1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở ký túc xá học viện báo chí và tuyên truyền hiện nay

103 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở ký túc xá học viện báo chí và tuyên truyền hiện nay
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 530,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là gốc rễ của sự phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, trong đó đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt chú trọng đến chất lượng, hiệu quả ý thức tự học của sinh viên là động lực đẩy nhanh quá trình đào tạo đi vào đúng bản chất của nó: biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người học. Đối với sinh viên bậc đại học, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập. Nhưng so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của sinh viên có nhiều điểm khác.Trước hết hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng là quá trình nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí tuệ của nhân loại. Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn năng lực cao. Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp. Vốn học vấn tiếp thu được trong thời kỳ này hết sức quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu. Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông thì hoạt động học tập của sinh viên mang tính tự giác, tích cực chủ động hơn. Sinh viên ngoài giờ lên lớp theo chương trình chính khoá, họ còn phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu tham khảo để tự phát triển kiến thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên để đào sâu kiến thức chuyên môn. Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững vàng trong công việc của mình. Vì vậy, ý thức tự học của sinh viên là một mắt xích, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, sự thành công của đào tạo. Phẩm chất và năng lực của người sinh viên được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo, trong qua trình tự học tập và rèn luyện. Tính độc lập, sáng tạo, năng động, chính xác trong tư duy và thực tiễn nghề nghiệp là phẩm chất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tập của người sinh viên. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với ý thức tự học của sinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại trường đại học và có thể xem là điều kiện tiên quyết quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình đào tạo trong nhà trường. Là một trường trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền được giao nhiệm vụ đào tạo , bồi dưỡng cán bộ báo chí và truyền thông, xuất bản, giảng viên lý luận chính trị cho các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và tỉnh, thành phố trên khắp cả nước, cũng như cho các trường đại học, cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân. Công tác đào tạo của Học viện không chỉ trang bị cho sinh viên kiến thức chuyên ngành mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, làm việc độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân cho mỗi sinh viên. Nâng cao ý thức tự học của sinh viên Học viện nói chung, sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện nói riêng vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo. Nâng cao ý thức tự học cho sinh viên nội trú ở Ký túc xá nhằm tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, sinh viên và toàn bộ lực lượng giáo dục trong nhà trường. Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những năm qua Học viện cũng như Phòng quản lý Ký túc xá luôn quan tâm đến hoạt động tự học của học sinh. Tuy nhiên, chất lượng tự học của sinh viên nội trú còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của ngành. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều sinh viên nội trú chưa có kỹ năng và phương pháp tự học tập khoa học, hợp lý. Trong khi đó, việc đổi mới phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên còn chậm, chủ yếu vẫn là truyền thụ kiến thức trong chương trình, chưa tập trung nhiều đến đổi mới phương pháp dạy học. Công tác quản lý hoạt động tự học của chủ yếu vẫn là quản lý hành chính, chưa thực sự có hình thức tổ chức và biện pháp quản lý phù hợp. Từ những tồn tại trên, việc tìm ra các biện pháp để nâng cao chất lượng ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện là nhiệm vụ hết sức cấp thiết đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay. Do đó tôi chọn đề tài: Nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong quá trình hội nhậpquốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, làgốc rễ của sự phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển

Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong xu thế phát triển của nền kinh tế trithức, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, trong

đó đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt chú trọng đến chất lượng, hiệu quả

ý thức tự học của sinh viên là động lực đẩy nhanh quá trình đào tạo đi vàođúng bản chất của nó: biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo củangười học

Đối với sinh viên bậc đại học, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập.Nhưng so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của sinhviên có nhiều điểm khác.Trước hết hoạt động học tập của học sinh, sinh viêncũng là quá trình nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trítuệ của nhân loại Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập, sinhviên không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động nhận thứcmang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ởmức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn nănglực cao Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn gọi là hoạt động học tậpnghề nghiệp Vốn học vấn tiếp thu được trong thời kỳ này hết sức quan trọng

vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và

là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu Một điều khác nữa so vớihoạt động học tập của học sinh phổ thông thì hoạt động học tập của sinh viênmang tính tự giác, tích cực chủ động hơn Sinh viên ngoài giờ lên lớp theochương trình chính khoá, họ còn phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu thamkhảo để tự phát triển kiến thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên

để đào sâu kiến thức chuyên môn Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững

Trang 2

vàng trong công việc của mình Vì vậy, ý thức tự học của sinh viên là mộtmắt xích, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, sự thành công của đào tạo.Phẩm chất và năng lực của người sinh viên được hình thành và phát triểntrong quá trình đào tạo, trong qua trình tự học tập và rèn luyện Tính độc lập,sáng tạo, năng động, chính xác trong tư duy và thực tiễn nghề nghiệp là phẩmchất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tậpcủa người sinh viên Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với ý thức tự học củasinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại trường đại học và có thể xem làđiều kiện tiên quyết quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình đào tạotrong nhà trường.

