Kể từ khi Việtnam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới và chấp nhận những nguyên tắc củathương mại quốc tế, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đang phảiđối mặt với vô số những hàng rào
Trang 1PH ẦN GIỚI THIỆU
1 L Í DO CH ỌN Đ Ề T ÀI
Từ lâu, thủy sản là loại thực phẩm phổ biến
được ưa chuộng ở nhiều quốc gia, nhất là các
quốc gia có biển hoặc có các thủy vực nội địa
lớn Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng
dân cư, nhu cầu về thủy sản ngày càng lớn để
đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đa dạng từ cao cấp
đến bình dân Ngoài ra, mức độ an toàn vệ sinh
thực phẩm của thủy sản cao hơn các loại thực
phẩm khác, trong khi dịch bệnh ở gia súc, gia
cầm có chiều hướng gia tăng và càng làm cho nhu cầu tiêu thụ thủy sản trênthế giới tăng mạnh Tăng trưởng tiêu dùng thủy sản không những diễn ramạnh mẽ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển Cùngvới xu thế tiêu thụ này thì việc trao đổi xuất nhập khẩu thủy sản giữa cácquốc gia được đẩy mạnh Bên cạnh đó, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùngvới sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới Kể từ khi Việtnam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới và chấp nhận những nguyên tắc củathương mại quốc tế, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đang phảiđối mặt với vô số những hàng rào thương mại phi thuế quan ở các nướcnhập khẩu nhằm bảo hộ, hạn chế tự do thương mại dưới nhiều hình thứcnhư chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ… làm giảm đáng kể hiệu quảcủa những nỗ lực tìm kiếm, mở rộng, xúc tiến thị trường và nâng cao nănglực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua và khiến triểnvọng xuất khẩu trở nên bấp bênh,tiêu biểu đó là vấn đề xuất khẩu cá basa
2.M C TIÊU NGHIÊN C U ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ỨU
2.1/ M c tiêu chung: ục tiêu chung:
Khái quát được tình hình xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam trên thị trườngthế giới từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm góp phòng ngừa, hạn chếcác vụ kiện chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba sa
Trang 2của Việt Nam sang các nước Đ ồng thời mở rộng thị trưóng xuất khẩu cá
ba sa của Việt Nam
- Đưa ra giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba
sa, mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam
3 PH M VI NGHIÊN C U ẠM VI NGHIÊN CỨU ỨU
3.1 Phạm vi về thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ 26/04/2010 - 24 /05/2011
Số liệu sử dụng trong đề tài lấy từ năm 1999 đến 2010
3.2 Phạm vi về nội dung
Tìm hiểu về vấn đề xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam ở thị trường các nư ớc
4 PH ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NG PHÁP NGHIÊN C U ỨU
4.1 / Phương pháp thu thập số liệu
Tổng hợp các thông tin, số liệu thứ cấp trên các phương tiện thông tin đạichúng: Báo chí, thời báo kinh tế, các trang web có liên quan…
4.2/ Phương pháp phân tích
Trang 3- Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả tình hình xuất
khẩu cá ba sa của Việt Nam
- Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá về vấn đề
xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam
- Mục tiêu 3: Từ mô tả và phân tích trên để đưa ra giải pháp đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam
PHẦN NỘI DUNG
* CƠ SỞ LÍ LUẬN
I.KHÁI NIỆM
Cá ba sa phân bổ ở một số nước Ðông Nam Á như Campuchia, Thái Lan,Indonexia và Việt Nam, là loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao Cá basa đượcnuôi phổ biến hầu hết ở các nước Ðông Nam Á, là một trong các loài cánuôi quan trọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông MêKông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Thái Lan, Campuchia, Lào vàViệt Nam do có nguồn cá basa tự nhiên và phong phú
Cá ba sa là các loài cá đặc hữu của vùng châu thổ sông Mê Kông thuộc
giống Pangasius, họ Pangasidae, bộ Silurifornes - bộ cá gồm hơn 2.500
loài cá da trơn, phân bổ trên khắp thế giới Cụ thể là:
- Đối với cá ba sa - tên khoa học Pangasius bocourti, tên thương mại
Ba sa, Bocourti, Bocourti fish, Ba sa catfish, Bocourti catfish
Cá basa còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá da trơn có giá trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới
