1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của thế giới quan phật giáo đối với lối sống người dân tỉnh bình dương hiện nay

31 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Thế Giới Quan Phật Giáo Đối Với Lối Sống Tinh Thần Người Dân Tỉnh Bình Dương Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Tp. Hcm
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề xem xét ảnh hưởng của tôn giáo đối với lối sống, đạo đức cũng đượcđặt ra và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.. Phật giáo đã trởthành một trong những hệ tư tưởng - tôn gi

Trang 1

KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 4

7 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CƠ BẢN 6

1.1 Khái quát về Phật giáo 6

1.2 Sự phát triển và du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 11

1.3 Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo ảnh hưởng đến người Việt Nam 13

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 16

2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong nhận thức của người Bình Dương 16

2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm đạo đức và lối sống của người Bình Dương 19

2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến phong tục tập quán của người Bình Dương 22

KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội là một hệ thống toàn vẹn có cấu trúc phức tạp với nhiều yếu tố hợpthành Với tính cách là một yếu tố của cấu trúc đó, tôn giáo đã có những ảnh hưởngkhông nhỏ đến con người và xã hội trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp phầntạo nên sắc thái đặc biệt cho đời sống nhân loại

Vấn đề xem xét ảnh hưởng của tôn giáo đối với lối sống, đạo đức cũng đượcđặt ra và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Có tình hình đó bởi lẽ, tácđộng của những mặt trái của kinh tế thị trường hiện nay đã làm nảy sinh nhữnghành vi lối sống không phù hợp truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiến bộ xã hội.Những hành vi lối sống ấy đã và đang làm xói mòn giá trị văn hoá truyền thống màdân tộc ta đã mất hàng ngàn năm mới có thể hình thành được Bên cạnh đó, khuynhhướng làm giàu bằng bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo bất chính, gây tội ác, vi phạmpháp luật, sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân phẩm con người ở một số cánhân vị kỷ đã và đang tạo nguy cơ làm băng hoại các giá trị văn hoá, đạo đức vàluật pháp

Phật giáo dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạođức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng và bác ái Phật giáo đã trởthành một trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đếnngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam nóichung và người dân trong tỉnh Bình Dương nói riêng Phật giáo ở Việt Nam luôngắn liền với vận mệnh đất nước, thăng hoa cùng dân tộc trong mọi hoàn cảnh và dùtrải qua nhiều thời đại vẫn luôn là một tôn giáo có truyền thống yêu nước, gắn bóvới dân tộc

Chính vì vậy, nghiên cứu thế giới quan Phật giáo ảnh hưởng đến lối sống tinhthần người dân tỉnh Bình Dương hiện nay nhằm tìm ra những giải pháp phát huyảnh hưởng tích cực, khắc phục hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực là vấn đề có ýnghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết Với tầm quan trọng và ý nghĩa như vậy, tôi chọn

đề tài: “Ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với lối sống người dân tỉnh

Bình Dương hiện nay”.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trang 4

Phật giáo là tôn giáo – triết học cổ đại có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới đời sốngvăn hóa tinh thần của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Không bao lâu sau khi rađời, nó đã phát triển rộng khắp các nước thuộc khu vực Châu Á, và ngày nay nó lạiđang lan toả mạnh sang các nước phương Tây Bởi vậy, nó thu hút sự quan tâmnghiên cứu của các tăng ni Phật tử, các nhà khoa học trên mọi khía cạnh Nhìnchung Phật giáo được đánh giá cao bởi những giá trị văn hoá của nó.

