Khởi nghiệp là một nội dung đề tài đang rất được sự quan tâm của xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, người chủ tương lai của đất nước. Chính phủ đã và đang có những động thái tích cực với những chính sách cụ thể nhằm giúp cho phong trào khởi nghiệp của Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, kết quả những khởi nghiệp từ thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế. Trên cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế HCM gồm kỳ vọng bản thân với khởi nghiệp, thái độ với khởi nghiệp, cảm nhận về năng lực bản thân với khởi nghiệp, cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp, chuẩn mực niềm tin. Nghiên cứu cũng đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên đại học Kinh tế HCM trong những năm tới.
Trang 1NGHIEN CUU Y DINH KHOI NGHIEP CUA SINH VIEN
TRUONG DAI HOC KINH TE TP HO CHi MINH
Tom tat:
Khởi nghiệp là một nội dung đề tài đang rất được sự quan tâm của xã hội, đặc biệt là
đối với thanh niên, người chủ tương lai của đất nước Chính phủ đã và đang có những động thái tích cực với những chính sách cụ thể nhằm giúp cho phong trào khởi nghiệp cùa Việt Nam phát triển ngày cảng mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, kết quà những khởi nghiệp từ thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế Trên cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan,
tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 nhân tô ảnh hưởng đến ý định khới nghiệp của
sinh viên trường Đại học Kinh Tế HCM gồm kỳ vọng bản thân với khởi nghiệp, thái độ với khởi nghiệp, cảm nhận về năng lực bản thân với khởi nghiệp, cảm nhận về tính khả thi
khi khởi nghiệp, chuân mực niềm tin Nghiên cứu cũng để xuất một số gợi ý chính sách
nhằm thúc đây ý định khởi nghiệp cho sinh viên đại học Kinh Tế HCM trong những năm tỚI
Từ khóa: Khời nghiệp, Đại học Kinh tế TP HCM, Sinh Viên
1 Giới thiệu chung
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng
tạo Quốc gia đến năm 2025" nhằm khuyến khích, hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đề triển khai các chính sách trên, Chính phủ đã và đang thực hiện các hoạt động nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp nói chung (hay còn được hiểu là khởi sự kinh doanh gắn với thành lập doanh nghiệp) đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (hay còn gọi là startup, tức là các doanh nghiệp đang trong quá trình hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, cỏ khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên
khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới)
Tại Việt Nam, tinh thần doanh nhân và khởi nghiệp được nhân lên trong những năm gần đây, sau khi Chính phủ phát động phong trào khởi nghiệp và lẫy năm 2016 là năm quốc gia khởi nghiệp Nhiều trường đại học đã đưa giáo dục khởi nghiệp vào chương trình
đào tạo, thậm chí xây dựng thành một ngành, chuyên ngành đào tạo Đại học Kinh Tế HCM
cũng đã nhanh chóng thích nghi khi đưa ra những thay đối trong việc đào tạo định hướng ứng dụng, đào tạo gắn với khởi nghiệp của sinh viên Đây chính là lý do tác giả lựa chọn
Trang 2đề tài “Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí
Minh”
2 Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu
2.1 Ý định khởi nghiệp
Khởi nghiệp, là một thuật ngữ chung bao hàm nhiêu vân đê và được định nghĩa băng rất nhiều cách khác nhau Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt được giải nghĩa
là bắt đầu sự nghiệp Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship (hay sfartup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa là sự đảm đương
Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm
rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế
bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và/hoặc sự cải tiến trong một tô chức