Theo hệ thống phân loại Tyson Roberts, cá basa thuộc họ Pangasiidae, giống pangasius (Hamilton)
Trang 42 ĐỐI VỚI THẾ GIỚI
Tháng 5/2008, Quốc hội Mỹ đã thảo luận để thông qua “Đạo luật Nông trại” (Farm Bill) Theo Farm bill 2008 thì cá ba sa Việt Nam có thể bị xếp vào trong nhóm catfish của Mỹ
3 KHÁI NIỆM XUẤT KHẨU
Xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất, nóphản ánh quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vikhu vực và thế giới Cùng với hình thức kinh doanh nhập khẩu, hìnhthức kinh doanh xuất khẩu là hoạt động kinh tế cơ bản của một quốc gia,
nó là “chiếc chìa khóa” mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế cho mộtquốc gia, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu của một nước khi thamgia vào hoạt động kinh tế quốc tế
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là một hoạt động kinh doanhquốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tụcngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh củamình
Kinh doanh xuất nhập khẩu thường diễn ra các hình thức sau: Xuất khẩuhàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình (dịch vụ); xuất khẩu trực tiếp dochính các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu đảm nhận;xuất khẩu gián tiếp (hay ủy thác) do các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, tổ chức kinh doanh trung gian đảm nhận Gắn liền với xuất khẩuhàng hóahữu hình, ngày nay xuất khẩu dịch vụ rất phát triển
4.YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
-Mặc dù diện tích nuôi được mở rộng, năng suất, sản lượng và kimngạch xuất khẩu luôn tăng qua từng năm song nghề nuôi cá basa tại khuvực Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn chưa thật ổn định và bền vững.Trong sản xuất vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về ô nhiễm môi trường, biến
Trang 5động về thị trường, giá cả Có thể dẫn chứng điều này qua sự kiện năm
2005, do EU tăng cường các biện pháp kiểm soát việc sử dụng khángsinh trong thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cộng tác động của vụ kiệnchống phá giá cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ khiến nguồn nguyênliệu bị “dội chợ” làm cho không ít người nuôi lâm vào cảnh phá sản
-Đặc biệt, trong những tháng đầu năm 2008, người nuôi cá tra và cá basa lạiđang đứng trước nguy cơ thua lỗ do chi phí sản xuất tăng ở mức 14.000-15.500 đ/kg (tương đương với giá bán ở thị trường) Điều đáng nói là trong chăn nuôi cá tra và cá basa, chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng rất lớn, nhất là trong giai đoạn trước khi thu hoạch Chính vì vậy, dù Nhà nước đã “bơm” 1.000 tỷ đồng hạn mức tín dụng cho các DN thu mua nguyên liệu để giải quyết đầu ra cho cá tra, cá basa nhưng khả năng thu mua hết sản lượng cá nuôi trong dân là rất khó do bởi theo tính toán, nếu tất các các cơ sở chế biến hoạt động hết công suất thì cũng chỉ tiêu thụ được khoảng 3.000 tấn/ngày Như vậy mỗi tháng cũng chỉ tiêu thụ được gần 100 ngàn tấn nguyên liệu
-Ngoài khó khăn do không dự báo được tình hình thị trường khiến hiện tượng ùn tắc nguyên liệu xảy ra trong những tháng gần đây, hoạt động sản xuất và tiêu thụ cá tra, cá basa vẫn còn những vấn đề cần sớm được giải quyết như: tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng còn thấp, chủ yếu mới chỉ xuất khẩu ở dạng fillet cấp đông đơn thuần nên giá xuất khẩu không cao (bình quân 3USD/kg); thiếu kho chứa hàng, thiếu các chợ đầu mối thủy sản tập trung để làm cầu nối ổn định giá cho cả người sản xuất và các nhà máy chế biến; hệ thống xử lý nước thải và các công trình bảo vệ môi trường tuy đã được đầu tư nhưng chưa thường xuyên được nâng cấp nên vẫn còn tình trạng nước thải từ nhà máy đổ trực tiếp ra sông mà chưa qua xử lý; chưa phổ biến rộng khắp quy trình sản xuất sạch theo tiêu chuẩn HACCP; vẫn còn việc mua bán và sử dụng hóa chất, kháng sinh
Trang 6Cá ba sa Việt Nam bị ''đòn hiểm'' của giới nuôi catfish Hoa Kỳ
Số phận cá da trơn của Việt Nam trên thị trường Mỹ lại bị đe doạ Mấy năm trước, loại cá này chỉ được vào Mỹ sau nhiều cửa ải, và với tên gọi "cá tra" hay "cá ba sa", chứ không được gọi là "catfish" vì
sợ lầm với cá nội địa của Mỹ Bây giờ, chính các hiệp hội nuôi cá catfish tại Mỹ lại nêu vấn đề về danh xưng và đòi cá Việt Nam cũng phải được gọi tên là "catfish" ! Vì sao lại có chuyện rắc rối ấy ?