Enstein, nhà bác học vĩ đại của nhân loại, khi nghiên cứu về đạo Phật đã chorằng, đây là tôn giáo của tương lai, là tôn giáo của vũ trụ Ông đánh giá cao quanniệm phủ nhận thần linh, thượng đế, đánh giá cao thực nghiệm vật chất và tinh thầntrong ý thức Phật giáo Ông cho rằng, nếu có một tôn giáo nào đó đáp ứng được yêucầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo

Nhà toán học, kiêm triết học người Anh nổi tiếng Bertarand Rusel trong cuốnLịch sử Triết học Tây Phương đã viết rằng Phật giáo là tổ hợp của triết lý suy cứu

và triết lý khoa học Phật giáo đề cao phương pháp khoa học và theo đuổi mục đíchthuần lý Phật giáo có thể thay thế cho khoa học ở những đoạn đường mà khoa họckhông đến được do tính không hoàn thiện của những công cụ khoa học

Còn H.G Well, nhà sử học nổi tiếng người Anh khi đánh giá về vai trò củaPhật giáo đã cho rằng, Phật giáo đã đóng góp vào sự tiến bộ của nền văn minh nhânloại nhiều hơn bất cứ một ảnh hưởng nào khác trong lịch sử nhân loại

Ở Phương Đông, Phật giáo cũng thu hút được rất nhiều sự quan tâm của cácnhà khoa học J Nerhu trong “Phát hiện Ấn Độ” đã chỉ ra những giá trị nhân đạo,nhân bản trong Phật giáo, chỉ ra những giá trị mà Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc

là nguồn gốc của vũ trụ Ông đã sử dụng tư tưởng của Thiền tông như một trong cácnguồn tư liệu để chứng minh cho luận điểm nói trên Theo ông, ý tưởng về lòng từ

Trang 5

bi, bình đẳng và vô ngã trong Phật giáo còn là nguồn giác ngộ và khích lệ đối vớitầng lớp trí thức Trung Quốc đương thời.

Ở Việt Nam, từ lâu trong lịch sử, việc nghiên cứu Phật giáo và tác động củaPhật giáo đối với đời sống xã hội nói chung, cũng đã được quan tâm nghiên cứutrong suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể cả giai đoạn suy tàn

Đặc biệt, từ những năm cuối của thế kỷ XX trở đi đã xuất hiện rất nhiều côngtrình khoa học nghiên cứu về Phật giáo, về vai trò của Phật giáo trong đời sống xãhội nói chung, trong lối sống của người Việt Nam nói riêng

Trong cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con ngườiViệt Nam hiện nay” (Nxb CTQG, Hà Nội 1997) do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủbiên, các tác giả đã đề cập đến vai trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực như: ảnhhưởng của Phật giáo đối với hệ tư tưởng, đối với sự hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam hiện nay Nguyễn Dăng Duy trong “Phật giáo và văn hoá Việt Nam” (Nxb

Hà Nội 1999) đã đề cập đến vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị, văn hoá,đạo đức của dân tộc Việt Nam

Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh với “Phật giáo nhập thế vàphát triển” (Nxb Tôn giáo 2008) đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, cáctrí thức Phật giáo viết về vai trò của Phật giáo trong các lĩnh vực của đời sống xãhội Việt Nam hiện nay như: Phật giáo trong thời kỳ hội nhập và phát triển, Phật giáovới chính trị, xã hội, Phật giáo với sự phát triển bền vững của đất nước, Phật giáovới xã hội dân sự, Phật giáo với sự nghiệp độc lập, Phật giáo với các vấn nạn giaothông, Phật giáo với đời sống tâm linh, Phật giáo với việc việc xây dựng nền kinh tếnhân bản, Phật giáo với hoạt động từ thiện nhân đạo…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hệ thống hóa Phật giáo, phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đối với lốisống của người dân tỉnh Bình Dương hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng và giảipháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:

Trang 6

- Khái quát những nội dung cơ bản trong giáo lý, giáo luật của Phật giáo, chỉ

ra đặc điểm và thực trạng Phật giáo Việt Nam hiện nay

- Phân tích những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Phật giáo trên một sốphương diện cơ bản trong lối sống của người dân Bình Dương hiện nay

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tíchcực, hạn chế mặt tiêu cực ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với đời sốngtinh thần người dân Bình Dương hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thế giới quan Phật giáo và ảnh hưởng củathế giới quan Phật giáo đối với lối sống của người dân tỉnh Bình Dương hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với lốisống của người dân tỉnh Bình Dương từ xưa đến hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng các phươngpháp nghiên cứu như: logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như sau:

- Thứ nhất, đề tài góp phần cung cấp một cái nhìn khái quát về thế giới quanPhật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với lối sốnh người dân tỉnh Bình Dươnghiện nay

- Thứ hai, đề tài góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhànước, cơ quan quản lý tôn giáo có giải pháp phù hợp để phát huy ảnh hưởng tíchcực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đối với lối sống của người dân tỉnhBình Dương hiện nay

- Thứ ba, kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,giảng dạy lý luận về tôn giáo và một số lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác

7 Kết cấu của đề tài

Trang 7

Nội dung nghiên cứu của đề tài được kết cấu gồm 2 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát về Phật giáo và tư tưởng Triết học Phật giáo cơ bản

1.1 Khái quát về Phật giáo

1.2 Sự phát triển và du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

1.3 Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo ảnh hưởng đến người Việt Nam

Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống của người dân tỉnh Bình Dương hiện nay

2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong nhận thức của người Bình Dương 2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm đạo đức của người Bình Dương2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến phong tục tập quán của người Bình Dương

Trang 8

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

PHẬT GIÁO CƠ BẢN 1.1 Khái quát về Phật giáo

Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên.Không lâu sau đó, Phật giáo đã lan tỏa và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc giakhác ở Châu Á Ngày nay, Phật giáo đã lan rộng ở khắp các châu lục và là một trongnhững tôn giáo lớn trên thế giới

Trong Phật giáo có chứa đựng nhiều những giá trị văn hoá, đạo đức có ảnhhưởng không nhỏ đến nền văn hoá của một số quốc gia, dân tộc công nhận

Học thuyết Phật giáo chứa đựng những điều cốt tử là: Khổ, Không, vô thường,

vô ngã, nhưng sự triển khai cụ thể trong từng thời pháp, từng hoàn cảnh thì khácnhau

Phật giáo đề cao con người Hay nói cách khác, tiền đề xuất phát của Phật giáo

là con người sống hiện hữu Con người là trọng tâm trong học thuyết đạo đức Phậtgiáo và con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính bản thânmình

Theo quan niệm của Phật thì cuộc đời là bể khổ và nguyên nhân của khổ là do

vô minh và tham dục Cái khổ ấy do chính con người tạo nên nhưng nó không phải

là vĩnh viễn bởi vì con người có thể tự tìm con đường thoát khổ cho chính mình.Con đường ấy là sự nỗ lực rèn luyện trí tuệ thân tâm, diệt trừ vô minh, tham dục Sựgiải thoát trong Phật giáo là sự tự lực giải thoát Đây là điểm tiến bộ và cũng là sựkhác biệt rất lớn giữa Phật giáo và các tôn giáo khác Các tôn giáo hữu thần cũngbàn về con người, về sự hiện hữu của con người và về con đường giải phóng conngười Nhưng với các tôn giáo hữu thần, con người là ngã thể khác của đấng siêunhiên nên nó chỉ được giải phóng khi đã giã từ cuộc sống thế tục, khi được nhận sựcứu vớt của đấng siêu nhiên

Với Phật giáo, con người là sự kết hợp của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,thức - tức 5 yếu tố gồm cả vật chất và tinh thần) chứ không phải là sản phẩm của

Trang 9

thượng đế Vì vậy, con người phải nhìn sâu vào thực tại hiện hữu của chính mình đểthấy rõ tính chân thật của cái bản ngã để từ đó mà nỗ lực giải thoát cho mình.

