy thoái và cuối cùng đó chính là khủng hoảng Keynes cho rằng chitiêu giảm liên tục trong nền kinh tế dẫn đến tổng cầu bị giảm, từ đó dẫn đến tỷ lệthất nghiệp cao hơn, dẫn đến chi tiêu thậm chí còn giảm nhiều hơn do số lượng

người thất nghiệp trong nền kinh tế tăng lên Keynes lý giải số lượng người làm

việc trong mỗi xí nghiệp, mỗi ngành cũng như trong toàn bộ nền kinh tế sẽ tùythuộc vào doanh số mà các nghiệp chủ dự kiến thu được từ việc bán sản lượngtương ứng với số lao động được sử dụng đó và họ sẽ cố gắng tối đa hóa lợi nhuậncủa họ

1.1.2 Nguyên nhân khủng hoảng.

Đến thời điểm hiện tại thì không có một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nào cótính chất lặp lại so với các cuộc khủng hoảng trước đó vì thế nên những nguyênnhân gây ra khủng hoảng kinh tế thường gắn liền với những đặc trưng của cuộckhủng hoảng đó Những cuộc khủng hoảng tuy không có cùng nguyên nhân songchúng có cùng các dấu hiệu đi kèm theo như: GDP giảm, nền kinh tế không đảmbảo được thanh khoản, bất động sản, sự biến động mạnh của thị trường tài chính,

1.1.2.1. Nguyên nhân khách quan

Việc nền kinh tế rơi vào khủng hoảng một phần có thể lý giải là do những yếutốt bất bất ổn trong nền kinh tế xuất hiện cùng thời điểm với thời kỳ suy thoái Mộtphần cũng là do những khuyết tật của kinh tế thị trường, điều này thì không mộtnền kinh tế nào là không gặp phải

Trang 15

Hoặc khủng hoảng kinh tế xuất phát từ những yếu tố phi kinh tế như: Thiên tai,dịch bệnh, tâm lý FOMO, chiến tranh, sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng…

1.1.2.2. Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân khủng hoảng của các nền kinh tế phần lớn là do các yếu tố thuộc

về chủ quan Theo tác giả được hình thành phần lớn từ những sai lầm trong nhậnthức, sự can thiệp của con người một cách quá đà vào quá trình vận động củanhững quy luật kinh tế, những sai lầm trong chính sách phát triển của chính phủ, sựlũng loạn nền kinh tế của các tập đoàn tài chính khổng lồ, chạy theo lợi nhuận mộtcách bất chấp của những nhà tư bản và một phần nghịch lý gây ra khủng hoảng đến

từ chính những chính sách chống khủng hoảng của chính phủ

Vì nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng xuất phát từ những yếu tố chủ quannhiều hơn nên khi tiến hành phân loại khủng hoảng người ta cũng dựa trên nhữngđặc trưng những nguyên nhân chủ quan của cuộc khủng hoảng đó Dựa trên tiền đề

đó ta có thể phân loại khủng hoảng thành các dạng như:

- Khủng hoảng ngân hàng: Khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ chức năng

tạo tiền của ngân hàng, khi nền kinh tế trở nên bất ổn tâm lý của con người bìnhthường sẽ là tích trữ tài sản dưới dạng hiện vật (vàng, tiền mặt,…) vì thế nênnhững khoản tiết kiệm của người dân gửi vào ngân hàng sẽ được người dân rút rangay đột ngột khi thị trường có những biến động lớn do chức năng tạo tiền đòi hỏicác ngân hàng thương mại phải cho các ngân hàng khác vay một phần tiền gửi củangười dân và chỉ giữ lại một phần tiền dựa trên tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàngnhà nước quy định Vì thế nên các cuộc khủng hoảng ngân hàng đều xuất phát từviệc người dân rút tiền gửi đột ngột khiến cho ngân hàng không thể đảm bảo đượctính thanh khoản

- Khủng hoảng tiền tệ: khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ việc nền kinh tế được

bơm quá nhiều tiền hay đơn giản chỉ là việc ngân hàng nhà nước in quá nhiều tiền

Trang 16

và phát hành một cách tràn lan vào nền kinh tế Một hình tượng cho khủng hoảngtiền tệ đó chính là nước Đức sau thế chiến thứ 2, do thua cuộc nên nước Đức phảiđền một khoản chiến phí khổng lồ cho các nước thắng trận vì thế nên không còncách nào khác nước Đức phải in tiền để trả nợ Dẫn đến đồng Mác Đức mất giá thêthảm, đây cũng có thể coi là một cuộc khủng hoảng tiền tệ điển hình gần đây.

- Bong bóng và đầu cơ tích trữ: Khi giá sản phẩm leo thang quá cao và kéo

dài trong một thời gian do số người đầu cơ tích trữ với hi vọng sẽ bán được với giácao hơn Tiêu biểu và gần đây nhất đó chính là thị trường bất động sản Mỹ năm

2008, khi giá bất động sản tăng cao người dân thì ham muốn tích trữ bất động sảnnên những ngân hàng ở Mỹ đã thực hiện việc cho vay dưới chuẩn hàng loạt Và khithị trường bất động sản có những bất ổn và sụp đổ dẫn đến đó là hàng loạt ngânhàng Mỹ phá sản Là một trung tâm tài chính lớn của thế giới, việc phố Wall bịchao đảo kéo theo đó là sự sụp đổ của toàn bộ nền tài chính của các trung tâm tàichính khắp nơi trên thế giới

1.1.3 Hậu quả của khủng hoảng kinh tế

Khủng hoảng kinh tế vẫn luôn là điều tồi tệ bất kể đó là quốc gia nào, điềukinh khủng của hậu khủng hoảng chính là nền kinh tế và chủ thể trong nền kinh tế

đó phải chịu ảnh hưởng tiêu cực của chúng trong một thời gian dài mặc dù đã cónhiều chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế

Mặc dù tính chất và nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng là khác nhaunhưng mẫu số chung của chúng là sức sản xuất của nền kinh tế bị giảm sút nghiêmtrọng, xuất phát từ việc các doanh nghiệp và tổ chức không thể duy trì hoạt độngkinh doanh của mình rồi tuyên bố phá sản, kéo theo đó là một phản ứng dâychuyền Hệ thống các ngân hàng bị chao đảo, nhiều ngân hàng bị đóng cửa làm chothị trường tài chính chịu những ảnh hưởng tiêu cực, lượng lớn tài sản của các chủthể trong nền kinh tế bị bốc hơi trong thời gian ngắn

Trang 17

Trong khi lượng lớn của cải bị bốc hơi thì lực lượng sản xuất lâm vào tìnhtrạng thất nghiệp Tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề nghiêm trọng do các xínghiệp đã bị đóng cửa Các xí nghiệp lớn thì tận dụng việc lượng cung lao độngtrong xã hội tăng đột biến làm cho giá nhân công rẻ mạt đi rất nhiều, từ đó mà họtăng cường việc bóc lột sức lao động của người công nhân, hạ thấp tiền công, tănggiờ làm… Hậu khủng hoảng thì người bị ảnh hưởng không phải là những ngườigiàu mà chính là những người làm thuê, nên có thể nói việc gia tăng khoảng cáchgiàu nghèo trong xã hội cũng là một hậu quả của khủng hoảng kinh tế.