Theo tiết lộ của hãng tin Mỹ AP vào cuối tháng 06/2009, bộ trưởng NôngNghiệp Mỹ ông Tom Vilsack sắp ban hành quyết định về việc quy định loại
cá nào bán trên thị trường Hoa Kỳ phải được gọi là ''catfish'' Nội dungquyết định này chưa rõ, nhưng một bản dự thảo mà hãng tin Mỹ đọc được
đã liệt loại cá ba sa pangasius của Việt Nam vào diện catfish
Một khi bị xếp loại là catfish, cá ba sa nhập khẩu từ Việt Nam sẽ phải tuânthủ một chế độ kiểm tra ngặt nghèo do bộ Nông Nghiệp Mỹ ấn định, chặtchẽ hơn rất nhiều so với chế độ thông thường của Cơ quan Thực phẩm vàDược Phẩm Mỹ FDA Theo hãng AP, điều này sẽ trở thành một rào cản cực
kỳ kiên cố, chặn đứng đường vào thị trường Hoa Kỳ của cá Việt Nam vì
lẽ phiá Việt Nam phải thiết lập một hệ thống kiểm tra việc nuôi và xử lý cácực kỳ phức tạp, và chứng minh được là hệ thống này tương đương vớinhững gì hiện hành tại Mỹ Để có được một hệ thống như vậy, theo AP,Việt Nam sẽ phải mất rất nhiều năm
Thế nhưng vì sao mà chính quyền Hoa Kỳ lại có thể có quyết định khắt kheđối với cá nhập khẩu từ Việt Nam như vậy, nhất là khi việc xếp cá basaViệt Nam vào diện ''catfish'' lại hoàn toàn trái ngược với quyết định vàonăm 2002, theo đó cá nhập từ Việt Nam không có quyền mang tên gọicatfish ?
Trang 8cá basa của Việt Nam còn có nhiều yếu kém, bất cập, phát triển tự phát và thiếu tính bền vững, cụ thể:
Thực trạng và nguyên nhân:
Công quản lý nhà nước trong sản xuất, tiêu thụ cá tra, basa hiện nay còn nhiều bất cập: thiếu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hệ thống thể chế pháp lý để quản lý, thúc đẩy phát triển bền vững và xây dựng cơ sở
hạ tầng Do vậy sản xuất, tiêu thụ cá tra hiện nay mang tính tự phát cao, khó quản lý, nhất là về diện tích, sản lượng, chất lượng, giá thức
ăn, con giống, thuốc thú ý, vệ sinh an toàn thực phẩm
Việc nuôi cá tra, basa gần đây phát triển với nhịp độ nhanh, diện tích tăng đột biến Năm 2006 diện tích nuôi cá tra toàn vùng chỉ vào khoảng 3.797 ha, đến năm 2007 đã tăng lên là 6.406 ha và năm 2008 là 6.160
ha Trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng diện tích thả nuôi cá tra của 10 tỉnh, thành vùng ĐBSCL khoảng 5.000 ha Do vậy quy hoạch chưa theokịp hoặc không còn phù hợp với tình hình mới Quy hoạch vùng nguyênliệu cho phù hợp với từng thị trường còn quá nhiều bất cập, các doanh nghiệp chế biến không có vùng nguyên liệu của mình, do đó việc thừa thiếu nguyên liệu thường xuyên diễn ra Doanh nghiệp thì không nắm được sản lượng, người nuôi thì không có thông tin về thị trường Hạ tầng cơ sở, các công trình thủy lợi phục vụ nuôi cá basa chưa bảo đảm
để phát triển ổn định, bền vững
Hệ thống tổ chức quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản còn tồn tạinhiều vướng mắc như trong vấn đề chậm trễ cập nhật các văn bản pháp quy để phù hợp với các thị trường xuất khẩu, hệ thống cán bộ phần lớn chưa được đào tạo chuyên sâu, quản lý hàng thủy sản chưa được thực hiện bài bản cũng tạo nhiều khó khăn, thách thức trong xuất khẩu
¬- Tất cả các khâu của quá trình sản xuất cá tra, basa như: giống, thức
ăn, giá, vốn, nuôi, chế biến, thị trường…đều đang có quá nhiều bất cập, hạn chế, phát triển không bền vững, cụ thể:
