Thật vậy, khi một nền kinh tế có lạm phát thì điều đó đồng nghĩa vớiviệc một đơn vị tiền tệ sẽ ngày càng mua được ít hàng hóa hơn so với trước.Hay các chủ thể trong nền kinh tế sẽ phải c
Trang 1Biểu đồ 1: Biểu đồ CPI qua 12 tháng năm 2008
Biểu đồ 2: Diễn biến CPI năm 2009(%)
Biểu đồ 3: Diễn biến CPI năm 2010-2011(%)
Biểu đồ4: Diễn biến giá cả hàng hóa thế giới, giá lương thực và giá dầu thô giai đoạn 2006-2011
Biểu đồ 5: Vay nợ chính phủ ròng, giá trị nợ ròng và tổng nợ từ 2002-2010Bảng 1: Dự báo CPI thế giới, ASEAN & Việt Nam 2021-2022f(%, yog)Bảng 2: Dự báo giá hàng hóa thế giới giai đoạn 2022-2025
2 Danh mục từ viết tắt
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng ( Consumer Price Index)
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội ( Gross Domestic Product)
PPI: Chỉ số giá bán của người sản xuất ( Producers Price Index)
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài( Foreign Direct Investment)
ICOR: Hệ số sử dụng vốn đầu tư( Incremental Capital - Output Ratio)
IPO: Chứng khoán phát hành công khai lần đầu (Initial Public Offering)WTO: Tổ chức thương mại thế giới ( World Trade Organization)
WB: Ngân hàng thế giới ( World Bank)
OPEC: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of the Petroleum Exporting Countries)
NHTW: Ngân hàng Trung ương
NHTM: Ngân hàng thương mại
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 2Ở nước ta, từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 Lạm phát diễn ra nghiêmtrọng và kéo dài Phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất
cả các mối quan hệ trong nền kinh tế - xã hội mà nguồn gốc của nó là do hậuquả nặng nề của chiến tranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài
Nắm bắt được tầm quan trọng đặc biệt này, đề tài “Nguyên nhân và giải pháp chống lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2012 Đánh giá về triển vọng lạm phát năm 2022 ở Việt Nam” giải quyết hai mục tiêu chính: Tìm
hiểu và phân tích những nguyên nhân của lạm phát tại Việt Nam trong giaiđoạn 2007-2012 Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện vấn đề lạm phát.Đồng thời đánh giá về triển vọng lạm phát năm 2022 ở Việt Nam
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
Trang 31 Các khái niệm về lạm phát
Trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics), lạm phát được hiểu là sự tănglên trong mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do
đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo cách hiểu thứ nhất thì lạm phát chỉ
có tác động trong lãnh thổ một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì lạm phát được hiểu là có tác động tới những quốc gia sử dụng loại tiền tệ đó Cho tới hiệntại, phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô
Tuy nhiên các nhà kinh tế thích đo lường bằng những chỉ số cụ thể hơn, đó
là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh thu nhập quốc dân
CPI thể hiện sự thay đổi tính theo phần trăm của bình quân giá hàng tiêu dùng qua một giai đoạn nhất định Do không thể tính giá của tất cả hàng hóa trên thị trường, CPI được tính trên cơ sở bình quân gia trọng của tập hợp một sốhàng hóa đại diện Ví dụ, CPI ở Việt Nam được tính dựa vào 130 nhóm hàng tiêu biểu Trong tập hợp tính CPI, lương thực chiếm trọng số rất cao ở các nước nghèo nhưng lại thấp ở các nước giàu
Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.405) cho rằng “hiện nay, lạmphát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục của mức giá chung hoặc là quá trìnhđồng tiền liên tục giảm giá” Tuy nhiên, lạm phát không đồng nghĩa với việc giá
cả của tất cả mọi hàng hóa trong nền kinh tế buộc phải tăng lên, mà chỉ cần mứcgiá trung bình của các hàng hóa đó tăng lên mà thôi Thậm chí, ngay cả khi giácủa một số hàng hóa giảm đi thì lạm phát vẫn có thể xuất hiện khi giá hàng hóa
và dịch vụ khác tăng đủ mạnh để lấn át hiệu ứng giảm đi của các hàng hóa đó Ngoài ra, lạm phát cũng có thể được phát biểu là sự suy giảm sức mua củađồng tiền Thật vậy, khi một nền kinh tế có lạm phát thì điều đó đồng nghĩa vớiviệc một đơn vị tiền tệ sẽ ngày càng mua được ít hàng hóa hơn so với trước.Hay các chủ thể trong nền kinh tế sẽ phải chấp nhận bỏ ra một số tiền lớn hơn
để mua được một số lượng hàng hóa như trước đây khi mà lạm phát xảy ra
Về khía cạnh thu nhập, nếu như tốc độ trượt giá tăng nhanh hơn so vớithu nhập bằng tiền của người lao động thì thu nhập thực tế mà họ nhận được sẽ
Trang 4giảm Bởi vậy, thu nhập thực tế của họ tăng lên hay giảm xuống trong thời kìlạm phát là do yếu tố thu nhập bằng tiền quyết định Nếu như thu nhập bằng tiềncủa họ tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá thì các cá nhân hoàn toàn vẫn có thể trởnên khá giả hơn ngay cả khi lạm phát hiện hữu.
Vũ Kim Dũng và Nguyễn Văn Công (2018, tr.325) nhấn mạnh: “Một điềuquan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự giatăng của mức giá chung mà đó phải là sự gia tăng liên tục của mức giá chung.Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá chung, thì dường nhưmức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó.Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát Tuy nhiên,trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do
đó có thể gây ra lạm phát.”
2 Đo lường lạm phát
Việc tính toán được lạm phát của nền kinh tế trong từng giai đoạn nhấtđịnh (thường là 1 năm) là rất quan trọng với mỗi quốc gia để đưa ra các chínhsách kinh tế vĩ mô phù hợp Để phục vụ cho việc đó, các nhà kinh tế sử dụngchỉ tiêu tỉ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi trong mức giá chung.Hiện nay tồn tại 3 chỉ tiêu để biểu thị chỉ số giá, bao gồm:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu phản ánh mức chi phí nói chung màmột người tiêu dùng điển hình bỏ ra để mua hàng hóa và dịch vụ Đây cũngđược xem là chỉ tiêu phổ biến nhất, được hầu hết các quốc gia sử dụng để tính tỉ
lệ lạm phát vì nó gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân
Chỉ số giá sản xuất hay chỉ số giá bán buôn (PPI) thường được các doanhnghiệp hay các hãng kinh doanh quan tâm Chỉ tiêu này cho biết chi phí màdoanh nghiệp phải bỏ ra để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ Cao Thị Ý Nhi vàĐặng Anh Tuấn (2018, tr 408) nêu rõ “Chỉ số này phản ánh biến động giá của
ba nhóm hàng hóa: (1) lương thực thực phẩm, (2) các sản phẩm hàng hóa thuộcngành chế tạo và (3) sản phẩm của ngành khai khoáng.”
Chỉ số giảm phát hay chỉ số điều chỉnh GDP (D) thường được dùng để điềuchỉnh GDP danh nghĩa về GDP thực tế và chỉ số này cũng giúp các quốc gia cóthể đánh giá khái quát được tình trạng giá cả của nước mình Chỉ số này tínhtheo giá thị trường hay giá hiện hành được sử dụng trong tính GDP nhằm phản
Trang 5ánh những biến động trong giá cả của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ tồn tạitrong nền kinh tế quốc gia.
Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.408) cho rằng tỷ lệ lạm phát làmột chỉ tiêu cho biết sự biến động trong chỉ số giá chung giữa 2 thời kì:
gp= (IP1IP0-1)*100%=(CPI1CPI0-1)*100%
Trong đó:
- gp: tốc độ tăng trưởng của mức giá chung
- IP1: chỉ số giá cả chung của kì này
- IP0: chỉ số giá cả chung của kì trước
3 Phân loại lạm phát
3.1 Căn cứ vào mặt định lượng
- Dựa theo mức độ nghiêm trọng của tỷ lệ lạm phát tính theo từng năm, các nhàkinh tế học chia lạm phát thành 3 loại, bao gồm: Lạm phát vừa phải, lạm phátphi mã và siêu lạm phát
+Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm và nhìn chung là cóthể dự báo trước được vì tỷ lệ lạm phát qua từng năm tương đối ổn định, khoảngdưới 10%/năm Đây là mức lạm phát khá lý tưởng đối với nền kinh tế bởi nhữngtác động tiêu cực của lạm phát là không đáng kể mà thậm chí nó còn có thể giúpnền kinh tế có động lực để phát triển Khi nền kinh tế trải qua lạm phát vừaphải, dân chúng và các doanh nghiệp vẫn sẵn sàng nắm giữ tiền mặt để phục vụmục đích giao dịch và kí kết các hợp đồng kinh tế có thời hạn dài vì mọi người
dự đoán rằng đồng tiền sẽ không bị mất giá quá nhiều trong tương lai
+Lạm phát phi mã là lạm phát ở mức hai hoặc ba con số trong một năm, từ
10 đến dưới 100%/năm Đối với một số nền kinh tế phát triển, lạm phát phi mã
ở mức thấp vẫn có thể được chấp nhận Tuy nhiên, nếu tỷ lệ lạm phát này đượcduy trì trong một thời gian dài sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với nền
Trang 6kinh tế Đồng tiền quốc gia sẽ bị mất giá nhanh chóng khiến cho người dân mấtniềm tin vào tiền tệ nước mình và sẽ có xu hướng tích trữ vàng, ngoại tệ mạnhhay đầu tư vào bất động sản.
+Siêu lạm phát là tỷ lệ lạm phát đặc biệt rất cao, mức lạm phát hàng tháng từ50% trở lên Như vậy, tỷ lệ lạm phát một năm có thể lên tới hơn 13.000% Nhìnchung, các cuộc siêu lạm phát đã từng xảy ra đều bắt nguồn từ việc cung tiềntăng lên quá mức và điều này thường xuất phát từ việc phải bù đắp thâm hụtngân sách kéo dài của Chính phủ các quốc gia Tuy nhiên, một khi lạm phátxuất hiên, tình trạng ngân sách nhà nước bị thâm hụt sẽ càng trở nên trầm trọng:
tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế cao sẽ dẫn tới hậu quả là nguồn thu từ thuế sẽtheo đó mà giảm sút mạnh, điều đó lại càng làm tăng thêm mức độ thâm hụt củangân sách nhà nước và Chính phủ sẽ phải tiếp tục dựa nhiều hơn vào công cụphát hành tiền, mà điều này đến lượt nó sẽ đẩy tỷ lệ lạm phát lên cao mất kiểmsoát Một ví dụ điển hình đó là siêu lạm phát ở Đức giai đoạn 1921-1923 do nhucầu bồi thường cho chiến tranh và tái thiết nền kinh tế sau Chiến tranh thế giớithứ nhất Do vậy mà chi tiêu của Chính phủ Đức đã tăng mạnh và cung tiềntrong nền kinh tế cũng theo đó mà tăng cao đột biến, kết quả là Đức đã phải trảiqua mức lạm phát hơn 1 triệu phần trăm vào năm 1923 Cuộc siêu lạm phát ởĐức đã gây ra những tác động vô cùng khủng khiếp đối với nền kinh tế củaquốc gia này Thậm chí, nhiều ý kiến còn cho rằng chính cuộc siêu lạm phát này
là nguyên nhân làm nảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và cuộc Chiến tranh thếgiới thứ hai Hiện tượng siêu lạm phát ở Đức là một minh chứng làm rõ thêmphát biểu của Friedman “Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiềntệ.”
Việt Nam của chúng ta cũng đã từng trải qua thời kì siêu lạm phát vào năm1986- 1988 khi Nhà nước vừa thực hiện công cuộc đổi mới đất nước với mứctăng giá phổ biến hàng tháng rất cao từ 15-20% Cao Thị Ý Nhi và Đặng AnhTuấn (2018, tr.415) đã chỉ ra rằng “Lạm phát trong giai đoạn này có 6 đặc trưng
cơ bản: lạm phát 3 con số kéo dài 3 năm liên tục, được mở đầu bằng cuộc cảicách lớn về giá và lương cùng việc đổi tiền Thời kì này ảnh hưởng giá cả trongquan hệ xuất nhập khẩu tuy có nhẹ hơn thời kì 1981-1985 song vẫn bất lợi chocán cân thanh toán của Việt Nam Chu kì lạm phát cao đến mức siêu lạm phátdiễn ra sau 5 năm đã có những cải cách khá quan trọng, đạt tăng trưởng kinh tếcao Tính chất công khai của lạm phát được bộc lộ rõ rệt hơn bất cứ giai đoạnnào trước đó Hệ quả siêu lạm phát nghiêm trọng trong 3 năm là rất nặng nề
Trang 7Những hệ quả đó là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạngnền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội trong nhiều năm.”
3.2 Căn cứ vào mặt định tính
a Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
+Lạm phát cân bằng được hiểu là tỷ lệ lạm phát tăng lên tương ứng vớimức tăng lên của thu nhập Bởi vậy, lạm phát dù có xảy ra cũng không có ảnhhưởng quá lớn tới đời sống của người lao động
+Lạm phát không cân bằng được hiểu là tỷ lệ lạm phát tăng lên nhưngkhông tương ứng với mức tăng lên của thu nhập Điều đó sẽ khiến cho thu nhậpthực tế của người lao động bị giảm sút; hay nói cách khác, sức mua của thunhập bằng tiền sẽ giảm và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của ngườilao động Thông thường, loại lạm phát này thực tế sẽ xảy ra thường xuyên hơn
so với lạm phát cân bằng
b Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường
+Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra trong một khoảng thờigian tương đối dài, có xu hướng ổn định và đều đặn qua các năm Vì vậy, tỷ lệlạm phát có thể được tính toán trước một cách khá chính xác cho năm tiếp theo.Với loại lạm phát này, người dân có thể dễ dàng thích nghi và chấp nhận nó như
là một thực tế của cuộc sống nên các tác động tiêu cực của lạm phát đối với nềnkinh tế là không quá đáng kể
+Lạm phát bất thường là loại lạm phát xảy ra mang tính chất đột biến màchưa từng có tiền lệ trước đó Chính bởi tính bất thường này mà các chủ thểtrong nền kinh tế chưa thể thích nghi hay thay đổi thói quen sẵn có của mình khilạm phát xảy ra quá đột ngột; và điều đó sẽ khiến đời sống của họ bị thay đổi,tiền lương cũng chưa thể điều chỉnh ngay lập tức để phù hợp với tỷ lệ lạm phátmới Do đó, người dân có xu hướng mất niềm tin vào các chính sách nhằm ổnđịnh lạm phát của Chính phủ và điều đó đến lượt nó sẽ gây ra những tác độngtiêu cực đối với nền kinh tế của quốc gia
c Lạm phát thông thường và lạm phát lõi
Trang 8+Lạm phát thông thường là lạm phát không loại bỏ đi các biến động mangtính tạm thời hay các cú sốc giá Chính vì vậy, lạm phát thông thường có thểkhông cho thấy được chính xác tình trạng sức khỏe của nền kinh tế quốc gia.Tuy vậy, nó lại có ý nghĩa đối với người dân bởi nó phản ánh những biến độngtrong giá cả sinh hoạt thực tế mà họ phải chi trả hàng ngày trong cuộc sống củamình.