mới đang tồn tại” - theo ủy ban cộng đồng Châu Au (2003) Oviatt and McDougall (2005) thì cho rằng khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm và dịch vụ trong tương lai Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng
có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 2002)
Sự khởi nghiệp là một quá trình hoàn thiện và bên bỉ bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội,
từ đó phát triển ý tưởng để theo đuôi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới Theo tô
chức Global Entrepreneurship Momrtor (GEM) thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho
rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và tự tạo việc làm cho mình Vì vậy, khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro đề tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê
người khác làm việc cho mình Trong nghiên cứu này có thể định nghĩa: “khởi nghiệp là
việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới”
Krueger và Brazeal (1994) cho rằng một cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp khi có sự
mong muốn và có cảm nhận vẻ tính khả thi khi khởi nghiệp Khi cá nhân nhận thấy tiềm năng khởi nghiệp họ sẽ có dự định khởi nghiệp và từ đó biến thành các hoạt động khởi
nghiệp trong tương lai Khi cá nhân nhận thấy sự hấp dẫn của khởi nghiệp, họ đã có cảm
Trang 3nhan vé mong muốn khởi nghiệp Có sự cảm nhận về năng lực của bản thân và nguồn lực bên ngoài, họ sẽ có niềm tin về khả năng thực hiện hành vi khởi nghiệp Lúc đó, họ cảm
thấy tự tin và khả năng thành công cao với việc khởi nghiệp
2.2 Một số nhân tổ tác động tới ý định khởi nghiệp của sinh viên
2.2.1 Nhân tổ Kỳ vọng của bản thân với khởi nghiệp
Kỳ vọng bản thân là những kỳ vọng của cá nhân về những khả năng họ có thể thực hiện một hành động nào đó (Krueger & cộng sự, 2000) Như vậy, kỳ vọng bản thân là một biến tâm lý thể hiện khả năng và mong muốn của cá nhân trước công việc hay hành động có tính quan trọng Kỳ vọng của bản thân với hoạt động khởi nghiệp liên quan đến việc tự tin vào khả năng phát triển dự án kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hay khả năng giải quyết các vấn đề trong quá trình khởi nghiệp Những cá nhân tự tin vào khả năng bản thân trong việc khởi nghiệp thường có thái độ tích cực với công việc, ý định hay kế hoạch thực hiện
dự định của mình
HI: Kỳ vọng bản thân có tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên trường Đại học Kinh Tế HCM
2.2.2 Nhân tố: Thái độ với khởi nghiệp
Fishbein và Ajzen (1975) thừa nhận rằng một thái độ là một yếu tố dự báo đáng tin cậy
của một hành vi trong tương lai Kolvereid và Isaksen (2006) người đã tìm ra ý định là một nhà doanh nghiệp đã mạnh mẽ hơn cho những người có thái độ tích cực đối với rủi ro hoặc độc lập Shook và cộng sự (2003) cho rằng vai trò của các biến tâm lý, một trong số
đó là thái độ, đã được thành lập bởi các mô hình từ Bird, Shapero, và lý thuyết hành vi
hoạch định của AJzen
H2: Thái độ với khởi nghiệp có tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên trường Đại
học Kinh Tế HCM
2.2.3 Nhân tổ Cảm nhận năng lực bản thân với khởi nghiệp
Năng lực bản thân cảm nhận là nhận thức cá nhân về khả năng thực hiện một hoạt động
nào đó thông qua khả năng thiết lập, duy trì, kiêm soát nhận biên cơ hội (Linan & Chen, 2009) hay khả năng xử lý tình huông, phát triên ý tưởng (AutIo & cộng sự, 2001; Kickul
& Gundry, 2002) Những cá nhân cảm nhận lạc quan về năng lực của mình trước cũng sẽ lạc quan với tính kha thi khi thực hiện công việc (Krueger & cộng sự, 2000; Kickul & Gundry, 2002; Linan & Chen, 2009) Đôi với hoạt động khởi nghiệp cảm nhận về năng lực
bản thân thường liên quan đến nhận thức về việc tạo lập, duy trì, phát triển doanh nghiệp
hay khả năng kiêm soát doanh nghiệp cũng như nhận thức về cơ hội kinh doanh (Krueger
& cộng sự, 2000; Autio & cộng sự, 2001; Linan & Chen, 2009) Do đó, cá nhân có nhận