Các động thái về ban bố chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế tuy là có tác độngtích cực đến nền kinh tế và hạn chế được tối đa thiệt hại do khủng hoảng gây ra,nhưng cũng phải mất rất nhiều năm để có thể giải quyết được hậu quả của chúng

1.2 Học thuyết kinh tế của J.M Keynes

1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận

1.2.1.1. Hoàn cảnh ra đời

“Một nghìn năm kể từ những năm 1920 – 1970, tôi hy vọng, sẽ là thời gian cho những nhà viết sử Nó khiến tôi phát sốt lên khi nghĩ về nó Tôi tin rằng nó sẽ khiến những nguyên lý nghèo nàn của tôi, với rất nhiều người bạn nghèo nàn, trở thành trang giấy lộn 1 ”

“Keynes không phải là người theo chủ nghĩa xã hội – ông đến để cứu chủ nghĩa tư bản, không phải để chôn nó… Trong lịch sử khoa học xã hội chưa từng có thành tựu nào tương tự như của Keynes 2 ”

1 Dự đoán này được lấy từ một lá thư viết tay ngày 23-2-1915 cùa Alfred Marshall gửi cho Giáo sư C.R Fay, đồng nghiệp tại đại học Cambridge Ông không đề cập đến J.M Keynes như là người khởi xướng của cuộc cách mạng này, nhưng A Marshall đưa ra quan điểm tán đồng đối với sinh viên của mình.

2 Nhận xét của nhà Kinh tế học Paul Krugman

Trang 18

` Đó là những tiên đoán, nhận xét của các nhà kinh tế học lỗi lạc nhất từtrường phái tân cổ điển đến các nhà kinh tế học theo trường phái hiện đại, có thểthấy được những đóng góp của Keynes đối với chủ nghĩa tư bản nói riêng và kinh

tế học nhân loại nói chung là to lớn đến nhường nào Như chúng ta đã biết thì hệthống tự do tự nhiên tư bản chủ nghĩa vốn được sáng lập bới Adam Smith, đượcđiều chỉnh bởi cuộc cách mạng lãi suất và được cải tiến bởi Alfred Marshall, IrvingFisher và những người Áo, đang trong tình trạng khó khăn triền miên Nhưng Đạisuy thoái những năm 1930 đã gần như cuốn phăng tất cả những thành tựu của kinh

tế học tân cổ điển Mặc cho những nỗ lực của kinh tế học tân cổ điển trong việckhôi phục nền kinh tế dưới chính sách kinh tế mới (New Deal) của F Roosevelt bắtđầu từ giữa năm 1930 những không thu được kết quả như kỳ vọng và nhanh chóngthất bại Thất nghiệp ở Mỹ vẫn giữ ở mức hai con số trong suốt thập kỷ và khônggiải quyết được cho đến tận chiến tranh thế giới thứ hai Châu Âu cũng không ởtrong tình trạng tốt hơn, ngoại trừng lính Đức của Hitler là được tuyển dụng hết khichiến tranh xảy ra Trong thế giới tự do, nỗi sợ hãi mất việc làm, bị đói và chiếntranh hiển hiện một cách đáng lo ngại

Chủ nghĩa tư bản lúc này đang phải đối mặt với chính thách thức lớn nhấtchính nó, lúc này trường phải kinh tế học tân cổ điển dựa vào việc nghiên cứu vi

mô nền kinh tế đã không còn là chỗ dựa đáng tin cho chủ nghĩa tư bản Kinh tế họctrong thời kỳ này đang rơi vào khủng hoảng khi mà không có một học thuyết nào

có khả năng trèo lái một nền kinh tế đang đi xuống trầm trọng Lúc này tiếng nóicủa J.M Keynes đã được thế giới chú ý và biết đến vào năm 1936 khi ông xuất bản

cuốn Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ Quan điểm của ông là nghiên

cứu dựa vào những tổng lượng lớn của nền kinh tế, ông cũng chỉ ra vấn đề là nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa vốn dĩ đã không ổn định và không có xu hướng tự nhiênhướng đến toàn dụng lao động Đồng thời ông cũng bác bỏ ý tưởng quốc hữu hóa

Trang 19

nền kinh tế từ những học giả phương tây “học hỏi” từ Nhà nước Liên Xô tức là dựatrên can thiệp mạnh vào giá và tiền lương Mà theo quan điểm của ông là chínhphủ nên sử dụng ngân sách để tác động vào các tổng lượng trong nền kinh tế, kéo

cả nền kinh tế đi lên, cuối cùng tiến dần đến việc chính phủ kiểm soát bánh lái tưbản chủ nghĩa dựa trên điều chỉnh những tổng lượng, từ đó mà nền kinh tế khôngnhững có thể thoát khỏi khủng hoảng mà còn tạo đà cho tăng trưởng

Và đó là hoàn cảnh ra đời của học thuyết Keynes, có thể nói học thuyết kinh

tế của J.M Keynes đã cứu cho chủ nghĩa tư bản một bàn thua trông thấy, Tổng

thống Mỹ bấy giờ là Richard Nixon tuyên bố: “Giờ đây, tất cả chúng ta đều là

Keynesian”.

1.2.1.2. Đặc điểm phương pháp luận

Phương pháp nghiên cứu của Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan của sốđồng, từ đó ông đưa ra các khuynh hướng tâm lý như khuynh hướng tiêu dùng,khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng đầu tư Theo ông các khuynh hướng đóđược coi là tâm lý chung, tâm lý của toàn xã hội Đặc trưng của học thuyết Keynes

là đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô

Theo ông khi phân tích nền kinh tế phải xuất phát từ những tổng lượng lớn củanền kinh tế và khuynh hướng biến đổi của cũng, để tìm ra công cụ, chính sách kinh

tế tác động vào khuynh hướng qua đó làm thay đổi các tổng lượng Nên Keynesđưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với 3 đại lượng:

- Đại lượng xuất phát: là các nguồn vật chất như tư liệu sản xuất, mức độ

trang bị kỹ thuật, trình độ chuyên môn hóa của người lao động, cơ cấu củachế độ xã hội

Trang 20

- Đại lượng khả biến độc lập: là những khuynh hướng tâm lý, đây là cơ sở

hoạt động của mô hình, là đòn bẩy bảo đảm cho sự hoạt động của kinh tế tưbản chủ nghĩa

- Đại lượng khả biến phụ thuộc: Đại lượng này cụ thể hóa tình trạng nền kinh

tế như khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân

Như vậy theo Keynes giữa các đại lượng khả biến độc lập và khả biến phụthuộc có mối liên hệ với nhau, Nếu ký hiệu Q là giá trị sản lượng hiện tại, C là tiêudùng, I là đầu tư thì:

Giá trị sản lượng = tiêu dùng + đầu tư, hay Q = C + I

Keynes cho rằng, trong nền kinh tế, khi có thu nhập thì chia thu nhập đó chotiêu dùng và tiết kiệm Nếu ký hiệu Y là thu nhập, S là tiết kiệm thì:

Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm, hay Y = C + S

Theo quan điểm về giá trị của A Smith thì giá trị sản lượng = thu nhập tức là

Q = Y, từ đó suy ra I = S, tức đầu tư bằng tiết kiệm Đây là mô hình kinh tế vĩ môcủa J.M Keynes Theo mô hình này, việc điều tiết vĩ mô nhằm đảm bảo sự cânbằng, ổn định của nền kinh tế, giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thấtnghiệp phải chuyển hết tiết kiệm thành đầu tư

Học thuyết của J.M Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng, của lĩnh vựctrao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà kinh tế học phải giảiquyết Theo ông, cùng với sự tăng lên của tiêu dùng Nhưng mức tăng tiêu dùngchậm hơn mức tăng của thu nhập, nên cầu của tiêu dùng hiệu quả giảm xuống Đây

là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp, trì trệ trong nền kinh tế Vì thế, đểđẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung và cầu thì cần phải nâng cầu tiêu dùng,tìm biện pháp kích thích cầu có hiệu quả

Trang 21

1.2.2 “Lý thuyết tổng quát về việc làm” của J.M Keynes

1.2.2.1. Các phạm trù cơ bản trong “Lý thuyết tổng quát về việc làm”.

Theo J.M Keynes, vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tưbản là khối lượng thất nghiệp và việc làm Vì vậy vị trí trung tâm của học thuyếtkinh tế của ông là “việc làm”

Trong học thuyết của J.M Keynes, việc làm không chỉ xác định tình trạng thịtrường lao động, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm các tình trạng sảnxuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập Như vậy, việc làm cụ thể hóa tìnhtrạng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, do đó, điều tiết nền kinh tế là phải điều tiết việclàm

Để phân tích “Lý thuyết tổng quát về việc làm” cần phải làm rõ các phạm trù

“khuynh hướng tiêu dùng”, “số nhân đầu tư”, “lãi suất của tư bản cho vay”, “hiệusuất cận biên của tư bản”

Khuynh hướng tiêu dùng:

Khuynh hướng tiêu dùng là tương quan hàm số giữa thu nhập với chi tiêu chotiêu dùng rút ra từ thu nhập đó Khi thu nhập tăng lên thì tiêu dùng cũng tăng vàngược lại, khi tiền lương biến đổi thì phần tiêu dùng cũng biến đổi cùng chiều, tức

là khi thu nhập tăng lên thì các cá thể trong nền kinh tế cũng tăng chi tiêu

Sự thay đổi về chênh lệch giữa thu nhập và thu nhập ròng Số tiền chi tiêu chotiêu dùng phụ thuộc vào tiền thu nhập thực tế chứ không phải thu nhập danh nghĩa.Những thay đổi về giá trị - tiền vốn không được tính đến trong thu nhập ròng.Keynes cho rằng chi tiêu của giai cấp tư bản có thể dễ bị chi phối với những thayđổi không thể lường trước được về giá trị tài sản của họ tính bằng tiền Sự thay đổicủa tỷ suất lợi tức cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng, Keynes

lý giải sự thay đổi này chỉ trong ngắn hạn, là thứ yếu và không quan trọng lắm

Trang 22

Nếu chính phủ sử dụng chính sách tài khóa vào việc phân phối lại thu nhập chochúng bình đẳng hơn, thì ảnh hưởng của chính sách đó trong việc tăng cườngkhuynh hướng tiêu dùng lại càng lớn hơn Yếu tố cuối cùng Keynes cho rằng ảnhhưởng đến khuynh hướng tiêu dùng là các dự kiến về quan hệ giữa thu nhập hiệntại và thu nhập tương lại Keynes cho rằng nhân tố này có thể tác động đáng kể vàothu nhập tương lai và sẽ có tác động lớn đến khuynh hướng tiêu dùng của một cánhân riêng biệt, nhưng nếu so với xã hội thì sự tăng của khuynh hướng tiêu dùngnày là không đáng kể do đã bị bình quân hóa.

Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng Có tám nhân

tố mang tính chủ quan làm cho cá nhân phải tự hạn chế chi tiêu lấy từ thu nhập củamình Đó cũng là tám động cơ: dự phòng, nhìn xa thấy trước, tính toán chi ly, cảithiện mức sống, tự lập, kinh doanh, kiêu hãnh và hà tiện Nói chung là những nhân

tố phụ thuộc vào cá tính từng người

Như vậy, mức chi tiêu phụ thuộc vào rất nhiều các yếu t, có khách quan, có chủquan nhưng nhìn chung thì yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng một cách trực tiếp đếnkhuynh hướng tiêu dùng chính là thu nhập Mà như đã đề cập ở trên thì thu nhậplại lệ thuộc vào sản lượng và việc làm

- Khuynh hướng tiêu dùng cận biên

Keynes định nghĩa, khuy hướng tiêu dùng cạn biên là khuynh hướng chia phầnthu nhập tăng thêm cho tiêu dùng

Nếu ký hiệu dY là thu nhập tăng thêm, dC là tiêu dùng tăm thêm thì khuynhhướng tiêu dùng cân biên sẽ là dC / dY

Ông lý giải khi khủng hoảng diễn nền công nghiệp sản xuất bị trì trệ, nhiềudoanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí là đóng cửa làm cho tình trạng thấtnghiệp gia tăng, mức thu nhập (Y) thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết (C) nên dẫn

Trang 23

đến tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập Đối với một cá nhân trong nền kinh tếtrong trường hợp này anh ta phải sử dụng nguồn dự trữ tài chính trước đây mà anh

ta đã tích lũy được trong khoảng thời gian mà nền kinh tế đang thịnh vượng trướcđây Còn đối với chính phủ, khi nền kinh tế suy thoái thì buộc họ phải sử dụngchính sách tài khóa nên rất có thể sẽ xuất hiện thâm hụt, trong trường hợp này thìnhà nước hoặc là chấp nhận tình trạng thâm hụt ngân sách hoặc là phát hành côngtrái để có thể bù lại cho khoản thâm hụt này

Còn khi nền kinh tế đang ở thời kỳ thịnh vượng thì mức thu nhập tăng cao, còn(C) thì không tăng đáng kể Lúc này khoảng cách giữa thu nhập và chi tiêu đượcnới lỏng, tạo ra một “khoảng không” lớn dành cho tiết kiệm Điều này xuất phát từquan điểm của Keynes, “quy luật tâm lý thông thường của chúng ta là khi thu nhậpthực tế của cộng đồng tăng hay giảm, thì tiêu dùng của cộng đồng thực tế sẽ tănghay giảm theo nhưng không nhanh bằng”, hay hiểu một cách đơn giản hơn quanđiểm này của Keynes là, dù đặt trong trường hợp Y < C hay Y > C, thì nhìn chung

C sẽ tăng giảm, những biên độ không cao

Keynes rút ra được kết luận rằng: việc làm tăng sẽ làm tăng thu nhập, do đócung làm tăng tiêu dùng Song, do quy luật tâm lý cơ bản, nên sự gia tăng tiêudùng chậm hơn sự gia tăng thu nhập, còn tiết kiệm có khuynh hướng tăng nhanhhơn Điều này làm cho cầu tiêu dùng giảm tương đối và cầu thực tễ cũng giảmtheo, vì vậy giá cả hàng hóa giảm, do đó sẽ không kích thích được doanh nhân đầu

tư Khi doanh nhân không đầu tư thì nền kinh tế sẽ rơi vào trì trệ, khủng hoảng vàthất nghiệp