+Lạm phát lõi hay còn gọi là lạm phát cơ bản là lạm phát đã loại bỏ đinhững biến động mang tính chất tạm thời trong chỉ số giá tiêu dùng CPI Haynói cách khác, lạm phát lõi phản ánh những tác động mang tính dài hạn và ổnđịnh của cầu tới sự biến động trong mức giá cả Lạm phát lõi loại bỏ những biếnđộng hay cú sốc về giá tạm thời của một số mặt hàng trong nền kinh tế như giáthực phẩm hoặc giá năng lượng Bởi nếu chỉ có một cú sốc diễn ra thì mức giáchỉ có thể đột ngột tăng lên trong một thời gian ngắn rồi sẽ lại trở về như cũ, màđiều đó thì không dẫn tới hiện tượng lạm phát Lạm phát lõi được xem là chỉtiêu quan trọng được NHTW các nước xem xét khi đề ra các chính sách tiền tệcho quốc gia mình Hiện nay, loại lạm phát này đang được nhiều quốc gia trênthế giới sử dụng như Mỹ, Canada, Nhật Bản…
3.3 Căn cứ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát
- Lạm phát thấp là mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3% đếndưới 10%/năm
- Lạm phát cao là mức lạm phát tương ứng với mức độ tăng giá từ hai tới ba chữ
số một năm và loại lạm phát này còn có thể được gọi là lạm phát phi mã, nhưngvẫn thấp hơn siêu lạm phát Thực tế, Việt Nam và đa số các nước thực hiện đổimới cơ chế quản lý, từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh
tế thị trường đều đã từng phải trải qua thời kì lạm phát phi mã trong những nămđầu thực thi công cuộc cải cách
4 Nguyên nhân gây ra lạm phát
4.1 Lạm phát do lượng tiền cung ứng
Lý thuyết tiền tệ từ trước đến nay vẫn được xem là cách giải thích có tínhthuyết phục nhất về nguồn gốc gây ra hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế Tưtưởng cơ bản mà các nhà kinh tế học đưa ra đó là lạm phát là một hiện tượng
Trang 9tiền tệ Tiêu biểu cho quan điểm này là Friedman khi ông nhấn mạnh rằng:
“Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ …và nó chỉ có thểxuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng.”
Vũ Kim Dũng và Nguyễn Văn Công (2018) cho rằng kết luận trên thựcchất là dựa trên hai khía cạnh Thứ nhất, các nhà tiền tệ nhấn mạnh rằng sự dưthừa tổng cầu so với tổng cung gây ra hiện tượng lạm phát, và nguyên nhân của
sự dư cầu này là bắt nguồn từ việc dư thừa tiền trong lưu thông, vượt quá nhucầu cần thiết của các chủ thể trong nền kinh tế Nếu cách giải thích này đúng vềmặt lịch sử thì nó đã chứng minh được rằng lạm phát không phải xuất pháy từphía cung mà là do sức ép đến từ phía cầu Thứ hai, các nhà kinh tế học đưa ragiả thiết rằng mối quan hệ nhân quả bắt nguồn từ cung ứng tiền đến mức giá,chứ không phải ngược lại là do giá cả tăng lên dẫn tới lượng tiền cung ứng tăngtheo Bằng việc tìm hiểu cơ chế lan truyền, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về mốiquan hệ đó Với giả thiết thị trường cân bằng, và xuất phát từ điểm cân bằngtrên thị trường tiền tệ, khi đó nếu có một sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽdẫn tới hệ quả là thị trường tiền tệ mất cân bằng Để có thể thiết lập lại trạngthái cân bằng trước đó, một phần của số tiền đang dư thừa sẽ phải được sử dụng
để mua hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, do số lượng hàng hóa và dịch vụ trongnền kinh tế được định đoạt bởi các nguồn cung ứng về các nguồn lực và trình độcông nghệ hiện có, do vậy đã xuất hiện hiện tượng dư cầu trên thị trường hànghóa Điều này đến lượt nó gây sức ép khiến cho giá cả trong nền kinh tế buộcphải tăng lên để thiết lập trạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hóa.Trong mô hình tổng cung - tổng cầu, sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽ dẫntới việc đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải và làm mức giá gia tăng dođưởng tổng cung được giả thiết là thẳng đứng trong dài hạn
Lý thuyết số lượng tiền tệ cho rằng các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữtiền mặt chủ yếu để phục vụ cho mục đích giao dịch, mua sắm hàng hóa và dịch
vụ Giả sử Y là tổng mức sản lượng mà nền kinh tế sản xuất ra trong khoảngthời gian một năm và P là mức giá của một đơn vị sản lượng điển hình Nhưvậy, P*Y có thể được xem là thu nhập quốc dân danh nghĩa (GDP) Vì tiền sẽđược trao tay qua lại khi người dân thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa
và dịch vụ, chúng ta có thể ước tính được số lần mà một tờ giấy bạc điển hìnhđược trao tay trong khoảng thời gian một năm Nếu kí hiệu V là tốc độ lưuchuyển tiền tệ hay vòng quay tiền, tức số lần bình quân trong 1 năm mà 1 đơn vịtiền tệ được sử dụng để thanh toán; và M là cung tiền của nền kinh tế Vòng
Trang 10quay tiền (V) được tính bằng cách chia thu nhập quốc nội danh nghĩa cho lượngtiền cung ứng:
V=P x Y/MNhân cả hai vế của phương trình với M, ta thu được một đồng nhất thức:
M x V=P x YPhương trình trên được gọi là phương trình trao đổi, nó cho thấy rằnglượng tiền cung ứng nhân với số nhân tiền phải bằng thu nhập danh nghĩa Dovậy, khi lượng tiền cung ứng tăng lên gấp đôi thì thu nhập danh nghĩa cũng sẽtheo đó tăng lên gấp đôi
Phương trình hệ quả của phương trình trao đổi là:
%∆M + %∆V=%∆P + %∆Y
Phương trình này nói lên rằng tỷ lệ phần trăm thay đổi trong lượng tiềncung ứng cộng với tỷ lệ phần trăm thay đổi trong tốc độ lưu chuyển tiền tệ sẽđúng bằng với tổng của tỷ lệ phần trăm thay đổi trong giá cả và tỷ lệ phần trămcủa sản lượng
Phương trình số lượng chỉ ra rằng sự gia tăng khối lượng tiền trong nềnkinh tế phải được thể hiện thông qua một trong 3 nhân tố khác: mức giá phảităng, sản lượng phải tăng hoặc tốc độ lưu thông tiền tệ phải giảm Chính vì vậy,khi cung ứng tiền tệ tăng lên một cách đột ngột và nhanh chóng sẽ kéo theo đó
là tỷ lệ lạm phát cũng sẽ tăng lên mất kiểm soát Như vậy, tiền tệ chính lànguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng lạm phát, chỉ có tăng tiền mới có thểtăng giá
Nhìn chung, tốc độ chu chuyển tiền tệ (V) là tương đối ổn định theo thờigian Như vậy, lạm phát (P tăng) chỉ có thể xuất hiện nếu như lượng tiền cungứng (M) tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản lượng (Y), tức tốc độ tăng cungứng tiền càng nhanh thì tỷ lệ lạm phát theo đó cũng sẽ càng cao (với điều kiệncác nhân tố khác không đổi) Do vậy, theo quan điểm này, biện pháp chính để có
Trang 11thể kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ Quốc gia có thể áp dụng chính sáchtiền tệ thắt chặt để nhằm làm giảm cung ứng tiền tệ, qua đó giúp kiềm chế đượclạm phát gia tăng.