Trang 4thức lạc quan đối với khả năng bản thân đối với hoạt động khởi nghiệp cũng thường có
cảm nhận tốt về tính khả thi thực hiện hoạt động khởi nghiệp
H3: Cảm nhận năng lực bản thân có tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên trường
Đại học Kinh Tế HCM
2.2.4 Nhân tổ Cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp
Là mức độ cá nhân nhận thức về độ dễ đàng hay khó khăn; có bị kiểm soát, hạn chế
hay không khi thực hiện hành vi, là mức độ tự tin của một cá nhân về khả năng thực hiện
các hành vi (Ajzen, 2006) Trong nghiên cứu này là cảm nhận của cá nhân về khả năng
khởi nghiệp Luthje và Franke (2004); Haris và cộng sự (2016) đã chỉ ra yêu tố Nhận thức
tính khả thi có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
H4: Cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp có tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên
trường Đại học Kinh Tế HCM
2.2.5 Nhân tổ Chuẩn mực niềm tỉn
Chuẩn mực niềm tin là niềm tin cá nhân có tính chất xã hội chịu ảnh hưởng từ những
cá nhân xung quanh (Ajzen, 1978; Krueger & cộng sự, 2000) Chuẩn mực niềm tin là một
biến nhận thức, thê hiện khả năng gây ảnh hưởng của các nhóm ảnh hưởng tới quyết định
của cá nhân như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Đối với hoạt động khởi nghiệp, những
nhóm ảnh hưởng có thê là tác nhân ngăn trở hoặc thúc đây quyết tâm khởi nghiệp của cá
nhân Với ảnh hưởng của truyền thống Nho giáo trong xã hội như tại Việt Nam với đặc
điểm về văn hóa tập thể, các cá nhân thường xem xét ý kiến của người xung quanh trước
khi hành động (Nguyen & cộng sự, 2009) Do đó, chúng tôi suy đoán rằng sự ủng hộ từ
những người xung quanh có thể thúc đây ý định khởi nghiệp
H5: Cảm nhận về chuẩn mực niềm tin có tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên
trường Đại học Kinh Tế HCM
Kỳ vọng của bản thân với khởi nghiệp
Thái độ với khởi nghiệp
Ý định khởi nghiệp
Cảm nhận về năng lực bản thân với khởi
Cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp _————
Chuân mực niêm tin
Trang 5
3 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
“Từ cơ sở lý thuyết, nhĩm tác giả khái quát nên bảng hỏi gồm 25 thang đo với 03 thang
đo cho “Ý định khởi nghiệp” và 22 thang đo likert với 5 mức độ (1- Hồn tồn khơng đồng ý: 2 — Ít đồng ý; 3 —- Nửa đồng ý, nửa khơng đồng ý; 4— Đồng ý; 5 — Hịa tồn đồng ý) đại
diện cho 05 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Tiếp theo, nhĩm tác giả tiến hành khảo sát thử và kiêm định thang đo thì tất cá đều thỏa mãn, do vậy, khảo sát
chính thức được tiến hành với 400 phiếu phát ra một cách ngẵn nhiên tại trường ĐH Kinh
Tế HCM trong khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 12 năm 2020 Kết quả thu về 400
phiếu, trong đĩ chỉ cĩ 33 phiếu khơng hợp lệ và 367 phiếu hợp lệ Cỡ mẫu khảo sát đủ lớn
để đảm bảo độ tin cậy khi số phiếu hợp lệ lớn hơn 5 lần số câu hỏi trong bảng hỏi (Theo Hạr và cộng sự, 1998) Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý trên phan mém SPSS 20 va
được một số kết quả sau:”
Bảng 1: Bảng quy ước các khái niệm và thang đo nghiên cứu
1 Kỳ vọng của bản thân với khởi nghiệp (KV) KV1, KV2, KV3
2 | Thái độ với khởi nghiệp (TD) TD1, TD2, TD3, TD4
3 | Cảm nhận về năng lực bản thân với khởi | NL1, NL2, NL3, NL4, NL5 nghiệp (NL)_
4 _ | Cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp (KT) | KT1, KT2, KT3, KT4, KT5,
KT6
(Nguơn: Tác giả tơng hợp) Kết quả phân tích nhân tố khám pha EFA
Phương pháp phân tích EFA (Exploratory Factor Analysis) dùng để rút gọn một tập biến k quan sát thành một tập F (với F < k) các nhân tổ cĩ ý nghĩa hơn trên cơ sở mỗi quan
hệ tuyến tính của các nhân tố với các biến nguyên thủy (biến quan sát) Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu để đánh giá sơ bộ các thang đo
Trang 6Bảng 2 Phân tích nhân tổ khám pha EFA
Rotated Component Matrix?