Số nhân đầu tư

Keynes định nghĩa số nhân đầu tư là tỷ số giữa tăng thu nhập và gia tăng đầu tư

Trang 24

Nếu ký hiệu dY là gia tăng thu nhập; dI là gia tăng đầu tư, K là số nhân đầu tư

Mô hình số nhân phản ánh mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập với gia tăng đầu

tư Nó xác định sự gia tằng đầu tư sẽ làm cho gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần

Theo Keynes mối sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu nhâncông, cầu về tư liệu sản xuất Điều đó làm cho C tăng lên Thu nhập mà tăng thìtiêu dùng cũng sẽ tăng dựa theo khuynh hướng tiêu dùng của người dân, do thế màgiá cảng hàng hóa tăng theo do tổng cầu trong nền kinh tế đã và đang trong quátrình hồi phục Khi giá hàng hóa tăng lên, doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuậnhơn qua đó kích thích các nhà đầu tư gia tăng các khoản đầu tư Đầu tư tăng lạikhiến cho thu nhập của người dân tăng lên… quá trình đó lặp đi lặp lại nhiều lầnlàm cho thu nhập (C) và đầu tư (I) không ngừng tăng kéo theo đó là tổng cầu tăng,

đó là cách mà số nhân đầu tư hoạt động Với một lương I ban đầu, dựa trên số nhânđầu tư đã phóng đại thu nhập của nền kinh tế và gia tăng một lượng đầu tư mới

Để miêu tả quá trình này một cách trực quan và dễ hiểu hơn thì nền kinh tếđang tê liệt và trì trệ giống như một hồ nước rộng và phẳng lặng Ví lượng đầu tư Inhư mà một hòn đá thì khi ném hòn đá đó xuống nước sẽ tạo ra một sự chấn động,chấn động ở đây là chấn động mang tính tích cực đối với nền kinh tế đang khủnghoảng Chấn động đó sẽ mạnh nhất ở khu vực mà dòng tiền đầu tư trực tiếp chảyvào, dựa trên số nhân đầu tư thì lượng I này không chỉ có tác động ở mỗi điểm viên

đá được ném xuống mà còn có tác động như những làn sóng tạo ra từ chấn độngban đầu, lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế Qua đó có thể khiến nền kinh tế trở nênsôi động, trở lại

Lãi suất của tư bản cho vay

Trang 25

Lãi suất

Khối lượng tiền tệ

Theo J.M Keynes, lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm haynhịn chi tiêu, vì khi anh ta tích trữ tiền mặt, thì anh ta không nhận được một khoảntrả công nào, mặc dù anh ta có thể tích trữ rất nhiều tiền mặt trong một thời gianxác định nào đó Keynes cho rằng, “lãi suất là khoản thù lao cho việc mất đi khảnăng chuyển hoán trong một thời gian nhất định”, là phần thưởng cho việc từ bỏquyền giữ tiền mặt “Nếu khảo thù lao cho việc không sử dụng tiền mặt giảmxuống thì tổng lượng tiền mặt mà dân chúng muốn giữ lớn hơn mức cung tiền mặt

và nếu lãi suất được nâng lên, thì có một số dư tiền mặt mà không một ai muốngiữ”

Theo đó Keynes chỉ ra hai nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất:

Một là khối lượng tiền tệ, J.M Keynes cho rằng, khối lương tiền tệ đưa vào lưu

thông càng tăng thì lái suất càng giảm Đây là luận điểm quan trọng để ông đưa rachính sách điều kinh tế của nhà nước Như đã phân tích ở trên, chênh lệch giữahiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư và lãi suất của tư bản cho vay tạo ra bởi giớihạn của các cuộc đầu tư Vì vậy, để kích thích đầu tư, cần tìm biện pháp tăng hiệuquả giới hạn của tư bản và giảm lãi suất

Vì khối lường tiền tệ trong lưu thông ảnh hướng đến lãi suất, nên muốn giảm lãisuất Keynes đề nghị nên in thêm tiền để đưa vào lưu thông

25

Trang 26

Hai là khuynh hướng ưa chuộng tiền mặt Theo Keynes, sự ưa chuông tiền mặt

là khuynh hướng có tính chất hàm số, ấn định khối lượng tiền mặt mà dân chúngmuốn giữ tương ứng với mỗi mức lái suất nhất định

Nếu r là lái suất, M là khối lượng tiền mặt mà dân chúng muốn giữ, L là hàm số

ưa chuộng tiền mặt, thì: M = L(r)

Sự ưa chuồng tiền mặt do các nhân tố sau đây ra quyết định:

- Động lực giao dịch, đó là nhu cầu tiền mặt dùng vào giao dịch hàng ngày.

o Đối với cá nhân, thu nhập định kỳ, nhưng chi tiêu lại liên tục nên phảigiữ lại một lượng tiền nhất định đề dùng vào việc giao dịch Số lượng tiền giữ lạinày nhiều hay ít phụ thuộc vào thu nhập và khoản thời gian giữa hai thu nhập liênnhau

o Đối với doanh nghiệp, lượng tiền mà doanh nghiệp giữ lại để phục vụkinh doanh Số lượng tiền mặt giữ lại này phụ thuộc vào doanh thu và khoảng cáchgiữa thời kỳ chi trả các kinh phí kinh doanh với thời kỳ nhận được thu nhập doviệc bán sản phẩm, tức là phục thuộc tốc độ chu chuyển của tư bản

- Động lực dự phòng Đây là động lực giữ tiền đề phòng trường hợp bất trắc,

đòi hỏi một số chi tiêu đột xuất và thực hiện những vụ mua bán có lời những khôngđược dự báo trước

- Động lực đầu cơ Đây là động lực giữ tiền nhằm kiếm lợi do hiểu rõ tương

lai sắp tới của thị trường chứng khoán

Theo J.M Keynes, trong ba động lực trên, động lực nào mạnh phụ thuộc có haykhông thị trường chúng khoán Nếu có thị trường chứng khoán, thì động lực đầu cơmạnh hơn, còn nếu không có thị trường chứng khoán thì động lực dụ phòng mạnhhơn Nếu gọi M là sự ưa chuộng tiền mặt; M1 là số tiền mặt dùng cho động lựcgiao dịch và dự phòng; M2 là số tiền mặt dùng cho động lực đầu cơ; L1(Y) là hàm

số tiền mặt xác định M1 tương ứng với thu nhập (Y); L2(r) là hàm số tiềm mặt xácđịnh M2 tương ứng với lãi suất r, thì:

Trang 27

M = M1 + M2 = L1(Y) + L2(r)

Trên cơ sở phân tích ba vấn đề: mối liên hệ giữa các biến đổi của M với cácbiến đổi của Y và các r, các nhân tố xác định hàng số L1 và các nhân tố xác định

M2 J.M Keynes kết luận: Không chỉ M2 biểu hiện hàm số của r, mà thu nhập Y

cũng phụ thuộc một phần vào r Vì vậy, M1 và M cũng phục thuộc vào r Nói cách khác, sự ưa chuộng tiền mặt là hàm số của lãi suất (r).