Từ khổ đau hiện thực với tư cách là kết quả, Phật truy tìm căn nguyên nỗi khổcủa con người Phật cho rằng, con người khổ là vì “Vô minh”, vì “Tham ái” và

là cố chiếm lấy làm sở hữu cho riêng mình những vật hay điều mình thích làm phátsinh cái ngã Chính vì vậy mà con người tự làm khổ cho mình

Trong Phật giáo, trách nhiệm của mỗi người với những hành vi thiện ác củathân, tâm mình rất được đề cao Đức Phật dạy rằng: “Làm dữ ở nơi ta mà ô nhiễmcũng bởi ta; làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta chứ không ai có thể làm cho

ai thanh tịnh được”

Trên con đường giải thoát khỏi cái khổ, Phật giáo dạy con người phải nươngtựa chính mình chứ không nương tựa ai khác, không có một thế lực nào có thể mạnhhơn chính bản thân con người Phật cho rằng, con người là tối thắng vì con người cóthể làm được tất thảy mọi thứ Bản thân mỗi người là ngọn đèn cho chính mình vàngười là hòn đảo trú ẩn của chính bản thân con người Theo quan niệm Phật giáo,Bát chính đạo với tám con đường giải thoát mà Phật đã chỉ ra chính là cách thức đểphá bỏ sự mê muội, thoát khỏi khổ đau, đạt trí tuệ bát nhã tức là đạt tới độ nhậnthức được thực tướng của vạn pháp

Chính kiến là cái thấy về sự thực, cái nhận thức xác thực Phật cho rằng, trongmỗi chúng sinh đã có sẵn hạt giống của chính kiến, của tuệ giác, chỉ có điều tuệ giác

đó bị vô minh làm mờ lấp mà thôi Chính kiến đưa đến chính tư duy Chính tư duy

có nghĩa là suy nghĩ đúng, là sự suy nghĩ dựa trên sự thật, trên chính kiến, tuệ giác

để thấy rõ được bản chất vô thường, vô ngã của sự vật Hay nói cách khác, suy nghĩđúng là suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi Chính tư duy đưa đến chính ngữ.Chính ngữ là lời nói thật, lời nói chân chính Chính ngữ dẫn đến chính niệm Chính

Trang 10

niệm là suy niệm đúng đắn Chính niệm dẫn đến chính nghiệp Chính nghiệp làhành động chân chính để không tạo nghiệp Chính nghiệp đưa tới chính mạng.Chính mạng là nghề nghiệp, phương tiện sinh sống chân chính Chính mạng đưađến chính tinh tiến Chính tinh tiến là nỗ lực siêng năng học tập, kiểm soát thân,khẩu, ý theo cái thiện Chính tinh tiến đưa tới chính định Chính định là nhiếp tâmvào con đường chân chính không để bị vọng động bởi tác động của ngoại cảnh.Chính định làm phát sinh chính tuệ Chính tuệ là sự sáng suốt để nhận thức rõ thựctướng của vạn vật.

Theo nhãn quan Phật giáo, Bát chính đạo làm cho con người nhận thức rõđược chân như của sự vật và con người, làm cho con người biết quý trọng sự màunhiệm của cuộc sống, biết sống ung dung, tự tại giữa cuộc đời

Đặt trọng tâm vào con người trên con đường giải thoát cũng như trong việcrèn luyện đạo đức, Phật đã dùng thuyết Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo để lý giảicái khổ của con người qua các kiếp sống khác nhau

Theo quan niệm của nhà Phật, mọi hoạt động của con người từ thân, khẩu, ýđều để lại một kết quả nhất định, trong đó nhân có trước, quả có sau, quả phụ thuộcvào nhân và nhân nào quả ấy Tuỳ thuộc vào việc con người gieo nhân như thế nào

mà họ nhận được quả tương ứng Nhà Phật gọi đó là nghiệp báo Như vậy, nghiệpbáo được xem là kết quả hoạt động của con người (gồm cả thân, khẩu, ý) mà tất yếu

họ nhận được trong hiện tại hoặc tương lai

Nhân quả, nghiệp báo không phải là sản phẩm của riêng Phật giáo mà là sảnphẩm chung của triết học và tôn giáo Ấn Độ Tuy nhiên, Phật giáo đã khái quát đểtrình bày chúng có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến “ý nghiệp” Ý nghiệp theoquan niệm của nhà Phật, là cái khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác

Nghiệp báo là do chính bản thân con người làm ra nên chính mình bị lôi cuốnvào vòng lục đạo, bị lăn lộn triền miên trong vòng sinh tử luân hồi, cứ chết đi, sốnglại mãi nếu vẫn còn những hoạt động tạo nghiệp Giải thoát có nghĩa là trả nghiệp

cũ và không tạo thêm nghiệp mới Khi nào chúng sinh trả hết nghiệp, không còn lạcvào nghiệp thì được hoàn toàn tự do

Như vậy, trong Phật giáo con người là chủ nhân của nghiệp, con người có thểthay đổi nghiệp của mình tuỳ thuộc vào hoạt động của thân và tâm mỗi người

Trang 11

Thuyết nghiệp của Phật giáo có ý nghĩa giáo dục đạo đức rất lớn Nó hướng conngười đến những điều thiện, điều lành, tránh xa điều ác, điều dữ.

Phật giáo xây dựng đạo đức của mình trên nền tảng của triết lý vô ngã Vô ngãtrong quan niệm nhà Phật không chỉ bó hẹp trong cái ta của con người cá nhân, củatôi hay của anh mà là không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các sự vật, hiện tượng của

vũ trụ nói chung Phật dạy tín đồ của mình phải nhìn sự vật, hiện tượng bằng conmắt vô ngã để có thể quán chiếu được lẽ không của vạn vật, để từng bước diệt khổ,

có nghĩa là từng bước đạt được sự giải thoát Chính vì vậy, theo quan niệm của nhàPhật, “Vô ngã” cũng có nghĩa là “Niết bàn”

Coi trọng một nếp sống đạo đức, Đức Phật đã đưa ra một hệ thống các phạmtrù đạo đức như Lục độ, Lục hoà, Thập thiện, Tứ ân…

- Lục độ hay còn gọi là 6 hạnh Ba la mật, bao gồm: Bố thí, trì giới, tinh tấn,nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ Người tu hành đắc được 6 hạnh này thì độ được mình

và độ được người sang bờ bên kia của bến mê, có nghĩa là đạt giải thoát Lục độ làphép môn tu Bồ tát thừa Theo tinh thần này, bất kỳ là ai, dù người mới nhập phápmôn tu hành hay đến các vị Bồ tát, Phật đều phải vừa độ mình, độ người để giúpmình và giúp người cùng ra khỏi bến mê Như vậy, giải thoát theo tinh thần của Lục

độ thì bản thân cá nhân mỗi người phải làm thiện, sau đó giúp người làm thiện Vàcuối cùng, việc giúp mình, giúp người trở thành lẽ tự nhiên trên con đường thựchiện giải thoát

- Lục hoà là sáu sự hoà hợp bao gồm: thân hòa, khẩu hòa, giới hòa, ý hòa, kiếnhòa và lợi hòa Thân hòa từ kính hay thân hòa đồng tu nghĩa là tăng chúng phải biết

từ hòa, kính nhường nhau trong mọi cử chỉ, hành động Khẩu hòa đồng kính haykhẩu hòa vô tranh có nghĩa là tăng chúng sống trong tăng đoàn phải nhường nhịnnhau từng lời ăn, tiếng nói, không gây gổ cãi lộn nhau Giới hòa đồng kính hay giớihòa đồng tu nghĩa là tăng chúng cùng tu chung giới luật nên phải hòa thuận, kính áihòa hợp với nhau Ý hoà kính hay ý hoà đồng duyệt có nghĩa là tăng chúng phải tâmđầu, ý hợp, chia sẻ buồn vui cùng nhau, yêu mến nhau Kiến hoà đồng kính haykiến hoà đồng giải tức là hết thảy tăng chúng đều thờ Phật, tu hành theo pháp mônnhà Phật, do đó phải cùng nhau thống nhất hoà hợp và chia sẻ kiến thức về Phật

Trang 12

pháp Lợi hoà đồng quân hay đồng lợi hoà tức là tăng chúng cùng nhau thụ hưởnglợi ích mà bá tánh cúng dường, cùng nhau chia sẻ, thụ hưởng một cách kính ái.Lục hoà không chỉ là chuẩn mực đạo đức của hàng tăng chúng mà mở rộng ra

là sự hoà hợp của tất cả các đệ tử nhà Phật nói chung Mở rộng hơn nữa nó còn có ýnghĩa với một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia và toàn nhân loại