Component
1 2 3 4 5
KT3 853 KTS 834 KT4 f75 KT1 133 KT2 702 NL1 f79 NL2 172 NL3 751 NL4 716 TD1 842 TD2 814 TD3 f71 TD4 514 KV2 834 KV1 821 KV3 780 NT4 816 NT3 813
Extraction Method: Principal Component Analysis
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization
a Rotation converged in 6 iterations
(Nguon: Két quả xử lý số liệu trên phân mêm SPSS)
Khi đó hàm hồi quy được viết lại như sau:
YD = Bo + BI*KT + B2*NL + B3*NT + B4*KV + B5*TD +
Tiếp theo nhóm tác giả tién hanh kiém dinh thang do đối với 25 thang đo đại diện cho 06 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Kinh tế TP Hồ Chí
Minh, kết quả như sau:
Phan tich Cronbach’s Alpha nham đánh giá giá trị hội tụ của các biến quan sát trong một thang đo Thang đo đạt yêu cầu khi hệ số Cronbach”s Alpha > 0.6 va tuong quan bién tông của các biên quan sát > 0.3.”
Trang 7Bảng 3: Bảng tóm tắt hệ số Cronbach?s Alpha của các khái niệm nghiên cứu
Trung bình | Phương sai Hệ số Hệ số
TT Biến quan sát thang đo của thang tương quan Cronbach’s
néu loai đo nêu loại với biên Alpha nêu
Nhân tổ 1: Kỳ vọng của bản thân với khởi nghiệp (KV) (œ=.803)
Nhân tô 2: Thái độ với khởi nghiệp (TD) (ơ=0.805)
Nhân tổ 3: Cảm nhận về năng lực bản thân với khởi nghiệp (NL) (ơ=.821)
Nhân tô 4: Cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp (KT) (ơ=.880)
Nhân tổ 5: Chuân mực niêm tin (NT) (ơ=.753)
Nhân tổ 6: Ý định khởi nghiệp (YD) (œ=.818)
(Nguôn: Kết quả xử lý số liệu trên phân mêm SPSS) Kết quả kiểm định cho thấy, hệ số Cronbach”s Alpha của cả 06 nhân tô đều lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng của các thang đo đều lớn hơn 0.3 nên không loại bỏ thêm biến nào, các thang đo là phù hợp đề có thê tiễn hành các phân tích tiếp theo
Trang 84, Thực trạng các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
đại học Kinh Tế HCM
Dưới đây là bảng thống kê mô tả thực trạng đánh giá của sinh viên đại học Kinh Tế
HCM về các nhân tô tác động tới ý định khởi nghiệp Kết quả cho thấy, các sinh viên đại
học Kinh Tế HCM có cảm nhận năng lực bản thân về khởi nghiệp ở mức cao, họ cũng có thái độ phản ứng tích cực với việc khởi nghiệp và kỳ vọng cao vào việc khởi nghiệp Nhưng họ lại cảm thấy việc khởi nghiệp khó khả thi vì các tác động từ phía nhà trường còn
ở mức thấp Điều này phản ánh tốt thực tế giáo dục đại học Việt Nam nói chung và đại học
Kinh Tế HCM nói riêng khi mà nội dung các chương trình đào tạo còn năng tính lý thuyết, phương pháp giảng dạy cô điên, thiếu môi trường hỗ trợ khởi nghiệp
Bảng 4 Thống kê mô tả yếu tổ tác động ý định khởi nghiệp
N Minimum | Maximum Mean Std Deviation
(Nguôn: Kết quả xử lý số liéu trén phan mém SPSS)
Đề đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại
học Kinh Tế HCM, tác giả tiến hành phân tích sự phụ thuộc của “Ý định khởi nghiệp” của
sinh viên nhà trường vào các biến độc lập đã nêu Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tính
gia tri cua bién phụ thuộc và các biến độc lập trong mô hình được theo giá trị trung bình
đã tính đến trọng số của các quan sát (factor score) Két qua phan tich héi quy duoc thé
hiện như sau:
Bảng 5: Hệ số ý nghĩa mô hình
Model R R Square Adjusted R Square Std Error of the Durbin-Watson
Estimate
1 7492 .060 .554 .44280 1.832
(Nguôn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mêm SPSS)
Trang 9Kết quả hệ số ý nghãi mô hình cho thấy hệ số xác định R? = 0.560, điều này nói lên độ
thích hợp của mô hình đạt 0.560 Đề kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy tông thê,
cần xem xét giá trị thống kê F trong bảng phân tích phương sai ANOVA
