Trải qua 4 cuộc Cách mạng công nghiệp với hàng loạt đổi mới và thay thế trong công cụ sản xuất, nền kinh tế nhân loại đã vươn lên và phát triển không ngừng. Song, nhằm phục vụ cho nền công nghệ sản xuất tiên tiến mà nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến mức suy kiệt, môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Để phần nào hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra một giải pháp hiệu quả trong tiêu dùng, sự ra đời của sản phẩm xanh. Đó là những sản phẩm được sản xuất ra thân thiện với môi trường, có thể tái sử dụng và dễ phân hủy, giúp giảm các rác thải khó xử lí. Trong những năm gần đây, sản phẩm xanh thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ mà đại bộ phận trong đó là các bạn sinh viên. Tuy nhiên, việc đưa sản phẩm xanh vào đời sống các bạn sinh viên còn là một vấn đề khó. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát và nắm bắt được mức độ phổ biến, các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh, nhận thức và mức độ sẵn lòng của sinh viên trên địa bàn TP.HCM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sinh viên trên địa bàn TP.HCM và Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết với phần mềm thống kê SPSS.Tổng cộng có 221 sinh viên từ các khối ngành tham gia khảo sát, trong đó có 200 sinh viên tại TP.HCM. Kết quả cho thấy: 90% tự nhận thức được bản thân cần hành động ngay để bảo vệ môi trường và đã có khoảng 97% sinh viên trong tổng số tham gia khảo sát đã từng sử dụng sản phẩm xanh; hơn 75% dự định sẽ mua sản phẩm xanh trong tương lai. Hơn nữa kết quả khảo sát còn cho thấy khoảng 74,5% chấp nhận trả giá cho sản phẩm xanh cao hơn sản phẩm thông thường 1020%. Các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh bao gồm: Nhận thức của sinh viên về môi trường và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm xanh đối với môi trường hiện nay; Thói quen tiêu dùng sản phẩm; Sự sẵn có của sản phẩm xanh trên thị trường; Sự sẵn lòng trong việc sử dụng sản phẩm xanh; Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh. Kết luận: Sinh viên đã có ý thức tốt trong vấn đề bảo vệ môi trường và hầu như các bạn đều đã từng sử dụng qua sản phẩm xanh. Tuy nhiên, cần nâng cao độ nhận diện của sản phẩm xanh trên thị trường và khắc phục những yếu tố cần thiết nhằm đưa sản phẩm xanh đến gần với đời sống.
Trang 1KHOA TOÁN – THỐNG KÊ
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: THỐNG KÊ ỨNG DỤNG TRONG KINH TẾ VÀ KINH DOANH
Nhóm thực hiện :
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, 12 tháng 6 năm 2021
MỤC LỤC
1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN (Nhóm 18) 1
2 TÓM TẮT 1
3 GIỚI THIỆU DỰ ÁN 2
3.1 Lý do chọn đề tài 2
3.2 Vấn đề nghiên cứu 2
3.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.4.1 Đối tượng khảo sát: Sinh viên 3
3.4.2 Phạm vi khảo sát: Địa bàn TP.HCM 3
3.4.3 Đối tượng nghiên cứu: Sản phẩm xanh và các yếu tố tác động lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh 3
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 3
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 3
4.2 Phương pháp xử lí dữ liệu 4
4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 4
4.2.2 Phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê 4
5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4
5.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 4
5.2 Nhận thức của sinh viên về vấn đề môi trường và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm xanh đối với môi trường hiện nay 6
5.3 Thói quen tiêu dùng sản phẩm xanh 7
5.3.1 Mức độ biết đến sản phẩm xanh 7
5.3.2 Mức độ sử dụng các loại sản phẩm xanh 8
5.4 Sự sẵn có của sản phẩm xanh trên thị trường ngày nay 9