Hình 1: Lạm phát do lượng tiền cung ứng tăng liên tục và kéo dài
Theo Frederic S.Mishkin (1992) phân tích; ban đầu, nền kinh tế đạt cânbằng tại điểm 1 với sản phẩm ở mức sản lượng tự nhiên Yn với tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên và mức giá cả tại (điểm giao nhau của đường tổng cầu P1 AD1 vàđường tổng cung AS1) Nếu cung tiền tệ tăng lên đều đặn trong suốt cả năm thìđường tổng cầu sẽ di chuyển sang phải đến AD2 Trước tiên, trong một thời gianngắn, nền kinh tế có thể di chuyển tới điểm 1’ và sản lượng có thể tăng lên trênmức sản lượng tự nhiên đến Y’ (Y’>Yn) Điều đó đã làm tỷ lệ thất nghiệp thực tếtrong nền kinh tế giảm xuống thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, làm cho tiềnlương tăng lên và đường tổng cung sẽ dịch trái cho đến khi đạt đến AS2 Tại đây,nền kinh tế quay trở lại mức sản lượng tự nhiên ban đầu là Yn nhưng mức giá đãtăng lên từ đến và cân bằng tại điểm 2.P1 P2
Nếu như năm sau đó, cung tiền tệ lại tiếp tục tăng lên, khiến cho đườngtổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD3 và đường tổng cung sẽ di chuyển sangtrái từ AS2 đến AS3; nền kinh tế đạt tới mức cân bằng mới tại điểm 3 Tại đây,
Trang 12mức giá cả đã tăng lên đến Nếu như cung tiền vẫn tiếp tục tăng thì đườngP3tổng cầu và đường tổng cung sẽ tiếp tục di chuyển như minh họa trên Hình 1.1.
Cứ như vậy, nền kinh tế sẽ đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn và tỷ lệ lạmphát cũng theo đó mà leo thang
Những phân tích theo trường phái Keynes về tác động của việc tăng chitiêu Chính phủ hoặc cắt giảm thuế (hay chính sách tài khóa mở rộng) cũng sẽkhiến cho tổng cầu tăng và khiến đường tổng cầu dịch phải, do đó mức giá trongnền kinh tế bị đẩy lên cao Tuy nhiên, những công cụ của chính sách tài khóavẫn có những giới hạn nhất định, vì vậy việc tăng lên trong tỷ lệ lạm phát ởtrường hợp này chỉ mang tính chất ngắn hạn Một phân tích khác của pháiKeynes về tác động của những cú sốc tiêu cực lên tổng cung (ví dụ việc cấmvận dầu mỏ khiến cho giá dầu tăng đột ngột) cũng sẽ khiến cho giá cả trong nềnkinh tế tăng lên do chi phí nguyên vật liệu đầu vào gia tăng Ban đầu, đườngtổng cung sẽ vẫn dịch chuyển sang trái tới một điểm cân bằng mới; tại đó, sảnlượng sẽ giảm xuống dưới mức tự nhiên và mức giá cả là cao hơn trước Tuynhiên, nếu như cung tiền không thay đổi, đường tổng cung sẽ quay trở lại vị tríban đầu, do thất nghiệp là trên tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, và nền kinh tế sẽ lạiquay trở về điểm cân bằng như trước Như vậy, kết quả ròng của một cú sốccung là nền kinh tế trở lại tình trạng công ăn việc làm đầy đủ tại mức giá cả banđầu và hiện tượng lạm phát không hề xảy ra
Tóm lại, qua việc phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra kết luận rằngquan điểm của trường phải Keynes và trường phái tiền tệ là không quá khácbiệt Cả hai đều cho rằng tỷ lệ lạm phát cao chỉ có thể xuất hiện khi tỷ lệ tăngtrưởng trong cung tiền cao
4.2 Lạm phát do theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm (giảm tỷ lệ thất nghiệp)
Mục tiêu đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ cho người dân, góp phần thúcđẩy nền kinh tế phát triển có lẽ được xem là một trong những mục tiêu quantrọng nhất mà đa số Chính phủ các quốc gia đều theo đuổi
Những người năng động cho rằng nếu chỉ dựa vào cơ chế tự điều chỉnh củanền kinh tế thì lương và giá sẽ thay đổi rất chậm và vì vậy Chính phủ cần phải
sử dụng các chính sách của mình để làm giảm tỷ lệ thất nghiệp bất kì khi nào nó
bị tăng cao Mặt khác, những người không năng động thì lại có quan điểm khác,
họ tin rằng những sự can thiệp của Chính phủ sẽ không thể tốt bằng việc để nền
Trang 13kinh tế tự thân điều chỉnh Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr 425) chorằng “Có hai loại lạm phát và kết quả của chính sách ổn định năng động nhằmthúc đẩy một mức công ăn việc làm cao, đó là lạm phát do cầu kéo và lạm phát
do chi phí đẩy.”
a Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu AD tăng khiến cho đường AD dịchphải, đặc biệt là khi sản lượng Y trong nền kinh tế đã đạt hoặc vượt quá mức sảnlượng tự nhiên Thực chất đây cũng có thể được xem là một cách định nghĩa vềlạm phát dựa vào nguyên nhân: lạm phát xảy ra do sự xuất hiện của một mứccầu quá cao Theo lý thuyết này, nguyên nhân dẫn tới tình trạng dư cầu được lýgiải là do nền kinh tế đã chi tiêu vượt quá năng lực sản xuất vốn có Tuy nhiên
để cho định nghĩa này có đủ sức thuyết phục thì cần phải giải thích tại sao chitiêu lại có thể liên tục vượt quá năng lực sản xuất Chúng ta sẽ lần lượt xem xétcác yếu tố cấu thành nên tổng cầu
Vũ Kim Dũng và Nguyễn Văn Công (2018) cho rằng lạm phát có thể hìnhthành khi cầu tiêu dùng và cầu đầu tư có sự gia tăng đột biến Ví dụ khi có mộtlàn sóng mua sắm mới làm nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, điều đó sẽ làm giá cảcủa những mặt hàng này tăng, lạm phát sẽ theo đó tăng cao và ngược lại Tương
tự, lạm phát cũng chịu ảnh hưởng từ cầu đầu tư: nếu các doanh nghiệp lạc quan
về triển vọng mở rộng thị trường trong thời gian tới, họ sẽ mạnh dạn đầu tưnhiều hơn và do đó đẩy mức giá trên thị trường tăng lên
Bên cạnh đó, lạm phát cũng thường bắt nguồn từ sự gia tăng trong chi tiêuChính phủ Nếu Chính phủ quyết định tăng đầu tư hay chi tiêu vào cơ sở hạ tầng
để phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội thì mức giá trong nền kinh tếcũng sẽ bị đẩy lên Ngược lại, khi Chính phủ đề ra các chính sách cắt giảm bớtchi tiêu công hoặc các công trình đầu tư công, thực hiện chính sách “thắt lưngbuôc bụng” thì mức giá lại giảm xuống
Ngoài ra, lạm phát còn có thể xuất phát từ cầu về hàng xuất khẩu Tuynhiên, hàng xuất khẩu lại ảnh hưởng tới lạm phát của quốc gia theo một cáchkhác: khi người nước ngoài tăng nhu cầu về hàng trong nước sẽ khiến cho nhucầu về hàng xuất khẩu tăng; nghĩa là lượng hàng hóa còn lại để phục vụ cho thịtrường nội địa sẽ giảm đi và điều đó sẽ làm mức giá trong nước tăng lên Ngoài
ra, cầu xuất khẩu và luồng vốn ngoại chảy vào trong nước cũng có thể khiến
Trang 14lạm phát bùng nổ Đặc biệt đối với quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá cố định, khidòng vốn ngoại chảy vào trong nước sẽ làm cho đồng nội tệ bị lên giá Để giữcho tỉ giá cố định, NHTW buộc phải làm tăng cung ứng tiền để ngăn việc nội tệlên giá Việc tăng cung tiền sẽ khiến lạm phát cũng sẽ gia tăng Trường hợpngược lại sẽ xảy ra khi cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm
do nền kinh tế thế giới hay khu vực đang lâm vào suy thoái
Dựa vào đồ thị tổng cung - tổng cầu, lạm phát do cầu kéo sẽ xảy ra khiđường tổng cầu AD dịch phải Do đường tổng cung AS dốc lên trong ngắn hạn,nền kinh tế sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn và tỉ lệ thất nghiệpcũng sẽ giảm đi, nhưng đồng thời nền kinh tế lại phải chịu áp lực của lạm phát.Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng lạm phát do cầu kéo trong nhiều trường hợp
sẽ không phải là vấn đề nghiêm trọng mà thâm chí còn là cần thiết và có lợi chonền kinh tế khi còn dư thừa nguồn lực chưa được tận dụng, lạm phát dù cónhưng sẽ ở mức thấp mà nền kinh tế có thể chịu đựng được Ngược lại, lạm phát
do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề nếu như nền kinh tế đang cân bằng tại mức toàndụng nhân công, sự gia tăng trong tổng cầu sẽ khiến lạm phát tăng lên mất kiểmsoát trong khi sản lượng và việc làm gia tăng không đáng kể
Hình 2: Lạm phát do cầu kéo
Theo phân tích của Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018); giả sử banđầu nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng tại điểm 1, tại mức sản lượng tiềm
Trang 15năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Nếu các nhà hoạch định chính sách theo đuổimột tỷ lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, họ sẽ phải đưa ra các chính sách nhằm điềuchỉnh để đạt được mức sản lượng Y’ lớn hơn mức sản lượng tiềm năng Yn Cácbiện pháp họ đưa ra sẽ có ảnh hưởng lên tổng cầu và sẽ làm đường AD dịchphải Do vậy, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển từ AD1 sang AD2 và nền kinh tế sẽchuyển đến điểm 1’ (giao điểm của đường tổng cung ban đầu AS1 và đườngtổng cầu mới AD2) Sản lượng bây giờ đã đạt được tới mức Y’ lớn hơn sảnlượng tiềm năng và mục tiêu tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
đã đạt được
Tại điểm cân bằng mới, tỷ lệ thất nghiệp thực tế trong nền kinh tế là thấphơn so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên tiền lương tăng lên khiến chi phí đầuvào của doanh nghiệp gia tăng, làm đường tổng cung AS dịch trái đến AS2 Nềnkinh tế di chuyển từ điểm 1’ tới điểm 2’ và quay trở về mức sản lượng tiềm năng
và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng mức giá đã bị đẩy lên cao hơn tới P2Tại đây, tỷ lệ thất nghiệp lại gia tăng quá mức mà các nhà hoạch định mong muốn
Chính bởi vậy, họ lại tiếp tục thực hiện các chính sách nhằm đẩy tổng cầu ADsang phải Quá trình này cứ liên tục tiếp diễn và điều đó làm giá cả trong nềnkinh tế càng ngày càng tăng cao hơn
b Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cũng có thể xuất hiện khi nền kinh tế phát sinh các cú sốc cungtiêu cực hoặc do hệ quả từ những cuộc đấu tranh đòi tăng lương của công nhângây ra Xem xét đồ thị tổng cung - tổng cầu, chúng ta thấy rằng khi có một cúsốc cung như vậy, đường AS sẽ dịch chuyển sang trái Điều đó sẽ làm cho sảnlượng trong nền kinh tế giảm, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát cũng sẽ biến độngtăng Chính vì mọi yếu tố đều trở nên xấu đi nên loại lạm phát này còn đượcđịnh nghĩa là lạm phát đi kèm suy thoái
Theo Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018), nhìn chung, có ba loại chiphí thường dẫn tới hậu quả lạm phát, bao gồm: tiền lương, thuế gián thu và giánguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn đàm phán với doanh nghiệp để tănglương cho công nhân thành công, các doanh nghiệp sẽ bù đắp tổn thất bằng cách
Trang 16tăng giá các mặt hàng của mình và kết quả là lạm phát sẽ xuất hiện Vòng xoáy
đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên trầm trọng hơn nếu chínhlựa phủ chọn biện pháp mở rộng cung ứng tiền tệ để nhằm tránh một cuộc suythoái có thể diễn ra
Việc Chính phủ đưa ra chính sách nhằm gia tăng các loại thuế có ảnhhưởng đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng sẽ tồn tại nguy cơ xảy ra lạmphát Ở đây, thuế gián thu (bao gồm cả thuế nhập khẩu và các loại lệ phí bắtbuộc) đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi chúng có tác động trực tiếp tới giá cảhàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Có thể thấy rằng thuế gián thu chiếm tỉtrọng lớn trong tổng nguồn thu từ thuế của Nhà nước là đặc trưng ở các nướcđang phát triển, cũng chính vì vậy mà thuế gián thu ở các nước này có tác độngrất lớn tới chỉ tiêu lạm phát của quốc gia
Ngoài ra, đối với các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các nguồn nguyênvật liệu đầu vào nhập khẩu do năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trongnước chưa thể đáp ứng được nhu cầu nội địa, thì sự biến động trong giá của cácnguyên vật liệu này cũng sẽ có ảnh hưởng lớn tới mặt bằng giá cả của các hànghóa trong nước và có thể dẫn tới tình trạng lạm phát Nếu giá cả của những mặthàng này tăng cao trên thị trường thế giới hay đồng bản tệ bị giảm giá mạnh trênthị trường tài chính quốc tế, điều đó sẽ khiến cho chi phí sản xuất của các doanhnghiệp nội địa tăng và lạm phát sẽ bùng nổ
Trang 17Hình 3: Lạm phát do chi phí đẩy
Theo Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018) phân tích; giả sử ban đầunền kinh tế đang đạt cân bằng tại điểm 1 với mức sản lượng tiềm năng và tỷ lệthất nghiệp tự nhiên Nếu những người công nhân mong muốn cải thiện cuộcsống của mình hoặc họ cho rằng tỷ lệ lạm phát dự tính của nền kinh tế trongthời gian tới sẽ tăng cao, họ sẽ đấu tranh đòi tăng tiền lương Vì tỷ lệ thất nghiệpđang ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên những yêu cầu đòi tăng lương củacông nhân sẽ dễ được đáp ứng Ảnh hưởng của việc tăng lương (tương tự ảnhhưởng của các cú sốc cung tiêu cực) sẽ làm cho đường tổng cung AS1 dịch sangtrái đến AS2 Nền kinh tế do đó cũng sẽ dịch chuyển từ điểm 1 đến điểm 1’ (giaođiểm của đường tổng cung mới AS2 và đường tổng cầu ban đầu AD1) Tại đây,sản lượng giảm xuống dưới mức sản lượng tự nhiên Y’ (Y’<Yn) và tỷ lệ thấtnghiệp thì tăng cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, mức giá cả cũng gia tăng lênđến P1' Vì mục tiêu duy trì một mức công ăn việc làm cao hơn hiện tại, Chínhphủ sẽ thực thi các chính sách điều chỉnh năng động để tác động làm tổng cầudịch phải từ AD1 sang AD2, khiến cho nền kinh tế quay trở về mức sản lượngtiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tại điểm cân bằng mới (điểm 2) và mứcgiá cả trong nền kinh tế tăng lên đến P2
Các công nhân đã được chấp nhận yêu cầu tăng lương trước đó vẫn có thểtiếp tục đòi tăng lên cao hơn nữa Đồng thời, những sự nhượng bộ đó đã tạo ra
sự chênh lệch về mức lương trong tầng lớp công nhân khiến cho tình trạng tănglương cứ thế tiếp diễn liên tục, kết quả là đường tổng cung lại tiếp tục dịch trái
Trang 18sang AS3, tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Do đó,Chính phủ lại phải tiếp tục thực hiện các chính sách can thiệp để đẩy đườngtổng cầu sang phải đến AD3 nhằm đưa nền kinh tế trở lại mức sản lượng tiềmnăng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, nhưng điều đó lại khiến mức giá cả tăng lênđến P3 Nếu quá trình này cứ lặp lại liên tục thì sẽ dẫn tới kết quả là mức giá cảliên tục tăng lên và tình trạng lạm phát do chi phí đẩy sẽ xuất hiện.