- Thập thiện tức là mười điều thiện bao gồm: 3 điều thiện về thân, 4 điều thiện

về khẩu, 3 điều thiện về ý

+ Ba điều thiện về thân nghiệp gồm: không sát sinh mà phải phóng sinh;không trộm cắp mà phải bố thí; không tà dâm mà phải sống trong sạch

+ Bốn điều thiện về khẩu nghiệp gồm: không nói lời dối trá, mà phải nói lờitrung thực; không nói lời độc ác, xúc xiểm mà phải nói lời hiền dịu; không nói lờithêu dệt, đơm đặt mà phải nói lời có ích

- Tứ ân là 4 ân đức lớn mà mỗi người đều phải nhớ, phải trả trong cuộc đờicủa mình, đó là Ân cha mẹ vì cha mẹ đã sinh ra ta; ân chúng sinh vì chúng sinh đãgiúp đỡ ta; ân Tổ quốc vì Tổ quốc cho ta sự yên bình lạc đạo và ân Tam bảo vì Tambảo đã cho ta chánh pháp

Đây là những chuẩn mực đạo đức rất gần gũi với giá trị đạo đức truyền thốngcủa người Việt Nam

- Một trong những chuẩn mực đạo đức Phật giáo có ảnh hưởng khá nhiều đếnlối sống của người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay đó là Tứ vô lượng tâm

“Từ, bi, hỷ, xả”

Tâm “Từ” là lòng từ ái vô lượng, vô biên, là cái đối trọng với tâm sân hận.Theo quan niệm của nhà Phật, cái tâm sân hận không thể được dập tắt bằng lòng thùoán mà nó chỉ có thể hoá giải được bằng tâm “từ”

Tâm “Bi” là lòng xót thương vô hạn, là sự rung động trước nỗi đau của ngườikhác và nỗi đau của nhân thế, là sự cảm thông vô hạn đối với con người, đối vớimọi chung sinh không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn, thân sơ Tâm “Bi”chính là cái đối trọng với hung bạo, hận thù nhưng nó hoàn toàn không phải là sự bilụy Đức Phật đã dạy rằng, hận thù không bao giời diệt được hận thù, từ bi diệt hậnthù đó là định luật nghìn thu

Trang 13

Tâm “Hỷ” nghĩa là vui với niềm vui của người khác, buồn với nỗi buồn củangười khác, không hiềm khích ganh tỵ trước thành tựu của người khác Tâm “Xả”nghĩa là không luyến ái, không bực tức, nóng giận trong phiền não.

Tóm lại: Tứ vô lượng tâm “Từ, bi, hỷ, xả” là thái độ cùng vui, cùng buồn vớitất cả chúng sinh, là tư tưởng cứu khổ, cứu nạn Nhờ đó khi thực hành, tín đồ có thểđiều chỉnh hành vi của mình phù hợp với cái thiện

1.2 Sự phát triển và du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

Quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam có những điểm chínhnhư sau:

Thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường dân giã và mang tính tự

phát thông qua các thương nhân Ấn Độ và các nhà truyền giáo Trung Quốc.Phật giáo du nhập vào Việt Nam là do công lao của các thương nhân Ấn Độ

Từ những năm đầu công nguyên người Ấn Độ đã đi buôn bán với nhiều nước trongvùng Địa Trung Hải, Trung Đông, La Mã Chính trong quá trình đi tìm nguyên liệu,học đã tới đất Giao Chỉ Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, Luy Lâu – trung tâm Phậtgiáo đầu tiên ở Việt Nam được hình thành do sự viếng thăm của thương nhân người

Ấn Họ đến Việt Nam mang theo những kỹ thuật canh tác, y thuật, phong tục tậpquán và sinh hoạt tôn giáo của người Ấn (Bà La Môn và Phật giáo) Như vậy, cácthương nhân này đã đem Phật giáo đến Việt Nam một cách không có chủ đích Tuynhiên, thời kỳ này Phật giáo mới chỉ giới hạn ở sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ nhưđọc Tam quy, cúng dường, bố thí