5.5 Sự sẵn lòng trong việc tiêu dùng sản phẩm xanh 10
5.6 Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của sinh viên trên địa bàn TP.HCM 11
5.6.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm xanh 11
5.6.2 Hành vi thực hiện lối sống xanh trong tương lai của sinh viên trên địa bàn thành phố HCM 11
5.7 Kiểm định One Sample T-Test 12
Trang 35.7.1 Nhận thức của sinh viên về môi trường và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm xanh
đối với môi trường hiện nay 12
5.7.2 Sự sẵn có của sản phẩm 13
5.7.3 Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh 14
6 HẠN CHẾ 14
6.1 Đối với đề tài: 14
6.2 Đối với nhóm: 14
7 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15
7.1 Kết Luận 15
7.2 Kiến nghị 15
8 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
9 PHỤ LỤC 16
9.1 Phụ lục 1 16
9.2 Phụ lục 2 18
Trang 4STT Họ và Tên sinh viên MSSV Đánh giá mức độ tham gia (%)
2 TÓM TẮT
Trải qua 4 cuộc Cách mạng công nghiệp với hàng loạt đổi mới và thay thế trong công cụ sản xuất, nền kinh tế nhân loại đã vươn lên và phát triển không ngừng Song, nhằm phục vụ cho nền công nghệ sản xuất tiên tiến mà nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến mức suy kiệt, môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Để phần nào hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra một giải pháp hiệu quả trong tiêu dùng,
sự ra đời của sản phẩm xanh Đó là những sản phẩm được sản xuất ra thân thiện với môi trường, có thể tái sử dụng và dễ phân hủy, giúp giảm các rác thải khó xử lí Trong những năm gần đây, sản phẩm xanh thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ mà đại bộ phận trong đó là các bạn sinh viên Tuy nhiên, việc đưa sản phẩm xanh vào đời sống các bạn sinh viên còn là một vấn đề khó
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát và nắm bắt được mức độ phổ biến, các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh, nhận thức và mức độ sẵn lòng của sinh viên trên địa bàn
cộng có 221 sinh viên từ các khối ngành tham gia khảo sát, trong đó có 200 sinh viên tại TP.HCM Kết quả cho thấy: 90% tự nhận thức được bản thân cần hành động ngay để bảo vệ môi trường và đã có khoảng 97% sinh viên trong tổng số tham gia khảo sát đã từng sử dụng sản phẩm xanh; hơn 75% dự định sẽ mua sản phẩm xanh trong tương lai Hơn nữa kết quả khảo sát còn cho thấy khoảng 74,5% chấp nhận trả giá cho sản phẩm xanh cao hơn sản phẩm thông thường 10-20%
Các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh bao gồm: Nhận thức của sinh viên
về môi trường và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm xanh đối với môi trường hiện nay; Thói quen tiêu dùng sản phẩm; Sự sẵn có của sản phẩm xanh trên thị trường; Sự sẵn lòng trong việc sử dụng sản phẩm xanh; Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh
Trang 5Kết luận: Sinh viên đã có ý thức tốt trong vấn đề bảo vệ môi trường và hầu như các bạn đều
đã từng sử dụng qua sản phẩm xanh Tuy nhiên, cần nâng cao độ nhận diện của sản phẩm xanh trên thị trường và khắc phục những yếu tố cần thiết nhằm đưa sản phẩm xanh đến gần với đời sống
Từ khóa: Sản phẩm xanh, sinh viên TP.HCM, bảo vệ môi trường
3 GIỚI THIỆU DỰ ÁN
3.1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng sản phẩm xanh ngày càng được phát triển và lan truyền rộng rãi Đặc biệt là ở thành phố lớn như TP.HCM, khi vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành gánh nặng cho toàn xã hội thì người dân cũng ý thức được phần nào trách nhiệm của mình và dần thay đổi thói quen tiêu dùng Sự ra đời của sản phẩm xanh đã thu hút không ít
sự quan tâm của giới trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên – Một bộ phận lớn của giới trẻ mang tầm ảnh hưởng to lớn đến xã hội không chỉ thông qua nhận thức hay tuyên truyền mà còn thông qua các trào lưu hiện hành Việc chuyển hướng tiêu dùng sang sử dụng sản phẩm xanh