Theo những phân tích của trường phái Keynes, những chính sách tài khóa
mà Chính phủ áp dụng để can thiệp lên nền kinh tế luôn có những giới hạn nhấtđịnh, nên mặc dù các chính sách này có thể làm dịch chuyển đường tổng cầu
AD sang phải nhưng đó chỉ là tăng từng đợt một và không thể liên tiếp sử dụngtrong dài hạn Do đó, các biện pháp này không thể liên tục đẩy đường tổng cầusang phải mà điều này chỉ có thể xảy ra trong trường hợp NHTW liên tục tácđộng làm tăng cung ứng tiền tệ Như vậy, ta có thể nói rằng lạm phát chi phí đẩyhay lạm phát do cầu kéo cũng đều là một hiện tượng tiền tệ
4.3 Lạm phát do thâm hụt ngân sách Chính phủ kéo dài
Tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài được Chính phủ tài trợbằng việc phát hành tiền cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây ratình trạng lạm phát
Chính phủ có thể đối phó với tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước bằngnhiều biện pháp khác nhau Đầu tiên, nếu Chính phủ chọn cách phát hành tráiphiếu để vay vốn từ dân chúng trong nước thì điều này sẽ không gây ra lạm phát
do cung ứng tiền và cơ sở tiền trong nền kinh tế là không thay đổi, tiền chỉ dichuyển từ tay người dân sang tay Chính phủ mà thôi Tuy nhiên, nếu Chính phủchọn cách phát hành thêm tiền vào lưu thông thì kết quả sẽ khác Biện pháp nàyngay lập tức sẽ làm cho cơ sở tiền và cung ứng tiền trong nền kinh tế tăng lên,tác động làm cho tổng cầu cũng tăng cao và dẫn tới hệ quả là lạm phát bùng nổ.Tuy vậy, biện pháp phát hành trái phiếu Chính phủ để bù đắp thâm hụt lại khákhó có thể đạt được thành công tại các nước đang phát triển do thị trường vốntại các quốc gia này chưa thể đáp ứng đủ các yêu cầu cần thiết Đối với họ, biênpháp đơn giản và dễ thực hiện nhất chỉ có thể là bơm thêm tiền vào lưu thông
Vì thế, khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt trầm trọng và kéo dài sẽ dẫn tới hậuquả là cung ứng tiền tệ tăng lên cùng với đó là tỷ lệ lạm phát cũng sẽ gia tăng Ởcác quốc gia phát triển, do thị trường vốn của họ đã hoàn thiện nên một khốilượng lớn trái phiếu Chính phủ sẽ được hấp thụ bởi thị trường và Chính phủ sẽ
Trang 19có thể sử dụng số vốn vay từ dân để bù đắp thâm hụt Tuy nhiên, nếu Chính phủ
cứ liên tục phát hành trái phiếu mới ra thị trường sẽ khiến cầu vốn vay tăng vàđẩy lãi suất trong nền kinh tế tăng Để thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định lãisuất trên thị trường, NHTW buộc phải mua vào các trái phiếu đó và kết quả làlại làm cho cung tiền tệ tăng lên
Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.429) kết luận “Trong mọitrường hợp, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước cao, kéo dài sẽ là nguồngốc tăng cung ứng tiền và gây ra lạm phát”
4.4 Lạm phát do biến động của tỷ giá hối đoái
Theo Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.441) định nghĩa: “Tỷ giáhối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ một nước được tính theo tiền tệ của nướckhác.”
Khi tỷ giá tăng hay đồng nội tệ mất giá sẽ có tác động trực tiếp tới tâm lýcủa các doanh nghiệp sản xuất nội địa, họ sẽ mong muốn nâng giá các hàng hóacủa mình lên để bù đắp sự tăng lên trong tỷ giá hối đoái Không những thế, tỷgiá tăng cũng khiến cho giá hàng hóa và nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩucũng sẽ tăng, đẩy chi phí sản xuất của doanh nghiệp lên, dẫn tới hiện tượng lạmphát chi phí đẩy
5 Tác động của lạm phát
Lạm phát không phải luôn luôn đem lại những tác động tiêu cực, nếu nóđược duy trì ở mức ổn định khoảng 2-5%/năm, điều đó sẽ có ảnh hưởng tíchcực tới nền kinh tế quốc gia Khi đó, lạm phát sẽ như một chất xúc tác giúp chonăng lực sản xuất tăng cao, khả năng sinh lợi tài chính cũng tăng… Tuy nhiên,những tác động tích cực ấy chỉ có thể xuất hiện nếu tỷ lệ lạm phát là thấp, tươngđối ổn định và có thể kiểm soát được, trong khi lạm phát xảy ra chủ yếu sẽ gây
ra những ảnh hưởng không tốt tới mọi khía cạnh của đời sống kinh tế, xã hội,chính trị của một quốc gia
5.1 Lạm phát và lãi suất
Đây có thể được xem là tác động đầu tiên khi có lạm phát xảy ra Ta có công thức lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa- tỉ lệ lạm phát Do các quốc gia luôn mong muốn duy trì mức lãi suất ổn định nên khi nền kinh tế xuất hiện lạm
Trang 20phát, hệ thống ngân hàng sẽ phải điều chỉnh lãi suất danh nghĩa tăng để lãi suất thực được giữ ổn định Việc lãi suất danh nghĩa tăng có thể sẽ khiến nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp theo đó cũng sẽ gia tăng.