Theo Keynes, lãi suất là một khuynh hướng tâm lý cao độ, có tính quy ước Nếungười ta tin rằng mức lãi suất đó được kéo dài, thì nó được tuy trì lâu dài Dĩ nhiên,trong một xã hội có nhiều biến động, thì lãi suất sẽ biến đổi xoay quanh mức bìnhthường đó Vì lãi suất có tính quy ước, nên dư luận công chúng có thể làm quennhanh chóng với sự giảm sút lãi suất vừa phải Điều đó cho phép giới thẩm quyền

có thể dùng chính sách điều chính lãi suất để tác động vào nền kinh tế

Thứ tư, hiệu suất cận biên của tư bản

J.M Keynes phân biệt nhà kinh doanh với nhà tư bản Nhà tư bản là người có

tư bản cho vay, họ sẽ thu được lãi suất Còn doanh nhân là người đi vay tư bản đểtiến hành sản xuất – kinh doanh, họ dám chịu trách nhiệm về số tư bản của mình đivay, dám chấp nhận mạo hiểm nếu công việc kin doanh có thất bại

Khi doanh nhân thu mua một tài sản tư bản hay một khoản đầu tư, là anh ta muaquyền để có “thu hoạch tương lai” Đó là chênh lệch giữa số tiến bán hàng với phítổn cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó J.M Keynes gọi đó là “thu hoạch tươnglai” của đầu tư Ngược lại với “thu hoạch tương lai” của đầu tư là giá cung của tàisản tư bản Đó là mức giá đủ khiến nhà sản xuất quyết định sản xuất thêm một đơn

vị sản phẩm J.M Keynes gọi đó là “phí tổn thay thế” Tương quan giữa “thuhoạch tương lai” của đầu tư và “phí tổn thay thế” để sản xuất ra một đơn vị sảnphầm thì Keynes gọi đó là “hiệu suất cận biên” của tư bản

Trang 28

J.M Keynes cho rằng, cùng với việc tăng lên của tư bản đầu tư, thì hiệu suấtcận biên của tư bản sẽ bị giảm sút Có hai nguyên nhân làm cho hiệu suất cận biêncủa tư bản giảm sút:

Một là đầu tư tăng sẽ làm tăng khối lượng hàng hóa ra thị trường Điều đó làmcho giá cả của hàng hóa giảm xuống và “thu hoạch tương lại” cũng giảm theo/

Hai là, đầu tư tăng sẽ làm giá cung của tài sản tư bản tăng lên hay làm “tăng phítổn thay thế

Như vậy việc tăng đầu tư dẫn đến làm giảm “thu hoạch tương lai” và tăng “phítổn thay thế” sẽ làm giảm hiệu suất cận biên của tư bản Từ đó hình thành “conđường con hiệu suất cận biên” của tư bản Đường cong này phản ánh quan hệ đầu

tư thăng thêm với hiệu suất cận biên của tư bản

1.2.3 Học thuyết về sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế của J.M Keynes 1.2.3.1. Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân

Dựa trên “Lý thuyết tổng quát về việc làm”, J.M Keynes đi đến kết luận:muôn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp nhà nước phải có chương trình đầu tưquy mô lớn Dựa vào đó, nhà nước thực hiện việc điều tiết kinh tế Trước hết, theoông, để đảm bảo cho sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp và khủng hoảng,thì không thể dựa vào cơ thế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệt củanhà nước vào kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng (C) và đầu tư (I)

để đảm bảo việc làm và gia tăng thu nhập Vì thế ông đề nghị nhà nước phải duy trìcầu đầu tư, bất kể đó có là đầu tư của nhà nước hay đầu tư của thư nhân

Về đầu tư tư nhân, ông chủ trương phải sử dụng ngân sách nhà nước đặthàng cho tư nhân; thực hiện trợ cấp về tài chính, tín dụng từ ngân sách nhà nước đểtạo sự ổn định về lợi nhuận và kích thích sự ham muốn, sở thích đầu tư của tư bảnđộc quyền

Trang 29

Để đảm bảo đầu tư của nhà nước, ông cho rằng nhà nước cần dành một phầnngân sách xây dựng các doanh nghiệp nhà nước và tăng chi tiêu của nhà nước

1.2.3.2. Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ

Trong học thuyết của J.M Keynes, tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ làcông cụ kinh tế vĩ mô rất quan trọng Mục đích sử dụng công cụ này là:

Thứ nhất, dùng hệ thống tài chính, tín dụng, tiền tệ để kích thích lòng tin,

tính lạc quan và tích cực đầu tư của doanh nhân Để thực hiện mục đích này, ôngchủ trương tăng thêm khối lường tiền vào lưu thông để giảm lãi suất Lãi suất giảm

sẽ tạo ra sự chênh lệch giữa hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư và lãi suất, qua đókhuyến kích danh nhân đầu tư mới Mặt khác, lãi suất giảm sẽ khuyến kích doanhnhân vay tư bản để tăng khối lượng đầu tư Đồng thời để tăng hiệu quả tư bản, ôngchủ trương “lạm phát có kiểm soát” để làm gia tăng giá cả hàng hóa Trong điềukiện chi phí chưa thay đổi doanh nhân sẽ thu được khối lượng lợi nhuận nhiều hơn

Vì vậy, Keynes cho rằng, lạm phát là biến pháp hữu hiệu để kích thích thị trường

mà không gây ra sự nguy hiểm

Thứ hai, ông chủ trương in thêm tiền giấy để bù đắp thiếu hụt của ngân sách

nhà nước, để đảm bảo mở rộng đầu tư tư nhân của nhà nước và chi tiêu của chínhphủ

Thứ ba, ông chủ trương sử dụng công vụ thuế để điều tiết nền kinh tế Theo

ông, đối với người lao động, cần thiết phải tăng thuế để điều tiết bớt một phần tiếtkiệm từ thu nhập của họ, đưa phần này vào ngân sách nhà nước để mở rộng đầu tư

Trang 30

cũng tốt, vì như vậy sẽ giải quyết được việc làm, có thêm thu nhập, chống đượckhủng hoảng và thất nghiệp.

1.2.3.4. Khuyến khích tiêu dùng

Để mở rộng tiêu dùng, ông khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với các nhà

tư bản, tầng lớp giàu có cũng như đối với người nghèo Đối với người lao động,ông cũng khuyến khích tăng tiêu dùng Song điều đó gặp phải trở ngại vì các biệnpháp nhằm tăng giá cả và ướp lạnh tiền lương mà ông đã đề xuất nhằm chống thấtnghiệp và tăng hiệu quả cận biên của tư bản

1.3. Các chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế từ góc độ học thuyết kinh tế

tế thông qua việc tác động vào những tổng lượng trong nền kinh tế Để có thể tácđộng vào tổng lường thì Chính phủ cần các công cụ và các công cụ đó là: chínhsách tài khóa của Chính phủ và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung TW(NHTW)

1.3.1 Chính sách tài khóa của Chính phủ

Chính sách tài khóa là quyết định của chính phủ về điều chính mức chi tiêu

và thuế suất nhằm mục đích định hướng nền kinh tế vào mức sản lượng, mức việclàm mong muốn, ổn định giá cả, lạm phát trong nền kinh tế của một quốc gia

Trang 31

Cũng có thể hiểu chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chínhphủ về mức huy động nguồn tài chính và chi tiêu của ngân sách trong khoản thờigian nhất định, bao gồm tập hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy độngcác nguồn hình thành ngân sách quốc gia, nhằm phục vụ các khoản chi lớn của nhànước theo kế hoạch từng năm tài chính, như là chi thường xuyên, chi đầu tư pháttriển, quỹ bổ sung dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn.