đã mang lại hiệu quả tích cực và đáng mong đợi trong tương lai
Mặc dù sản phẩm xanh đang dần phổ biến rộng rãi nhưng số lượng các bạn sinh viên sử dụng còn khá khiêm tốn Việc đưa sản phẩm xanh vào đời sống của các bạn sinh viên còn vấp phải nhiều khó khăn khi có khá nhiều vấn đề phát sinh xoay quanh lối sống của các bạn làm ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng Đầu tiên phải nói đến thói quen sử dụng sản phẩm nhựa khó thay đổi Mặc dù sản phẩm nhựa khá độc hại nhưng bởi tính tiện dụng và dễ tìm kiếm nên vẫn rất được các bạn ưa chuộng Thứ hai là giá sản phẩm xanh thường đắt hơn so với sản phẩm nhựa, thậm chí đắt hơn gấp nhiều lần; trong khi đó, sinh viên còn hạn chế về mặt tài chính nên các bạn tỏ ra khá dè dặt trong việc chi tiêu cho những món sản phẩm xanh đắt tiền Chúng ta có thể dễ dàng thấy, dựa vào những gì được học khi còn trên ghế nhà trường và cái nhìn thực tế ngoài đời sống, sinh viên chắc hẳn ai cũng có nhận thức cao về vấn đề bảo vệ môi trường Nhưng dường như chỉ nhận thức tốt là không đủ khi còn rất nhiều bạn sinh viên vẫn không hành động khi tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng Vậy những yếu tố nào đã thực sự tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của sinh viên? Và làm sao để có thể đưa sản phẩm xanh đến gần hơn với các bạn? Để có câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề này, nhóm em đã thực hiện một cuộc khảo sát trên địa bàn TP.HCM: KHẢO SÁT HÀNH VI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM XANH
Trang 6sản phẩm xanh Sản phẩm xanh là các đồ dụng, vật dụng hằng ngày được sản xuất ra thân thiện với môi trường, có thể tái sử dụng nhằm thay thế các sản phẩm bằng nhựa, nilong, khó phân hủy, giúp giảm các rác thải khó xử lí, Chẳng hạn như túi vải (sử dụng nhiều lần,
có thể lau, giặt ), ống hút gạo/giấy/cỏ, bình nước thủy tinh/inox (có thể dùng cọ rửa để sử dụng lại), bao bì tự phân hủy sinh học, bàn chải tre, vì thế thu hút không ít sự quan tâm của giới trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên Sản phẩm xanh mang lại nhiều lơi ích thiết thực như giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, cải thiện chất lượng không khí, Tuy nhiên, việc đưa sản phẩm xanh vào đời sống các bạn sinh viên còn vấp phải nhiều khó khăn Do đó, nhóm chúng em thực hiện khảo sát hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh, cụ thể là sinh viên tại TP.HCM nhằm tìm câu trả lời cho các vấn đề sau:
1 Những nhân tố nào đã thực sự tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của sinh viên địa bàn TP.HCM?
2 Mức độ tác động của mỗi nhân tố? Nhân tố nào là quan trọng nhất?
3.3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua dữ liệu thu thập được và xử lí dữ liệu bằng các phương pháp định tính, định lượng nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh Nhóm hướng đến các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
1 Khảo sát và nắm được mức độ phổ biến của sản phẩm xanh
2 Nhận biết các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của sinh viên và mức độ sẵn lòng của sinh viên đối với sản phẩm xanh
3 Đưa ra các giải pháp hiệu quả, nâng cao nhận thức, tuyên truyền và lan tỏa thông điệp sống xanh
3.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.4.1 Đối tượng khảo sát: Sinh viên
- Đối tượng được khảo sát là những sinh viên đang học tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
- Bảng khảo sát thu thập được 221 câu trả lời, trong đó có 200 câu trả lời là hợp lệ
*Cách thức tiến hành:
Trang 7- Khảo sát được thực hiện chủ yếu bằng Facebook, Zalo,…