Tiếp sao đó là sự du nhập của các nhà sư người Trung Quốc Họ cũng đến ViệtNam truyền đạo hoàn toàn mang tính tự phát Đến thời nhà Lê, vua Lê Đại Hànhmới cho người sang Trung Quốc mời sư tăng về

Thứ hai, Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường hòa bình, ít xung

đột với nền văn hóa có sẵn

Phật giáo đến với dân tộc rất tự nhiên và nhanh chóng được người Việt Namđón nhận do có nhiều điểm phù hợp với hệ thống tín ngưỡng của người Việt cổ Họtin tưởng ông Trời có mắt, có thể nhìn thấu mọi việc dưới đất, trừng phạt kẻ ác, giúp

đỡ người hiền Bên cạnh đó, linh hồn con người vẫn còn tồn tại xunng quanh ngườithân để che chở, phù hộ cho họ Trong bối cảnh đó, Phật giáo với Thuyết nhân quả

Trang 14

nghiệp báo, luân hồi với những quan niệm về công đức tam bảo… rất phù hợp vớitín ngưỡng người Việt nên đã được nhanh chóng tiếp nhận

Với tư tưởng khoan dung, mềm dẻo, linh hoạt nên quá trình truyền bá Phậtgiáo vào Việt Nam không gây ra xung đột về văn hóa cũng như tôn giáo Khôngnhững vậy, Phật giáo còn không cạnh tranh, lấn át mà hòa vào hệ thống tôn giáo vàtín ngưỡng của người bản địa

Ngay từ những giai đoạn đầu khi mới du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đãtừng được sử dụng như một công cụ chống lại sự xâm lăng văn hóa, sự đồng hóavăn hóa của các thế lực xâm lược phương Bắc Triết lý Phật giáo gần gũi với tinhthần dân tộc nên ngay từ giai đoạn đầu, các nhà tư tưởng của nước ta đã đến vớiPhật để tìm xu hướng độc lập cho dân tộc, chống lại sự no dịch tinh thần của tưtưởng Đại Hán (Mâu Bác, Sĩ Nhiếp) Các giai đoạn sau này, trong quá trình pháttriển của Việt Nam, Phật giáo cũng đóng góp không nhỏ đến sự phát triển của vănhóa dân tộc

Thứ ba, trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo luôn gắn bó, đồng

hành với dân tộc và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ nền độclập, góp phần hình thành bản sắc văn hóa của người Việt Nam

Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập và trong suốt quá trình phát triển đều luôngắn bó, đồng hành thủy chung với dân tộc Giai đoạn đầu, nhà nước Việt Nam vừagiành được độc lập còn non trẻ đứng trước vô vàn khó khăn, thiếu thốn thì chínhcác thiền sư là người đi đầu phục vụ cho lợi ích dân tộc, là người tạo ý thức quốcgia rất lớn

Đến thời Lý – Trần, các thiền sư là người đóng góp không nhỏ vào việc dờikinh đô đến nơi thuận lợi, xây dựng sự nghiệp độc lập dài lâu Họ cũng là ngườithiết lập ngoại giao và bàn luận kế hoạch quân sự Bên cạnh đó, các thiền sư còncan gián khi vua quan sống xa hoa, xa rời việc nước

Từ nửa sau thế kỷ XIV, Phật giáo lui về chốn thôn quê và dung hòa mạnh mẽvới tín ngưỡng dân gian bản địa tạo nên Phật giáo tồn tại lâu bền cho đến ngày nay.Thời cận đến hiện đại, trong bối cảnh nước nhà bị đô hộ bởi các thế lực đếquốc thực dân, Phật giáo ở Việt Nam có sự phân hóa nhất định Tuy nhiên, trong bốicảnh nước mất nhà tan một bộ phận nhà tu hành và tín đồ Phật giáo tiế bộ đã vận