* Về giống:
Trong thời gian qua, để đáp ứng nhu cầu con giống theo đà tăng mạnh
về nhịp độ và diện tích nuôi, số lượng các cơ sở sản xuất giống cá basa cũng tăng lên nhanh chóng Đến nay, trong vùng đã có 217 cơ sở sản xuất cá giống với tổng sản lượng khoảng 1,8 tỉ con, thừa khả năng đáp ứng nhu cầu cá giống cho cả khu vực ĐBSCL Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi phong trào nuôi cá basa trầm lắng, nhiều hộ nuôi “treoao” thì giá cá giống liên tục giảm, hiện nay chỉ còn 330 đồng/con kích thước 1,7cm, 240 đồng/con kích thước 1,5cm, cá bột giá 0,5 đồng/con
Trang 9Do vậy, các cơ sở sản xuất giống đang phải bán tháo cá bố mẹ và cá giống vì làm ăn thua lỗ Điển hình tại làng sản xuất cá tra, basa giống Hồng Ngự/Đồng Tháp (nơi sản xuất giống lớn nhất ĐBSCL) trước đây
có hơn 70 cơ sở với đàn cá bố mẹ có tổng trọng lượng hơn 150 tấn (mỗi con nặng từ 10kg đến 15 kg), hàng năm cung ứng cho thị trường hơn năm tỉ con cá bột và trên một tỉ con cá giống thương phẩm Tuy nhiên hiện nay đã có 60 cơ sở sản xuất cá tra giống đã đóng cửa, kêu bán tháo
cá bố mẹ với giá: 13.000 đồng- 14.000 đồng/kg nhưng không có người mua
Đồng thời do không có chế tài nào nên nguồn cá bố mẹ chưa được quản
lý tốt vì vậy chất lượng con giống chưa đồng đều, một số cơ sở sản xuất giống chưa đảm bảo chất lượng con giống cho nuôi cá thương phẩm
* Về thức ăn:
Trong thời gian qua, giá thức ăn thủy sản liên tục tăng cao đã gây nhiều khó khăn cho nghề nuôi cá basa Năm 2008, giá thức ăn thủy sản tăng trung bình khoảng 30% so với năm 2007 và giữ ổn định ở mức 9.500- 10.500 đồng/kg Trong 6 tháng đầu năm 2009, giá thức ăn thủy sản có giảm lại, dao động 6.500- 9.700 đồng/kg Giá thức ăn tăng đã làm giá thành sản xuất cá tra, basa tăng Năm 2008, giá thành sản xuất trung bình 01kg cá nguyên liệu khoảng 15.000- 16.000 đồng (tăng 40% so vớinăm 2007), trong khi đó, giá bán cá tra, basa chỉ ở mức thấp, dao động 13.800- 15.500 đồng/kg dẫn đến người nuôi bị lỗ nặng Riêng trong 6 tháng đầu năm 2009, giá thành sản xuất đã hạ xuống khoảng 13.500- 14.500 đồng/kg, nhưng giá cá chỉ có 12.500- 13.800kg, nên người nuôi lại tiếp tục lỗ
Hiện nay, các nhà máy sản xuất thức ăn thuỷ sản đều “kêu” bị lỗ và phảităng giá Với những lý do như: giá nguyên liệu nhập khẩu tăng, nguyên liệu nhập về cảng bị ứ đọng, hàng giải phóng chậm, hàng để trong cảng
bị mất mát nhiều nên phải nâng mức bảo hiểm Tất cả các khoản “thiệt hại” trên họ đều tính hết vào giá thành sản xuất nên giá thức ăn thuỷ sảncao là không có gì lạ Tuy nhiên thực tế họ đều đua nhau tăng công suất
từ 15- 20% so với cùng kỳ năm ngoái, kể cả các cơ sở nhỏ cũng tăng từ 7- 10% Do vậy các nhà sản xuất thức ăn hiện nay chỉ biết quan tâm đếnquyền lợi của mình, cứ đua nhau tăng giá, bất chấp quyền lợi của người chăn nuôi, của cả chuổi sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá basa thì trước sau cũng sẽ gây ra khủng hoảng
Nhiều hộ nuôi cá basa ở ĐBSCL đã chủ động nuôi giảm mật độ tới 50%
so với năm 2008 và hầu hết họ không còn nợ ngân hàng mà nợ cơ sở
Trang 10bán thức ăn thủy sản với lãi suất cao.