5.2 Tác động đối với sản lượng
- Nếu lạm phát do cầu kéo thì sản lượng có thể tăng và mức độ tăng nhiềuhay ít tùythuộc vào độ dốc của đường tổng cung
- Nếu lạm phát do xuất phát từ phía cung sẽ khiến cho sản lượng giảm vàmức giảmtùy thuộc vào độ dốc của đường tổng cầu
- Nếu do cả hai yếu tố cung và cầu gây nên thì sản lượng có thể tăng, giảmhoặcthậm chí không đổi tùy thuộc vào độ dốc của hai cả hai đường
5.3 Tác động đối với phân phối lại của cải và thu nhập
Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.431) cho rằng lạm phát tácđộng đến việc phân phối lại của cải và thu nhập ở mức độ nhiều hay ít còn phảiphụ thuộc vào nhiều yếu tố và các tác nhân kinh tế khác Tác động chính vềphân phối lại khi lạm phát xảy ra được biểu hiện thông qua ảnh hưởng của nóđối với giá trị thực tế trên của cải mà các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ.Nhìn chung, lạm phát không dự kiến trước được thường gây ra những tác độngtiên cực, chuyển của cải từ tay chủ nợ sang tay con nợ; giúp đỡ người đi vay vàlàm thiệt cho người cho vay… Trong trường hợp lạm phát giảm xuống khônglường trước sẽ gây ra những tác động ngược lại
5.4 Tác động đến cơ cấu kinh tế
Tuy rằng lạm phát xảy ra khiến cho mức giá chung trong nền kinh tế tănglên nhưng trong đó, có những hàng hóa tăng nhiều và có những hàng hóa tăng
ít, hay thậm chí có mặt hàng vẫn bị giảm giá ngay cả trong thời kì lạm phát.Chính bởi vì lý do này, những ngành nào có giá tăng nhanh sẽ có thể nâng tỷtrọng ngành đó lên trong tổng sản lượng
Như vậy, sẽ có ngành phát triển ngày càng tốt hơn nhưng cũng có những ngànhkhông thể tồn tại được nữa, họ sẽ phải chuyển sang ngành nghề khác để tiếp tụckinh doanh, dẫn đến kết quả là cơ cấu kinh tế sẽ bị thay đổi
Trang 215.5 Tác động đến nợ quốc gia
Cao Thị Ý Nhi và Đặng Anh Tuấn (2018, tr.434) có viết “Lạm phát caolàm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân, nhưng nhữngkhoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn Chính phủ được lợi trong nướcnhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giá tăng cao
và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoàitính trên các khoản nợ.”
Hơn nữa, tác động tích cực ban đầu của lạm phát chỉ có thể đem lại nguồnthu cho ngân sách nhà nước trong ngắn hạn thông qua cơ chế phân phối lại củacải và thu nhập quốc dân Tuy nhiên, sau đó ảnh hưởng trầm trọng mà lạm phátgây ra khiến cho những nguồn thu cho ngân sách ngày càng suy giảm do cácdoanh nghiệp trong nước lâm vào tình trạng sản xuất sa sút, yếu kém; trật tự antoàn xã hội theo đó cũng bị phá hủy
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG – NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2012
1 Thực trạng lạm phát ở việt nam giai đoạn 2007
ở mức dưới 8%, với niềm tin là chỉ số giá tiêu dùng của các tháng còn lại giữ ở mức tăng khoảng 0,4%/tháng Nhưng rồi, ngay trong tháng 8 giá đã tăng thêm 0,55% (cao hơn dự đoán), tháng 9 vẫn tiếp tục tăng 0,51%, tháng 10 tăng 0,74%, tháng 11 tăng 1,23% và tháng 12 tăng kỷ lục: 2,91% (cao nhất so với các tháng trong năm, kể cả tháng 2/2007 là tháng có Tết Nguyên Đán; và cũng cao nhất so với các tháng 12 của 11 năm trước đó) Kết thúc năm 2007, tốc độ tăng giá tiêu dùng chung đã lên đến 12,63% so với năm trước, gần gấp rưỡi tốc
độ tăng trưởng kinh tế (8,44%) Điều đó đã khiến cho nhiều người phải lo lắng, nhất là những người nghèo Họ lo lắng không phải vì mức lạm phát cao (bởi nềnkinh tế Việt Nam cũng đã từng đối mặt với lạm phát cao trong nhiều năm, như 1990: 67,4%; 1991:67,6%; 1992: 17,6%; 1994: 14,4%; và 1995: 12,7%, thậm chí còn rất cao, như các năm trước 1990), mà lo vì tốc độ tăng giá diễn ra quá nhanh, trong khi các nhà hoạch định chính sách lại lúng túng trong cách xử
Với mức 12,63%, chỉ số lạm phát năm 2007 cao hơn nhiều so với lãi suất huyđộng tiết kiệm (lãi suất của các ngân hàng thương mại nhà nước khoảng trên8%, và của các ngân hàng thương mại cổ phần khoảng 9,5%) Điều đó đã khiếncho người có tiền gửi tiết kiệm bị thiệt thòi lớn do lãi suất thực âm, và kết quả
là dòng tiền ồ ạt được rút khỏi ngân hàng để đầu tư vào “kênh” khác có hiệuquả hơn (người giàu thì mua nhà ở và bất động sản, đầu tư chứng khoán; cònngười nghèo thì có được đồng nào đều đổi hết thành vàng) Kết quả là lượngtiền trong lưu thông càng lớn thêm, làm cho giá cả càng tăng cao hơn, đồng thờilại tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng
Trang 23Lạm phát cao trên thực tế đã làm cho đồng tiền Việt Nam có xu hướng tăng giá
so với đồng đô la Mỹ, dù cho trên danh nghĩa đồng Việt Nam vẫn mất giátương đối so với đô la Mỹ một cách đều đều qua các năm (tỷ giá giữaUSD/VND năm 2001 là 14.725 VND; năm 2002: 15.280 VND; năm 2003:15.510 VND; năm 2004: 15.740 VND; năm 2005: 15.859 VND; năm 2006:15.994 VND; và năm 2007: 16.241 VND) Nhưng do giá cả tại Việt Nam tăngcao hơn giá cả tại Mỹ (12,63% so với 4,1% năm 2007), nên dù tỷ giá danhnghĩa có phần hạ thấp giá trị đồng Việt Nam thì trên thực tế đồng đô la vẫnđang bị hạ thấp giá trị so với VND (USD đã bị mất giá 8,1% so với năm 2006,
do lạm phát 4,1%, tại Mỹ 1 đô la năm 2007 có sức mua tương đương với 0,959
đô la năm 2006, và bằng 16.241 đồng Việt Nam năm 2007 Cũng do lạm phát12,63%, tại Việt Nam 16.241 đồng năm 2007 chỉ có sức mua tương đương với14.189 đồng của năm 2006; còn 1 đô la tại Việt Nam năm 2006 chỉ còn bằng14.795 đồng vào tháng 12/2007 Như vậy, nếu so với sức mua là 15.994 đồngcủa năm 2006, thì đồng đô la tại Việt Nam vào cuối năm 2007 đã bị mất 8,1%giá trị Điều đó vô hình chung đã góp phần hạn chế xuất khẩu và khuyến khíchnhập khẩu Thực tế là năm 2007 Việt Nam nhập siêu kỷ lục, với 12,45 tỷ USD,bằng 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Có thể thấy, sự biến động của các chỉ sốgiá tiêu dùng, giá vàng, và giá đô la là rất khác nhau qua các tháng Nhữngtháng đầu và cuối năm, nhất là cuối năm chỉ số giá biến động mạnh hơn
Dù so sánh theo cách nào, thì sự biến động của giá cả cũng vẫn thể hiệnmột xu hướng chung là chỉ số giá tiêu dùng và giá vàng tăng cao, đặc biệt là giávàng tăng rất cao và liên tục không chỉ trong năm 2007, mà cả trong suốt 7 năm(năm 2001 tăng 5%, năm 2002 tăng 19,4%, năm 2003 tăng 26,6%, năm 2004tăng 11,7%, năm 2005 tăng 11,3%, năm 2006 tăng 27,2%, năm 2007 tăng27,35%) Còn giá đô la tăng chậm, thậm chí trong vài năm gần đây có xuhướng giảm nhẹ Nếu so với tháng 12/2000, giá vàng năm 2007 đã tăng gấp 2,2lần, còn giá tiêu dùng tăng hơn 1,5 lần, và giá USD tăng 1,1 lần