- Bắt đầu từ ngày 31/5, sau khi thiết kế xong bảng câu hỏi trên GG Form, copy đường link và đưa lên các Fanpage, diễn dàn trên Facebook, gửi qua messenger,… Khảo sát được thực hiện đến ngày 6/6 thì dừng lại
4.2 Phương pháp xử lí dữ liệu
Dữ liệu sau khi được thu thập thì tiến hành làm sạch và đưa vào xử lý: Tiến hành thống kê, phân tích dữ liệu theo yêu cầu nội dung của nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
- Là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng Trong nghiên cứu này, nhóm 18 sử dụng các thống kê mô tả như:
Mean: Giá trị trung bình mẫu
Min: Giá trị nhỏ nhất trong mẫu
Max: Giá trị lớn nhất trong mẫu
Frequency: Tần số
Percent: Tần suất tính theo tỷ lệ %
4.2.2 Phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê
- Để kiểm định giả thuyết thống kê, nhóm nghiên cứu sử dụng kiểm định One Sample T-Test
*Các bước tiến hành:
Bước 1: Đặt giả thuyết Ho: “Giá trị trung bình của biến tổng thể = Giá trị cho trước”
Bước 2: Lọc ra các trường hợp thỏa mãn điều kiện (nếu có) của nhóm đối tượng tham gia kiểm định
Bước 3: Thực hiện kiểm định One Sample T-Test
Bước 4: Tìm giá trị Sig tương ứng với giá trị T-Test t đã tính được
Bước 5: So sánh giá trị Sig với giá trị xác suất α
+ Nếu Sig > α thì ta chấp nhận giả thuyết Ho
+ Nếu Sig ≤ α thì ta bác bỏ giả thuyết Ho
Phần mềm thống kê: Nghiên cứu sử dụng phần mềm thống kê SPSS 20
5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
5.1 Mô tả mẫu nghiên cứu
Nơi học tập
Trang 8Thông qua kết quả khảo sát có tới 80 sinh viên đến từ trường UEH còn lại là 120 đến từ các trường khác trong tổng số 200 sinh viên được khảo sát ( trong đó sinh viên trường UEH chiếm 40%, 60% là các sinh viên trường khác) Cũng dễ hiểu khi số lượng sinh viên UEH đông đảo chiếm gần 1 nửa bởi vì tại Tp.HCM trường UEH sở hữu số lượng sinh viên khá đông so với các trường khác và các cơ sở cũng trường cũng được phân bố rộng trên khắp địa bàn tp.HCM Nên đây cũng là điều hợp lý khi nhìn vào kết quả khảo sát
Giới tính
Từ kết quả thu được ta thấy có 68 nam và 132 nữ trong tổng số 200 người phỏng vấn, trong đó nữ chiếm 66% và nam 34% Mặc dù tỷ lệ nữ vượt trội hơn so với nam nhưng đây là một kết quả có thể chấp nhận được vì thực tế những người tham gia khảo sát thường đến từ khối ngành kinh tế, trong khi với đặc thù của ngành học thì tỷ lệ sinh viên là nữ sẽ thường chiếm cao hơn tỷ lệ sinh viên là nam
Trình độ học vấn
Trang 9Đối tượng khảo sát tập trung nhiều nhất ở sinh viên năm 1, chiếm tỷ tới 82.5% Trong khi năm 2 chỉ chiếm 6.5%, năm 4 chiếm 6.0%, năm 3 chiếm 3.0% và thấp nhất là năm 4 trở lên với tỉ trọng chỉ 2.0% Điều này hoàn toàn bình thường với việc do người thực hiện dự án là sinh viên năm 1 mới vào đại học, chưa tiếp cận được với nhiều sinh viên khóa trên nên khi thực hiện việc gửi đi các biểu mẫu khảo sát thì chủ yếu sẽ được sinh viên năm 1 chú ý tới nhiều hơn
5.2 Nhận thức của sinh viên về vấn đề môi trường và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm xanh đối với môi trường hiện nay
Yếu tố nhận thức được đo lường bởi 5 thang đo likert 5, bao gồm NT1, NT2, NT3, NT4, NT5 NT1: Môi trường đang bị tàn phá trầm trọng bởi con người
NT2: Mọi người cần hành động ngay lập tức để bảo vệ môi trường
NT3: Một cá nhân được giáo dục về kiến thức, nhận thức tốt sẽ có hành động tích cực về môi trường
NT4: Sử dụng sản phẩm xanh góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
NT5: Sử dụng sản phẩm xanh đảm bảo tính an toàn đối với sức khỏe và mang lại sự tiết kiệm
về lâu dài
Trang 10Nhìn vào có thể thấy tất cả các biến đều được đánh giá cao, từ 4.47 đến 4.86 Biến NT2