Về chính sách tài khóa của Chính phủ thì trong học thuyết của mình Keynes

đã lập luận rằng, cần thiết phải có vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế đốiphó với khủng hoảng và thất nghiêp; Nhà nước nên sử dụng quyền hạn đó để đánhthuế và gia tăng chi tiêu, qua đó để tác động lên chu kỳ kinh doanh Chi tiêu củaChính phủ là khoản đầu tư công cộng, bơm thêm tiền vào dòng chảy thu nhập và

do đó để có thể khôi phục lại tổng cầu Những khoản chi tiêu đó là lấy từ tiền đánhthuế, tiền bán trái phiếu Chính phủ và bằng những biện pháp vay nợ khác…

Thực tế hiện nay các nhà hoạch định chính sách đã không chỉ giới hạn mụctiêu của chính sách tài khóa như Keynes mà các mục tiêu này hiện nay đã được mởrộng hơn nhưng về bản chất thì không có sự thay đổi, có thể kể đến các mục tiêu

mà chính sách tài khóa hướng đến như: Tăng sản lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinhtế; Ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát; Tạo công ăn việc làm cho người lao động;Cân bằng cán cân thương mại

Với chính sách tài khóa thì công cụ được dùng đề điều tiết kinh tế vĩ mô làthuế và chi tiêu của chính phủ Vì vật mà khi thuế thay đổi sẽ tác động trực tiếpđến thu nhập khả dụng, có thể tăng lên hoặc giảm đi Thuế trực thu thì đánh thẳngvào tài sản hoặc thu nhập cá nhân của người dân, còn thuế gian thu là thuế đánhtrên giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông quá các hành vi sản xuất và tiêu

Trang 32

tiêu của người dùng thay đổi, không chỉ dụ kiến chi tiêu thay đổi mà còn làm thayđổi cả đầu tư dự kiến của các chủ thể khác trong nền kinh tế.

Sự thay đổi trong kế hoạch chi tiêu cua Chính phủ cũng sẽ là nhân tố trựctiếp làm thay đổi tổng chi tiêu của nền kinh tế Chính sách chi tiêu của chính phủcũng hết sức đa dạng những cũng có thể chia làm hai thành phần chính là chi tiêuthường xuyên (lương cho công chức, chi cho các hoạt động giáo dục, y tế, khoahọc – công nghệ, an ninh – quốc phòng) và chi tiêu đầu tư phát triển (Xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội) Qua đó đồng thời chúng ta cũng nhận thấy chính sáchtài khóa của chính phủ phần lớn dựa trên 2 công cụ cơ bản là thuế và chi tiêu ngânsách của Chính phủ Ngoài thuế và chi tiêu của chính phủ thì tín dụng của nhànước cúng là một công cụ quan trọng để điều hành chính sách tài khóa Khi chitiêu của chính phủ lớn hơn mức thuế thu được, Chính phủ phải nợ trong nước vàngoài nước để bù đắp thâm hụt ngân sách, hình thành nợ chính phủ và gọi là tíndụng nhà nước Tín dụng nhà nước được thực hiện qua các công cụ như công trái,tín phiếu, trái phiếu quốc tế, trái phiếu chính phủ

Về cơ bản phân loại chính sách tài khóa dựa trên lý thuyết của Keynes vàthực tế hoạt động hoạch định chính sách thì phân chúng thành ba loại: Chính sáchtài khóa mở rộng; Chính sách tài khóa cân bằng; Chính sách tài khóa thắt chặt

- Chính sách tài khóa mở rộng: Chính sách tài khóa được gọi là mở rộng nếu

ns được tiến hành theo hướng giảm thuế, hoặc tăng chi tiêu của Chính phủ nhằmđẩy tổng cầu lên cao và do đó làm gia tăng sản lượng và việc làm của nền kinh tế.Được sử dụng trong bối cảnh nền kinh tế bị suy thoái hoặc đình đốn, nền kinh tếđang rất cần một nhân tố để kích thích

- Chính sách tài khóa thu hẹp: Chính sách tài khóa thu hẹp là chính sách được

thực thi theo xu hướng hoặc là tăng thế, hoặc giảm chi tiêu Chính phủ, hoặc là cả

Trang 33

hai biện pháp cung một lúc Chính sách này được sử dụng khi nền kinh tế tăngtrưởng quá “nóng”, có khả năng sảy ra lạm phát.

- Chính sách tài khóa cân bằng: Là chính sách tài khóa mà tổng chi tiêu của

Chính phủ cân bằng với các nguồn thuế, phí lệ phí và các nguồn thu nhà nước khác

mà không phải vay nợ Chính sách này không có nhiều tác động lên nền kinh tế

1.3.2 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng TW

Chính sách tiền tệ là một bộ phận nằm trong tổng thể hệ thống chính sáchkinh tế mà nhà nước đề ra nhằm thực hiện quản lý kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế

để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định

Ngoài ra chính sách tiền tệ còn được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành và kiểm soát toàn

bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, có tác động đến 4 mục tiêu lớncủa kinh tế vĩ mô từ đó để đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ và giữ vữngsức mua của đồng tiền và ổn định giá cả hàng hóa,

Theo nghĩa hẹp, chính sách tiền tệ là chính sách quan tâm đến khối lường tiền tệcung ứng tăng thêm trong thời gian tới phù hợp với sức tăng trưởng của nền kinh tế

dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có và cũng nhằm ổn định tiền tệ cũng như giá cảhàng hóa

Về cơ chế vận hành thì chính sách tiền tệ không giống như chính sách tài khóa,chính sách tiền tệ đồi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải đưa ra lựa chọn hoặc

là kiểm soát cung tiền hoặc là kiểm soát lãi suất, không thể nào có chuyện vừakiểm soát cung tiền mà vừa kiểm soát lãi suất

Khi chọn kiểm soát cung tiền thì lãi suất lức này sẽ lên xuống tùy thuộc vàoquan hệ cung – cầu tiền tệ trên thị trường, thực tế là do mức cầu tiền quyết định.Ngược lại, nếu chọn mục tiêu là ổn định lãi suất thì đòi hỏi mức cung tiền phải

Trang 34

thay đổi linh hoạt theo quyết định của các lực lượng trong thị trường Mà lãi suấtlại có ảnh hưởng rất lớn đến tổng cầu.