* Năm 2008:
Nếu như năm 2007, lạm phát tăng đến 2 con số đã gây nên hoang mang chongười dân và cả các nhà lãnh đạo đất nước, thì đến năm 2008, lạm phát thực sựbùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô Chỉ số giá khởi đầu năm 2008với mức tăng cao 2,38%, đã báo hiệu một năm đầy khó khăn và nỗi lo lạm phátthực sự đã xuất hiện vào ngày 21/2 khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2008 đạtmức tăng 3,56% so với tháng trước, tháng Ba tăng 2,99%; tháng Tư là 2,2%,tháng Năm đạt đỉnh tăng của năm 2008 là 3,91%, tháng Sáu tăng 2,14%, tính
Trang 24trung bình 6 tháng đầu năm 2008 lạm phát lên tới 2,86% cho mỗi tháng Lạmphát đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2008 khi lên tới trên 30% Qua đến tháng 9năm 2008, lạm phát đã giảm mạnh so với những tháng trước đó và liên tiếp 3tháng 10, 11 và 12/2008 CPI tăng trưởng âm Tất cả là do các chính sách thắtchặt tiền tệ của NHNN, các biện pháp kìm chế lạm phát của chính phủ đồngthời từ tháng 9 năm 2008 khủng hoảng tài chính từ Mỹ bắt đầu lan rộng ra toàncầu làm giá cả nhiều mặt hàng giảm mạnh Đối với từng nhóm hàng cụ thể,nhìn chung trong năm 2008 có 4 nhóm hàng có chỉ sốgiá bình quân tăng cao sovới năm trước là: hàng ăn - dịch vụ ăn uống tăng 36,57% (riêng lương thựctăng 49,16%, thực phẩm tăng 32,36%); nhà ở - vật liệu xây dựng tăng 20,51%;phương tiện đi lại - bưu điện tăng 16% và đồ dùng - dịch vụ khác tăng 13,17%.Ngoài ra, chỉ số giá bình quân của vàng trong năm 2008 đã tăng 31,93%, trongkhi chỉ số giá USD chỉ tăng bình quân 2,35% so với năm 2007 Bên cạnh đó,tác động tâm lý đã đẩy nhiều loại hàng hóa tăng giá bất hợp lý Tại một số thờiđiểm, trong lúc giá xi măng xuất xưởng của một số nhà cung cấp chỉ có53.00055.000 đồng/bao, thì giá bán trên thị trường lên 80.000 - 90.000đồng/bao CPI cũng đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàngthương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời điểm vượt trên 18-19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho vay Bình quân mức tăngCPI thời kỳ này đạt 2,48%/tháng, dù đã được điều chỉnh bởi các nhóm giảipháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ.
Kết thúc năm 2008, lạm phát lùi về còn 19,89%, đây là mức cao nhất trongvòng
17 năm qua Trong đó CPI của lương thực tăng cao nhất và đạt 49,16%, chỉ sốgiá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2008 giảm 0,68% so với tháng trước, nhưng sovới tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá bình quân năm 2008 so vớinăm 2007 tăng 22,97%; đặc biệt, so với kỳ gốc năm 2005 đã tăng 46,07%
Trang 25Biểu đồ 1: Biểu đồ CPI qua 12 tháng năm 2008
*Giai đoạn 2009-2010:
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiềuhàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế CPInăm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây Tuy vậy,mức tăng này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơnkhá nhiều
Khép lại với mức tăng CPI trong vòng kiểm soát, nhưng gạo và xăng dầu,hai mặt hàng có quyền số lớn trong rổ hàng hóa, dịch vụ tính CPI vẫn luôn làyếu tố bất định trong năm Một số chuyên gia nhận định, chỉ số giá năm 2009đang nằm trong mức như mong đợi, tuy nhiên vẫn còn một số lo ngại bởi, sovới cùng kỳ năm ngoái một số mặt hàng thiết yếu vẫn đang có xu hướng tăngcao, từ 8,53 đến 9,56%
Mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức đượckhẳng định Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so với chỉtiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm gần 5%
Trang 26Biểu đồ 2: Diễn biến CPI năm 2009(%)
Tính chung trong năm 2010 thì giáo dục là nhóm tăng giá mạnh nhất trong
rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vậtliệu xây dựng (15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá vớimức giảm gần 6% trong năm 2010 Tính chung trong cả năm 2010, giá vàng đãtăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%
*Năm 2011:
Diễn biến CPI các tháng năm 2011 Lạm phát cả năm chốt ở mức tăng 18,13%ghi nhận sự “đi hoang” của dòng tiền, khi không tạo được đột phá về tăngtrưởng nhưng lại thúc ép lạm phát đạt các kỷ lục mới
Dấu hiệu của tính quy luật chỉ còn rất mờ nhạt, diễn biến chỉ số giá tiêudùng (CPI) trong năm 2011 nổi trội ở hai đột biến, đến từ các mức tăng kỷ lụcmới trong tháng 4 và tháng 7
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2011 bất ngờ giảm tốc nhẹ xuống mức tăng1,74% so với tháng trước Nhiều nhận định khi đó đã lạc quan cho rằng, xuhướng này là tích cực, có thể là một mở đầu thuận lợi cho một năm mà Chínhphủ đặt quyết tâm kiềm chế lạm phát ngay từ đầu, với chỉ tiêu “khắc nghiệt”chỉ có 7%
Trang 27Lạm phát liên tiếp bị đẩy lên, CPI theo tháng tăng 2,17% vào tháng 3.Chưa kịp hết ngỡ ngàng về sự gia tốc sau Tết Nguyên đán, CPI lập tức đạt đỉnhvào tháng 4 ở mức 3,32%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây Đến lúc này, CPI sovới cuối năm trước đã tăng 9,64%, vượt xa mục tiêu 7%, hiện thực hóa nỗi lolạm phát.
Biểu đồ 3: Diễn biến CPI năm 2010- 2011(%)
Nhà đầu tư Nguyễn Văn Trung, tại một cuộc họp vào tháng 10 cho biết,trong số khoảng 57 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, có tới 47 nghìnđược xác định đã ngừng hoạt động Cho nên sang nửa thứ hai của năm, nềnkinh tế ở vào thời khắc “nao núng” với con đường đang chọn: chấp nhận giảmtăng trưởng để kiềm chế lạm phát
Chính vì thế, các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt 4 vấnđề: rủi ro thiếu thanh khoản; rủi ro sai lệch cơ cấu đồng tiền; rủi ro nợ xấu; vàrủi ro tổng dư nợ với thị trường bất động sản
Theo bà Trần Thị Hằng- Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
Lạm phát các tháng đầu năm 2011 có các nguyên nhân chủ yếu như sau.Thứ nhất doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2 và ngày29/3), mỗi lít xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38% đã tác động trựctiếp tăng chỉ số giá nhóm giao thông vận tải và gián tiếp nhiều vòng đến hoạtđộng sản xuất của các lĩnh vực khác