Bảng 6: Kết quả phân tích phương sai ANOVA
Model Sum of Squares df Mean Square F Sig
Regression 90.241 5 18.048 92.050 000°
1 Residual 70.782 361 196
Total 161.023 366
(Nguôn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mêm SPSS)
Đo lường đa cộng tuyến được thực hiện, kết quả cho thấy hệ số phóng đại phương sai (VIF) có giá trị đạt yêu cầu (VIF < 2.0) Cụ thể, hệ số VIF của các biến độc lập trong mô
hình dao động từ giá trị 1.282 đến 1.469 < 2.0 Vì vậy, mô hình hồi quy tuyến tính bội
không có hiện tượng đa cộng tuyến, mỗi quan hệ giữa các biến độc lập không ảnh hưởng
đến kết quả giải thích của mô hình
Sau khi tiền hành phân tích hồi quy tuyến tính trên phần mềm SPSS 20, ta có bảng kết
quả các yêu tô ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệm sinh viên đại học Kinh Tê HCM như sau:
Bang 7 Kết quả phân tích hồi quy đa biến
Model Unstandardized Coefficients | Standardized t Sig Collinearity Statistics
Coefficients
B Std Error Beta Tolerance VIF
(Constant) 230 182 1.264 207
TD 088 038 094 2.291 023 716 1.396
NL 306 044 296 6.934 000 670 1.493 ' KT 309 042 305 7.295 000 695 1.439
NT 281 041 291 6.887 000 681 1.469
KV -.012 .029 -.017 -.429 668 780 1.282
(Nguôn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mêm SPSS) Phân tích hồi quy, kết quả thống kê cho thấy các hệ số hồi quy chuân hóa của phương
trình hồi quy đều khác 0 và Sig <0.05 chứng tỏ các biến độc lập: cảm nhận về tính khả thi
khởi nghiệp (KT), cảm nhân về năng lực bản thân với khởi nghiệp (NL), thái độ với khởi
Trang 10nghiép (TD), chuan muc niém tin (NT) Riéng hé s6 héi quy riêng đứng trước biến kì vọng bản thân với khởi nghiệp có giá trị sig = 0.209> 0.05 nên biến này không có ảnh hưởng có
ý nghĩa thống kê đến ý định khởi nghiệp
Từ kết quả phân tích hồi quy ta có:
YD = 0.230+ 0.088*TD + 0.306*NL + 0.309*KT + 0.281*NT
Theo Nguyễn Đình Tho (2011) néu ching ta ding hé s6 héi quy chua chuan hoa thì chúng ta khó có thể so sánh mức độ tác động của các biến độc lap vi thang đo lường chúng
thường khác nhau Vì vậy, chúng ta phải sử dụng trọng số hồi quy B chuẩn hóa để có những
so sánh chính xác hơn So sánh giá trị của hệ số chuân hóa ở cột Beta cho thay: Mức độ tác động mạnh nhất là yếu t6 thái độ với khởi nghiệp, và thấp nhất là yêu tố thái độ với khởi
nghiệp.”
5 Kết luận
Kết quả cho thấy cả 5 yếu tố trong mô hình lý thuyết đều có ảnh hướng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học Kinh Tế HCM năng lực bản thân, thái độ khởi nghiệp, tính
khả thi và niềm tin
6 Tài liệu tham khảo
Trương, Ð T., & Nguyễn, T T L (2019) Một số nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên
Oviatt, B M., & McDougall, P P (2005) Defining international entrepreneurship and modeling the speed of internationalization Entrepreneurship theory and practice, 29(5),
537-553
Lee, G., Elwood, F., McNally, J Weiszmann, J., Lindstrom, M., Amaral, K., &
Chen, J L (2002) T0070907, a selective ligand for peroxisome proliferator-activated receptor y, functions as an antagonist of biochemical and cellular activities Journal of Biological Chemistry, 277(22), 19649-19657
Lee, G., Elwood, F., McNally, J Weiszmann, J., Lindstrom, M., Amaral, K., &
Chen, J L (2002) T0070907, a selective ligand for peroxisome proliferator-activated receptor y, functions as an antagonist of biochemical and cellular activities Journal of Biological Chemistry, 277(22), 19649-19657
Lương, N M (2019) Thực trạng một số nhân tố tác động đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.