Ngoài ra, có nhiều mẫu thức ăn không đạt hàm lượng đạm theo quy định
và nhiều cơ sở sản xuất giống kém chất lượng làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm cá tra, basa
* Về giá:
Trong 6 tháng đầu năm 2009, giá cá basa tiếp tục biến động Vào đầu tháng 3-2009 giá cá tăng lên 15.000-17.000 đồng/kg và người nuôi cá lời 1.000- 2.000 đồng/kg, nhưng từ đó đến tháng 6/2009 giá cá giảm mạnh chỉ còn từ 13.000- 14.000đ/kg Hiện tại giá giảm mạnh là rất bất hợp lý bởi lẽ thị trường cho cá basa đang mở rộng và hút hàng, trong khisản lượng cá nguyên liệu giảm tới 30% so với năm 2008 Theo quy luật cung cầu: khi nguyên liệu thiếu hụt, thị trường mở rộng thì giá phải tănglên Tuy nhiên giá thu mua cá nguyên liệu giảm mạnh và đang ở mức thấp, do:
+ Các doanh nghiệp chế biến đang giảm mạnh nhu cầu mua vào vì lượng cá tồn kho tương đối lớn Họ đang đứng trước áp lực về vốn, lãi suất, chi phí lưu kho nên phải đẩy hàng ra bằng mọi giá Họ bán xong hàng tồn kho rồi mới tiến hành thu mua cá mới
+ Một số doanh nghiệp còn chào hàng ra thị trường nước ngoài với giá thấp nên phải mua cá của người nuôi với giá thấp Giá xuất khẩu vào
EU là trên 3USD/kg, nhưng họ giảm chỉ còn 2,47USD/kg Do đó doanh nghiệp phải giảm giá thu mua cá loại 1 còn 14.000đ/kg
+ Nhiều doanh nghiệp chế biến đã chủ động nguồn nguyên liệu, họ tự nuôi cá trên diện tích lớn, nên nhu cầu mua cá trong dân đang bị thu hẹplại Theo thống kê của VASEP, hiện nay nguồn cá nguyên liệu từ các hộnuôi nhỏ lẻ chỉ còn chiếm khoảng 20%, 80% còn lại do các doanh nghiệp tự cung cấp hoặc từ các trang trại lớn theo quy mô công nghiệp
* Về vốn:
Thực tế ở ĐBSCL hiện nay, người nuôi cá không thể tồn tại nổi với mức giá cá quá thấp, trong khi giá thức ăn tăng liên tục, ngân hàng không cho vay vốn Cá không thể bán nhưng càng nuôi, cá ăn càng nhiều, càng lớn, càng khó bán và người nuôi càng lâm nợ Do vậy có gần 50% ao đã bán cá đều không thả lại
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội nghề nuôi và chế biến thủy sản An Giang (AFA), ở thời điểm này có tới 25- 30% số hộ nuôi cá tra, basa bị phá sản, 40- 50% số hộ nuôi bị mất vốn, 70- 80% số hộ nuôi đang lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, 90% hộ nuôi cá đang nợ ngân hàng
Trang 11 Đồng thời, người nuôi hiện nay rất khó tiếp cận vốn vay kích cầu của Chính phủ so với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, vì những quy định của ngân hàng Muốn được vay, người nuôi phải có xác nhận nuôi trong vùng quy hoạch, có hợp đồng bao tiêu sản phẩm, có tài sản thế chấp, phải trả dứt nợ cũ, nợ quá hạn… Trong khi đó, tài sản của người nuôi chỉ có nhà ở và ao nuôi cá, trong đó có tới 90% người nuôi đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất cho ngân hàng để vay vốn sản xuất.