Khi mà lãi suất tăng cao sẽ làm cho việc giữ tiền để chi tiêu mua sắm trở nênđắt hơn, người tiêu dùng sẽ giảm bớt nhu cầu giữ tiền mặt để giao dịch, đầu tư vàchuyển sang mua các tài sản sinh lợi Lãi suất tăng cũng làm cho chi phí đầu tưtăng, làm cho các nhà đầu tư có xu hướng giảm đầu tư xuống và tìm những kênhtrú ẩn an toàn như gửi tiền vào trong ngân hàng Hệ lụy của việc để lái suất tăngcũng tác động tiêu cự đến xuất khẩu ròng của các quốc gia Ngược lại với khi láisuất tăng cao, lái suất thấp kích thích người tiêu dùng tăng chi tiêu dự kiến, cáccông tư thay vì gửi tiền vào ngân hàng thì cũng phải tìm những kênh trú ẩn tài sảnkhác hoặc là đem tiền đi đầu tửa thị trường, đồng tiề so với đồng ngoại tệ cũng rẻhơn tạo điều kiện cho những nước định hướng xuất khẩu hàng hóa như Việt Nam

Chính sách tiền tệ về cơ bản được chia làm hai hình thức chính là chính sáchtiền tệ nới lỏng và chính sách tiền tệ thắt chặt:

- Chính sách tiền tệ nới lỏng: Là một chính sách hướng đến việc là gia tăng

cung tiền của nền kinh tế, làm cho lãi suất giảm xuống và kích thích tổng cầu trongnền kinh tế

- Chính sách tiền tệ thắt chặt: Ngược lại với chính sách tiền tệ nới lỏng , thì

chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm vào việc giảm bớt cung tiền làm cho cầu tiền tăngcao dẫn đến tăng lãi suất, điều đó làm hạn chế sự gia tăng tổng cầu và sản lượngcân bằng

Để có thể thực hiện được chính sách tiền tệ thì Ngân hàng Trung Ương cần phải

có những công cụ để phục vụ cho mục tiêu kích thích tổng cầu Có thể kể đến một

số những công cụ tiêu biểu như:

- Nghiệp vụ thị trường mở: Là hoạt động Ngân hàng TW mua bán giấy tờ có

giá trị ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hóa cùng cầu về giấy tăng có giá, gâyảnh hửng đến khối lượng dự trữ của hệ thống các Ngân hàng thương mại, từ đó tác

Trang 35

động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làmtăng hay giảm khối lượng tiền tệ.

- Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc; Là một quy định của Ngân hàng TW về tỷ lệ

tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại buộc phải tuân thủ để đảm bảotính thanh khoản Các ngân hàng thương mại có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặcbằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.Qua đó mà NHTW có thể quyết định việc có hay không nên việc tăng cung tiềnvào thị trường trên cơ sở thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàngthương mại

- Công cụ thay đổi lái suất chiết khấu: để tăng thêm cung tiền thì NHTW

khuyến khích các ngân hàng thương mại vay thêm tiền bằng việc hạ mức lãi suấtchiết khẩu và tạo điều kiện cho vay thuận lợi Ngược lại, khi tăng lãi suất chiếtkhấu, NHTW muốn giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng và qua đó hạnchế việc tăng cung tiền hoặc cũng có thể là rút bớt lượng tiền trong lưu thông

- Công cụ lái suất tín dụng: Là công cụ gián tiếp trong việc thực hiện chính

sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi trong lái suất không trực tiếp làm tăng thêm haygiảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể kích thích hay kìm hãm sản xuất

Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách vàgiải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết sản xuất trên thị trườngtiền tệ tín dụng trong từng thời kỳ nhất định Ngoài ra còn một số công cụ có thể kểđến như công cụ hạn mức tín dụng và tỷ giá hối đoái

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Trong chương này tác giả đã khái lược những vấn đề cơ bản về học thuyếtkinh tế của John Maynard Keynes Trong đó đã trình bày được những phạm trù cơbản của học thuyết, tiếp theo đó tác giả cũng đã trình bày được nội dung của họcthuyết

Trang 36

Nội dung trung tâm của học thuyết bao gồm hai lý thuyết lớn đó lần lượt là

lý thuyết tổng quát về việc làm và học thuyết về sự can thiệp của Nhà nước vàonền kinh tế Bên cạnh đó để có thể làm sáng rõ cho nội dung phân tích của chương

II và chương III thì tác giả nêu chi tiết những chính sách cơ bản của chính phủ đểcan thiệp vào nền kinh tế như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Tiếp theocủa chương I sẽ là chương II “Ảnh hưởng của học thuyết Keynes đến chính sách

xử lý khủng hoảng của một số quốc gia”

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA J.M KEYNES VÀO XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HAI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ (2008) VÀ KHỦNG

HOẢNG KINH TẾ DO COVID – 19 (2020)

2.1 Vận dụng học thuyết kinh tế của J.M Keynes vào chính sách xử lý khủng hoảng kinh tế năm 2008

2.1.1 Khủng hoảng kinh tế năm 2008 và những tác động của nó đến Việt Nam

Sau một khoảng thời gian dài đạt được những thành tích kinh tế ấn tượng,sau năm 2007 nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng tăng tường quá nóng Tìnhhình kinh tế xấu đi đáng kể trong nửa đầu năm 2008 Từ cuối năm 2008, cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra sau sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và hệthống ngân hàng tại Mỹ, rồi từ Mỹ la ra các trước trên thế giới Cuộc khủng hoảngnày đã dẫn kinh tế toàn cầu đi xuống, đây là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhấtcủa thế giới trong vòng 100 năm trở lại đây Cuộc khủng hoảng này xảy ra đúnglúc nền kinh tế Việt Nam đang bắt đầu hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế nên tác độngcủa cuộc khủng hoảng này đến với Việt Nam là hoàn toàn khác biệt so với cáccuộc khủng hoảng trước đó

Trang 37

Giống như Mông Cổ và các quốc gia đang phát triển khác, khiến cho thunhập của người dân giảm mạnh, sức mua trên thị trường Việt Nam và thế giới bịthu hẹp, hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhanh chóng.Những ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu như dệt may, da giày, điện tử, thủ công

mỹ nghệ, thực phẩm, công nghiệp tiêu dùng đồ gỗ… bị đình đốn đã tác động mạnh

mẽ đến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam vì có tới 60% GDP được tạo ra từcác ngành sản xuất, xuất khẩu

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều giảm nhanh

kể từ quý IV – 2008 Tính chung 9 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hóa xuấtkhẩu giảm 14,3%, nhập khẩu giảm 25,2% so với cùng kỳ năm 2008 Giảm cầu tiêudùng tác động mạnh đến các ngành sản xuất tiêu dùng, gây ảnh hưởng nghiêmtrọng đến việc làm của người lao động trong doanh nghiệp cũng như ỏ các lạngnghề Số liệu thống kế cho thấy, xuất khẩu mây, tre, cói, giảm chỉ đạt 85 triệu USDcòn xuất khẩu gốm, sứ chỉ đạt 130 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 2009, giảm

Do cầu của thị trường thế giới giảm sút nên lượng vốn FDI vào Việt Namcũng suy giảm Năm 2008, luồng FDI cam kết lên đến 62 tỷ USD những đên tháng