“Mọi người cần phải hành động ngay lập tức để bảo vệ môi trường” là cao nhất Các biến NT1, NT3, NT4, NT5 có trung bình cũng không cách biệt quá nhiều Điều này là dễ hiểu khi vấn đề đáng báo động của môi trường đang ngay chính trước mắt của mỗi người Và cả nhân loại đang có rất nhiều nỗ lực để cải thiện tình trạng ấy Truyền thông đưa tin liên tục trên mọi phương diện tác động lâu dài nên ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên là không hề nhỏ
Và bên cạnh đó biến NT4 và NT5 có giá trị gần sát với tuyệt đối đã minh chứng vai trò tích cực của sản phẩm xanh đến môi trường và sinh thái
5.3 Thói quen tiêu dùng sản phẩm xanh
5.3.1 Mức độ biết đến sản phẩm xanh
Trang 11Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết mọi sinh viên đã có sự quan tâm nhất định đến sản
phẩm xanh, tỷ lệ số người đã từng nghe qua loại sản phẩm này chiếm đến 97% - một con số
thật đáng vui mừng Đây là tín hiệu tốt bước đầu cho thấy sinh viên trên địa bàn TP HCM đã
dần hình thành ý thức bảo vệ môi trường và đồng thời thấy được rằng “sản phẩm xanh” đang
được lan tỏa trên thị trường rộng rãi và nó không còn là cái tên xa lạ
5.3.2 Mức độ sử dụng các loại sản phẩm xanh
Nhìn vào biểu đồ có thể đánh giá mức độ sử dụng của các sản phẩm như sau:
- Túi vải/giấy tuy đã được sử dụng nhiều nhưng nó vẫn chưa thực sự phổ biến, chiếm tỉ lệ cao
nhất với 53.5% với mức độ thỉnh thoảng và cũng khá thường xuyên với tỉ lệ 26.5%
- So với túi vải/giấy thì túi tự phân hủy sinh học có phần không được ưa chuộng sử dụng
bằng, chỉ chiếm tới 42.5% ở mức độ thỉnh thoảng và chiếm một tỉ lệ khá lớn ở mức độ hiếm
khi 27%
- Ly và hộp giấy là một loại sản phẩm xanh gần như được hầu hết tất cả mọi người sử dụng,
chỉ có 1% trên tổng số chưa bao giờ sử dụng và 10% hiếm khi sử dụng
- Bình nước kim loại là sản phẩm có tỉ lệ rất thường xuyên sử dụng nhất trong số các sản
phẩm nên trên, chiếm tới 18% và từ mức độ thỉnh thoảng đến thường xuyên cũng chiếm một
tỷ lệ không hề nhỏ 59%
- Ống hút tre/inox/giấy có mức độ sử dụng gần tương tự với túi tự phân hủy sinh học, nhưng
có phần thường xuyên hơn một chút, với các mức độ hiếm khi/thỉnh thoảng/thường xuyên lần
lượt là 26.5%/38.5%/20.5%
- Hộp bã mía rất ít khi sử dụng do nguồn cung của nó trên thị trường còn khan hiếm và chưa
phổ biến, tới 41% chưa bao giờ sử sản phẩm này và 33.5% ý kiến đã từng sử dụng qua nó
- Và đứng đầu về sản phẩm xanh ít được sử dụng nhất đó là bàn chải tre, chiếm tỉ lệ cao nhất
về mức độ chưa bao giờ sử dụng tới 50% và 25.5% tỉ lệ hiếm khi sử dụng Gần như chỉ có
1% trên tổng số khảo sát sử dụng thường xuyên sản phẩm này Có thể dễ thấy rằng so với bàn
chải tre thì bàn chải thông thường vẫn có chỗ đứng nhất định trên thị trường và không thể phủ
nhận được những ưu điểm vượt trội hơn của nó
Trang 125.4 Sự sẵn có của sản phẩm xanh trên thị trường ngày nay
Yếu tố sẵn có được đo lường bởi 2 thang đo likert 5, bao gồm SC1, SC2
SC1: Cái loại sản phẩm xanh đang được mở rộng và bày bán ở nhiều nơi
SC2: Rất khó để nhận biết các loại sản phẩm xanh đúng chất lượng
Biến SC1 và SC2 có trung bình lần lượt là 3.87 và 4.04, gần với mức 4 trên thang đo Điều
đó cho thấy thực sự sản phẩm xanh còn chưa quá phổ biến trên thị trường Và trong nền kinh
tế hàng hóa đa dạng diện giờ có vô vàn sản phẩm với muôn kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại khác nhau và không có một cách thức nhận biết nhất định của dòng sản phẩm xanh bởi luôn tồn tại những mặt tối trong kinh doanh (trà trộn vào hàng thật, ăn cắp bản quyền bao bì, sản xuất hàng giả theo thị hiếu,…) Nguyên nhân đó là khi so sánh lợi ích kinh tế, các chủ cửa hàng thấy rằng lợi nhuận mang lại từ sản phẩm xanh còn chưa cao, giá thành khó cạnh tranh với các sản phẩm thông thường, chất lượng chưa hết đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
ví dụ như túi giấy không thể dùng trong điều kiện trời mưa như bao bì ni lông