Ngoài ra, nhiều người nuôi cá tra, basa tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ đang bị các doanh nghiệp thu mua cá chiếm dụng vốn dưới nhiều hình thức, trong đó chủ yếu là kéo dài thời gian thanh toán tiền mua cá theo hợp đồng từ 15- 30 ngày Mỗi người nuôi, khi bán cá trị giá vài tỉ đồng, doanh nghiệp chỉ trả ban đầu khoảng 30% tiền mặt, số còn lại là
nợ hoặc trả dần Do vậy, người nuôi rất khó thanh toán cho các chủ nợ
và đầu tư tái sản xuất
* Về diện tích, sản lượng cá nuôi:
Hiện nay, diện tích thả nuôi cá tra, basa tại ĐBSCL thấp hơn cùng kỳ năm 2008 đến 30% diện tích Riêng tỉnh An Giang, có hơn 1.400ha ao, hầm nuôi cá tra, basa, nhưng diện tích ao, hầm không nuôi đã lên đến hơn 400ha, hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng 1.000ha nuôi cá Diện tích giảm, khiến sản lượng cá nguyên liệu cũng giảm Trong 06 tháng đầu năm 2009, thu hoạch cá tra, ba sa chỉ có 141.221 tấn, giảm 39.000 tấn (tương đương 21,5%)
Theo Bộ NN- PTNT, nhiều hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL đã chủ động nuôi giảm mật độ tới 50% so với năm 2008, nên sản lượng có thể sẽ sụt giảmkhoảng 200.000 tấn so với kế hoạch
Tuy vậy, hiện ĐBSCL còn khoảng 120.000 tấn cá nguyên liệu tới kỳ thuhoạch, trong đó cá phải thu hoạch gấp khoảng hơn 100.000 tấn, nhưng các doanh nghiệp lại không thu mua và đang “làm giá” với người nuôi Trong thời gian tới người nuôi khó khôi phục lại diện tích và mật độ thả nuôi vì họ đang nợ ngân hàng và khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ Vì vậy chuyện thiếu nguyên liệu trong dịp cuối năm và người nuôi lại “làm giá” với doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.Đồng thời, việc các doanh nghiệp đang tạm ngưng thu mua cá nguyên liệu để “bán tháo” cá tồn kho đã làm cho hàng chục nghìn công nhân mất việc Hiện ở ĐBSCL có trên 100 nhà máy chế biến thuỷ sản với công suất thiết kế 2,5 triệu tấn cá nguyên liệu/năm, nhưng với sản lượngthu hoạch như hiện nay, các nhà máy chỉ hoạt động chưa được 50%
Trang 12công suất
Vấn đề thừa, thiếu cá tra, basa nguyên liệu tại ĐBSCL trong thời gian qua giống đã đem lại nhiều hậu quả khó lường Khi thừa nguyên liệu doanh nghiệp ép giá người nuôi và ngược lại, cả người nuôi và doanh nghiệp đều có lúc làm ăn thua lỗ, phá sản Nguyên nhân chính dẫn đến thừa, thiếu nguyên liệu là doanh nghiệp phát triển mà không gắn với việc tạo nguồn nguyên liệu ổn định, còn người nuôi thì không nắm đượcthông tin thị trường Vì vậy, nghề sản xuất cá tra, basa không thể phát triển bền vững nếu tình trạng thừa, thiếu nguyên liệu, người nuôi và doanh nghiệp cứ “ép giá” tiếp tục tái diễn
* Về thị trường: mất cân đối giữa cung và cầu.