9 năm 2009 con số này mới chỉ đạt 12,2% so với cùng kỳ năm trước Ngoài ra, tìnhhình suy thoái kinh tế với tốc độ tăng trưởng âm ở nhiều quốc gia có lượng vốnđầu tư lớn vào Việt Nam như Singapore, Nhật Bản, Mỹ, Tây Âu… cộng thêm thựctrạng nhiều dự án địa ốc lớn ở Việt Nam đang bị ngưng trệ nên càng làm chonguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam bị giảm đi đáng kể

Trụ cột của nền công nghiệp Việt Nam tại thời điểm này là ngành côngnghiệp gia công, tuy nhiên cầu tiêu dùng giảm mạnh đã tác động lớn đến với mảng

3Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2009

https://pserver.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2019/04/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-6-thang-dau-nam-2009/

Trang 38

gia công, dẫn đến tốc độ tăng giá trị của ngành công nghiệp này bị sụt giảmnghiêm trọng Năm 4 quý của năm 2008 chỉ tăng 6,1% và tháng 9 năm 2009 chỉtăng 4,5% Sản lượng công nghiệp 9 tháng đầu năm của năm 2009 chỉ tăng 6,5%chỉ số này chỉ bằng 1/4 so với những năm trước đó Cũng dễ hiểu bởi nền kinh tếViệt Nam trước năm 2007 là nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng nóng,tuy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng nền công nghiệp Việt Nam có cơ cấu khônghợp lý Khi khủng hoảng xảy ra đã bộc lộ nhiều vấn đề.

Về công nghiệp khai khoáng, chúng ta khá giống với một quốc gia khácchính là Mông Cổ Nếu ngành công nghiệp khai khoáng và xuất khẩu của Mông

Cổ chịu sự chi phối lớn của giá các khoản sản như Vàng và đồng thì nền kinh tếViệt Nam lại chịu sự chi phối lớn của giá dầu mỏ trên thế giới Phải biết rằng môhình phát triển kinh tế của nước ta trong những năm này phục thuộc lớn vào việcxuất khẩu các khoán sản, và dầu mỏ Khi khủng hoảng diễn ra đã khiến cho giá cảcác hàng hóa này trên thị trường thế giới giảm xuống, đây là cú đánh đau đối vớinền kinh tế Việt Nam khi mà đây chính là nguồn thu ngoại tệ lớn

Một nguồn thu ngoại tệ nữa của Việt Nam chính là xuất khẩu các hàng hoánông nghiệp Khủng hoảng kinh tế đã khiến cho giá xăng dầu tăng cao do mâuthuẫn địa chính trị ở một số khu vực dầu mỏ nhạy cảm trên thế giới và hoạt độngtích cực của các nhà đầu cơ đã đẩy giá dầu thô tăng mạnh trong suốt 6 tháng đầunăm 2008, lên mức cao lần đầu tiên trong lịch sử kinh tế thế giới dầu thô được giaodịch với giá 147 USD/thùng vào ngày 11/04/2008 Kéo theo đó là giá cả của phânbón, các sản phẩm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cũng tăng theo bởi đây đều lànhững sản phẩm được sản xuất dựa vào các sản phẩm phụ của quá trình lọc dầuthô Không những tăng chi phí sản xuất mà cơ sốt giá lương thực do nạn đầu cơ, từtháng 4 đến tháng 6 năm 2008 Trong 3 tháng giá xuất khẩu gạo của Việt Nam lầnlượt tăng 23,6%; 40,4%; và 26,7% So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu của tháng 4 –

Trang 39

2008 đã tăng gấp hơn 2 lần Giá gạo xuất khẩu của tháng 6-2008 tăng cao nhất, cólúc đến 1.005 USD/tấn Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuấtkhẩu gạo chủ chốt trong đó có Việt Nam đã lực chọn giải pháp tạm ngừng xuấtkhẩu để quan sát Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực

để duy trì ổn định giá cả và bảo đảm an ninh lương thực Thực tế này đã dẫn đếnhai hiệu ứng đồng thời: một là giá lương thực tiếp tục bị đẩy lên cao và hành độngbơm thêm tiền để mua lương thực của các chính phủ đã khiến tính trạng lạm phát ởnhiều quốc gia thêm trầm trọng hơn

Bảng 1:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008 4

Điều này diễn ra không chỉ với nông nghiệp mà còn là với ngành chăn nuôi,giá phân bón và chăn nuôi tăng nhanh cũng gây khó khăn cho nông dân Ngược lại,giá cả của nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm giảm trong năm 2009 trong khichi phí sản xuất vẫn ở mức cao, điều này đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng giá trị giatăng của ngành công nghiệp nông – lâm – thủy sản Qua 9 tháng năm 2009, tốctăng giá trị gia tăng của ngành này chỉ là 1,6%, xuất khẩu gạo đạt 2,2 tỷ USD, giảm

4 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

5 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2009

https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2019/04/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-nam-2009/

Trang 40

Những tác động trên đã làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam.Quý IV/2008, tốc độ tăng trưởng GDP giảm mạnh nên tăng trưởng GDP của năm

2008 chỉ đạt 6,2%, thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân năm trong thời kỳ

bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu Đặc biệt, xu hướng tăng GDPđang được cải thiện rõ rệt kể từng sau quý I năm 2009

Về vấn đề việc làm và đời sống người lao động, theo J.M Keynes thì hàngtổng cầu của nền kinh tế sẽ bao gồm các yếu tố như: Tổng cầu của toàn bộ nềnkinh tế (Y); Tiêu dùng hộ gia đình (C); Đầu tư (I); Chi tiêu chính phủ (G); Xuấtkhẩu (EX); Nhập khẩu (IM) Trong đó J.M Keynes có chỉ ra ba yếu tố tác độngđến thu nhập và việc làm của người lao động với hàm tổng cầu là: Y = C + I + G +(EX-IM)

Thứ nhất về xuất khẩu: Việt Nam là quốc gia định hướng xuất khẩu vớinhững mặt hàng chủ lực là nguyên liệu thô và gia công hàng hóa phục vụ cho xuấtkhẩu Như đã nêu ở trên, tổng cầu thế giới giảm xuống đã khiến đến xuất khẩu củanước ta trong thời kỳ này bị suy giảm đáng kể Kinh tế thế giới suy thoái, giá giảm,lượng xuất khẩu có thể tăng nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm làm ảnh hưởng tiêucực đến cầu lao động

Thứ hai là về đầu tư: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu đầu tưvào những lĩnh vực có lợi thể về lao động giá rẻ, cũng bởi vì lý do là chỉ ICOR củaViệt Nam cạnh tranh nhất trong khu vực Vì thế nên các nhà đầu tư nước ngoài chỉđầu tư vào lĩnh vực gia công sản phẩm Vốn đầu tư trong nước thuộc về các doanhnghiệp tư nhân, làng nghề sản xuất, gia công hàng xuất khẩu cũng giảm theo do

6 Tốc độ tăng GDP bình quân năm trong cả thời kỳ 2000 – 2007 đạt 7,5%, 6 tháng đầu năm 2008 đạt 6,5%

7 Theo GSO, tốc độ tăng trưởng GDP quí I/2008 đạt 7.4%, 6 tháng đầu năm 2008 đạt 6.5%

Ngày đăng: 23/06/2022, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w