Trang 15

dụng triết lý nhà Phật để phục vụ kháng chiến Không những thế, nhiều nhà sự còntham gia chiến trường, chùa chiền trở thành nơi dấu vũ khí, nơi dưỡng cán bộ cáchmạng

Do đó, từ ngày hòa bình độc lập trở lại, Giáo hội Phật giáo trở thành mộtthành viên trong Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, nhiều nhà tu hành còn tham gia quốchội trong nhiều khóa Phật giáo là tôn giáo duy nhất ở Việt Nam hiện nay trênphương châm hành động “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”

Nhìn suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo là tôn giáo luôn gắn bó, đồng hành cùngdân tộc, được lòng dân tộc hơn các tôn giáo khác do đó nó có ảnh hưởng sâu rộng,góp phần hình thành lối sống, nhân cách, đạo đức cho người Việt Nam

1.3 Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo ảnh hưởng đến người Việt Nam

Thứ nhất, quan niệm về các yếu tố tạo nên thế giới (thế giới quan)

- Phật giáo cho rằng thế giới tồn tại khách quan không phải do thần thánh sángtạo ra Mọi sự vật đều có nguyên nhân của nó nhưng không xác định được nguyênnhân của mọi nguyên nhân, tức là không có một Đấng tối cao nào sáng tạo ra vũ trụ.Phật thừa nhận thế giới tồn tại cả vật chất và tinh thần Các yếu tố vật chất tạo nênthế giới là đất, nước, lửa, gió (tứ đại) và không là những yếu tố không có hình thù.Các yếu tố tinh thần gọi là danh gồm cảm giác (thụ), suy nghĩ (tưởng), suy lý(hành), ý thức (thức)

- Về các cõi trên thế giới: Trong Phật giáo còn có khái niệm tam giới, baogồm: Dục giới (nơi lòng dục thịnh); Sắc giới (dục tuy không thịnh nhưng chưa hoàntoàn thoát ly khỏi sự trói buộc của vật chất); Vô sắc giới (hoàn toàn thoát ly khỏi sựtrói buộc của vật chất, chỉ có tinh thần) Bên cạnh đó, Phật giáo đưa ra khái niệmlục địa (6 ngã luân hồi): 1 Ðịa ngục; 2 Ngạ quỷ; 3 Súc sinh; 4 Người; 5 Atula; 6.Trời

- Thuyết vô thường: vô thường nghĩa là không có gì ổn định hay bất biến Phậtcho rằng thế giới không vĩnh hằng mà chuyển biến liên tục Đây là một trong nhữngthuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở cho phương thức sống, tu dưỡng theoPhật

Trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, Phật đã xâydựng nên thuyết nhân duyên Trong thuyết nhân duyên có ba khái niệm chủ yếu là

Ngày đăng: 23/06/2022, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình triết học Mác - Lênin , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2006
[2]. Nguyễn Đức Diện (2009), Quan niệm về nhận thức trong triết học Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, (4), tr.21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về nhận thức trong triết học Phật giáoViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Diện
Năm: 2009
[3]. Nguyễn Hồng Dương (2013), Tôn giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóaThông tin
Năm: 2013
[4]. Đỗ Công Định (2000), Phật giáo với việc hình thành nhân cách Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Phật học (3), tr.33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với việc hình thành nhân cách Việt Nam
Tác giả: Đỗ Công Định
Năm: 2000
[5]. Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh (2011), Phật giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2011
[7]. Thích Minh Châu (1996), Kinh Pháp Cú , Thành hội PG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp Cú
Tác giả: Thích Minh Châu
Năm: 1996
[8]. Nguyễn Đăng Duy (1999), Văn hóa tâm linh , Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
[9]. Thích Phụng Sơn (1995), Những nét đẹp văn hóa của đạo Phật , viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét đẹp văn hóa của đạo Phật
Tác giả: Thích Phụng Sơn
Năm: 1995
[10]. Đỗ Quang Hưng (2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ , Nxb.KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb.KHXH
Năm: 2001
[6]. C. Mác – Ph. Ănghen toàn tập, tập III, Nxb. CTQG, Hà Nội Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w