Hiện nay, chế biến xuất khẩu cá basa cũng đang gặp một số khó khăn docác nước có xu hướng dựng lên rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế nhập khẩu để bảo hộ nền sản xuất thủy sản trong nước
Thông tin thị trường thiếu và nắm không chắc, do vậy việc thừa, thiếu
cá nguyên liệu thường xuyên diễn ra Vào thời điểm cuối năm 2008, hầuhết các thị trường đều đóng cửa, trong đó có thị trường lớn nhất là Nga, nhưng trước đó người nuôi lại ồ ạt tăng diện tích và sản lượng nên cho đến nay chuyện thừa nguyên liệu, dẫn đến giá giảm, người nuôi lỗ nặng
là điều tất nhiên Từ nay đến cuối năm thị trường mở rộng nhưng người nuôi đã giảm diện tích và mật độ nuôi, do đó vào thời điểm giữa cuối năm 2009 chắc chắn lại xảy ra tình trạng thiếu nguyên liệu
Ngoài ra, việc nuôi, chế biến, xuất khẩu cá basa chưa đáp ứng theo nhu cầu thị trường, đến nay nghề sản xuất cá tra, basa vẫn trong tình trạng làm ra cái có thể làm chứ chưa làm ra cái mà thị trường cần Do vậy việc tồn hàng và thừa nguyên liệu là tất yếu Chẳng hạn, thị trường Châu Âu, Mỹ… tiêu thụ các loại cá chất lượng tốt, thịt trắng và chiếm thị phần không cao, nhưng người nuôi và doanh nghiệp luôn hướng tới thị trường thị này Trong khi các thị trường Nga, Đông Âu, Trung Đông,Mexico lại chuộng loại cá thịt đỏ, chất lượng thấp hơn và đây là thị trường chiếm thị phần lớn thì hầu như người nuôi và doanh nghiệp chưathật sự quan tâm Năm 2006, diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL chỉ 3.797
ha, năm 2008 đã tăng lên đến 5.700 ha Diện tích đã thu hoạch đến ngày19/6/2009 là 1.133 ha, với sản lượng 312.337 tấn, năng suất bình quân
240 tấn/ha Không tính lượng cá tồn đọng gần 7.000 tấn, sản lượng đến
kỳ thu hoạch tính đến nay đã gần 120.000 tấn Hiện tại đang khủng hoảng thừa, nhưng đến cuối năm lại khủng hoảng thiếu Tình trạng này
Trang 13chủ yếu là do không nắm chắc thông tin thị trường, sản xuất tự phát, không theo quy luật cung cầu.
- Mối liên kết 4 nhà chưa chặt chẽ, gồm: nhà sản xuất giống, nhà sản xuất thức ăn và thuốc thủy sản, người nuôi, thương lái và nhà chế biến vẫn chưa có sự liên kết chặt chẽ mang tính bắt buộc, họ vẫn thường cạnh tranh không lành mạnh, ép giá lẫn nhau vì lợi ích riêng của mình
mà không biết chia sẻ lợi ích để cùng tồn tại, phát triển Trong đó chủ yếu chưa có sự gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp, giữa các doanhnghiệp với doanh nghiệp và giữa nông dân với nhau
Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trong nước cạnh tranh không lành mạnh, mạnh ai nấy làm, chưa thống nhất với nhau về giá nên ai cũng hạ giá bán nhằm tranh giành khách hàng Sự cạnh tranh không lành mạnh
đã đây các doanh nghiệp quay lại ép giá người nuôi và gian lận thương mại, buông lỏng yếu tố chất lượng và gây hưởng đến uy tín sản phẩm cátra, basa Việt Nam
Với kiểu làm ăn cá thể nhỏ lẻ, thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh, người nuôi không chỉ mất tiếng nói chung, sức mạnh chung mà còn tự làm suy yếu nhau Khi bị thương lái hoặc các công ty chế biến xuất khẩu ép giá, họ không có công cụ và giải pháp nào để khắc phục nếu không có sự tư vấn, can thiệp của các cơ quan chức năng và các tổ chức phi chính phủ Đồng thời tổ chức VASEP là tổ chức của các công
ty chế biến xuất khẩu thuỷ sản, chỉ bảo vệ quyền lợi của các thành viên của họ, chứ không phải tổ chức nhằm liên kết và bảo vệ quyền lợi của người nuôi Quyền lợi của các thành viên VASEP nhiều khi xung đột với quyền lợi người nuôi cá Do vậy dẫn đến tình trạng bất ổn, không bền vững trong nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra, basa hiện nay
- Môi trường nuôi xuống cấp do ô nhiễm, do đó chất lượng nguyên liệu không đồng nhất, còn phát sinh nhiều dịch bệnh, chưa truy xuất được nguồn gốc thủy sản trước chế biến
- Chi phí sản xuất và rủi ro trong sản xuất cá tra,basa ngày càng tăng, người nuôi và doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư, trong khi tín dụng bị siết chặt, lãi suất ngân hàng cao
Công nghiệp hoá ngành nuôi, chế biến cá tra, basa chưa được quan tâm đúng mức, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ cao trong nuôi
Trang 14và chế biến, xuất khẩu còn nhiều hạn chế Thực trạng là vẫn còn sản xuất tự phát, thủ công, lấy công làm lời…
GIẢI Pháp cho thực trạng cá basa khi
xuất khẩu tại Việt Nam và trên toàn thế giới
Tăng cường công tác quản lý con giống, thức ăn và các chất xử lý cải tạo môi trường nuôi; nâng cao vai trò của hiệp hội để gắn kết các doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ cá basa, thông tin dự báo kịp thời về giá cả trong, ngoài nước, xúc tiến mở rộng thị trường thế giới, xây dựng hệ thống kho chứa đông, điều hành sản xuất chế biến và xuất khẩu theo hướng bảo đảm kinh doanh uy tín sản phẩm quốc gia, đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nuôi trồng tập trung đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Dành một khoản thích đáng trong gói kích cầu của Chính phủ cho các doanh nghiệp chế biến vay
để mua thức ăn cung ứng theo tiến độ cho nông dân nuôi cá basa.v.v
Sản phẩm cá basa là sản phẩm đặc thù, là thế mạnh, lợi thế của ĐBSCL, nhất là các tỉnh ven bờ sông Tiền, sông Hậu
Tuy nhiên,Quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này chưa đáp ứng được yêu cầu; thể chế, cơ chế chưa tương xứng với sự phát triển nhanh, mạnh của sản xuất, tiêu thụ cá basa Thiếu sự hợp tác, gắn kết thành hệ thống trong sản xuất, chế biến đến tiêu thụ cá basa
Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan xây dựng đề án đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ cá basa Trong đó, cần phát huy tối đa lợi thế của việc nuôi cá basa, theo hướng sản xuất lớn, quy mô công nghiệp, quản lý tiên tiến, đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, là ngành hàng xuất khẩu chủ
Trang 15lực của đất nước, đem lại thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân Sau đó, cần xây dựng một loạt cơ chế chính sách, để quản lý, hợp tác tốt hơn, phát triển hiệu quả, bền vững hơn, “Phải xây dựng thương hiệu cá basa Việt Nam”,Hội nghề cá, lãnh đạo các tỉnh có qui hoạch nuôi cá tra, basa, do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Trưởng Ban Ban cần thường xuyên họp, chỉ đạo kịp thời thông suốt từ sản xuất đến tiêu thụ cá tra, basa Thành lập hiệp hội các nhà sản xuất, tiêu thụ cá tra, basa.Cần thí điểm và
mở rộng quản lý xuất khẩu cá tra, basa theo cơ chế thị trường tập trung
Với thế mạnh và hiệu quả của nghề nuôi cá basa 10 năm qua, từ một loài cábản địa, cá basa đã trở thành sản phẩm chiến lược quốc gia, sản lượng nuôi tăng gấp 65 lần, đóng góp khoảng 2% GDP của cả nước; chiếm hơn 1/2 tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu cả nước Thị trường tiêu thụ cá tra đã được mở rộng và có uy tín ở 130 nước và vùng lãnh thổ Một số nước, khu vực nhập khẩu lớn là Ucraina, Nga, EU, Bắc Phi, Trung Đông, Mỹ Nhóm sản phẩm cá basa càng quan trọng, bởi chỉ sử dụng một diện tích rất nhỏ bé
để nuôi (khoảng 6.000 ha mặt nước, bằng 1% diện tích nuôi tôm), có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tạo việc làm cho hàng chục vạn công nhân, nông ngư dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là ở vùng nông thôn ĐBSCL
Theo những chủ hộ nuôi cá tra ở các tỉnh miền Tây Nam bộ như: TiềnGiang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp… mới đây nhiều doanh nghiệpchế biến thủy sản xuất khẩu đã tăng giá thu mua cá tra thêm 200đồng/kg, đạt mức 16.000 đồng/kg cá loại 1, tuy nhiên người nuôi cá vẫn
lỗ vốn
Hiện nay, giá thành sản xuất của cá tra thấp nhất là 16.500 đồng/kg.Không chỉ người nuôi cá tra thương phẩm bị ảnh hưởng mà nhữngngười ương giống cá tra cũng mất gần 50% doanh thu Trước đây, giá
cá tra giống loại 70 con/kg là 30.000 đồng/kg thì nay chỉ còn 17.000 đến18.000 đồng/kg
Theo thống kê của Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thủy Sản ViệtNam, 3 tháng đầu năm 2010, tổng lượng cá tra xuất khẩu xấp xỉ 150ngàn tấn thành phẩm, với giá trị khoảng 310 triệu đô la xuất khẩu