Là một trường trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,Học viện Báo chí và Tuyên truyền được giao nhiệm vụ đào tạo , bồi dưỡngcán bộ báo chí và truyền thông, xuất bản, giảng viên lý luận chính trị cho các

bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và tỉnh, thành phố trên khắp cả nước,cũng như cho các trường đại học, cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân.Công tác đào tạo của Học viện không chỉ trang bị cho sinh viên kiến thứcchuyên ngành mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ,làm việc độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hànhnội quy, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bảnthân cho mỗi sinh viên

Nâng cao ý thức tự học của sinh viên Học viện nói chung, sinh viên nộitrú ở Ký túc xá Học viện nói riêng vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nângcao chất lượng đào tạo Nâng cao ý thức tự học cho sinh viên nội trú ở Ký túc

xá nhằm tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng,hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, sinh viên và toàn bộ lực lượng giáo dụctrong nhà trường Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những nămqua Học viện cũng như Phòng quản lý Ký túc xá luôn quan tâm đến hoạt động

tự học của học sinh Tuy nhiên, chất lượng tự học của sinh viên nội trú cònhạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của ngành

Trang 3

Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều sinh viên nội trú chưa có kỹ năng vàphương pháp tự học tập khoa học, hợp lý Trong khi đó, việc đổi mới phươngpháp dạy học của một bộ phận giáo viên còn chậm, chủ yếu vẫn là truyền thụkiến thức trong chương trình, chưa tập trung nhiều đến đổi mới phương phápdạy học Công tác quản lý hoạt động tự học của chủ yếu vẫn là quản lý hànhchính, chưa thực sự có hình thức tổ chức và biện pháp quản lý phù hợp.

Từ những tồn tại trên, việc tìm ra các biện pháp để nâng cao chất lượng

ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện là nhiệm vụ hết sứccấp thiết đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay

Do đó tôi chọn đề tài: "Nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay”.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu thực sự được phátđộng nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời(1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm

gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người từng nói: “còn sống thì

còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói

tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập Nhữnglời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chính tấmgương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyêngiá trị

- Nguyễn Cảnh Toàn (1995), Luận bàn và kinh nghiệm về tự học, Nxb

Giáo dục, Hà Nội Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đãđược nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lýhọc, giáo dục học học, phương pháp dạy học bộ môn GS,TSKH NguyễnCảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một giáo viêntrung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thànhnhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn cónhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho

Trang 4

rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cáchcủa mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tựnghiên cứu, tự giáo dục” và "con đường tự học" đã gần như theo ông suốtcuộc đời, con đường do ông xây dựng nên bằng ý chí phi thường và một tìnhyêu khoa học lớn lao Một trong những thành công ông tâm đắc nhất trong

"phương pháp sư phạm" và "khoa học sư phạm" của mình chính là biết khơigợi cho học sinh tính tò mò khoa học, tính chủ động tìm học, qua đó mà rènluyện tư duy ngày càng thêm sắc sảo

- Cao Xuân Hạo (2001), Bàn về chuyện tự học, Tạp chí Kiến thức ngày

nay, số 396-2001, đã có những phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc về “tựhọc” Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫycực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứanhững lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết Cho nên, Người trí thứcchân chính không hẳn là người biết nhiều Điều quan trọng hơn là họ biết rõmình biết cái gì, và không biết cái gì Biết rõ mình không biết cái gì khó gấpngàn lần biết rõ mình biết cái gì Và điều đó chính là thước đo chính xác nhấtcủa cái gọi là “trình độ văn hoá” Người tự học không nên tự ti, chỉ nên cảnhgiác đối với bản thân Không có một người thầy để kiểm tra mình, để thườngxuyên nhắc nhở cho mình nhớ rằng mình chưa trở thành vĩ nhân trong lĩnhvực của mình và không biết gì trong các lĩnh vực khác, thì chính mình phảithường xuyên làm việc đó thay cho người thầy Tác giả chỉ ra, ở nhà trường,

dù chỉ nói đến môn học chính, người đi học chỉ học một tuần mươi giờ làcùng Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫnchứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệthêm với thực tế ) nhiều gấp mấy 2-5 lần so với thì giờ trên lớp Cho nênngay đối với người học chính quy, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớpnghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận, nghĩa là giữ vai trò chủđộng trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã đượchọc từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính

Trang 5

thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học tròcủa mình nữa.

- Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, Nxb

Giáo dục, Hà Nội Xu hướng chung của phương pháp dạy học hiện nay là đổi

mới theo quan điểm “lấy người học làm trung tâm” Theo phương pháp dạy

học này, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi íchcủa sinh viên nhằm mục đích phát triển ở sinh viên kỹ năng và năng lực độclập học tập, giải quyết các vấn đề… Vai trò của giáo viên là tạo ra những tìnhhuống để phát triển vấn đề, giúp sinh viên nhận biết vấn đề, lập giả thuyết,làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận Bên cạnh việc thayđổi phương pháp giảng dạy thì các trường đại học, cao đẳng ở nước ta cũngđang dần chuyển đổi sang phương thức đào tạo tín chỉ, điều này đòi hỏi sinhviên phải nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong học tập Việc thay đổiphương thức đào tạo và phương pháp giảng dạy mới đã làm cho không ít sinhviên cảm thấy khó có thể thích nghi kịp thời Bên cạnh đó, ý thức chủ độngsắp xếp, tổ chức việc học và tự học là yếu tố rất quan trọng nhưng vẫn cònchưa được sinh viên chú ý đúng mức Hậu quả của việc chọn lựa phươngpháp học chưa đúng đắn là lãng phí thời gian bản thân, thành tích học tập kémdẫn đến tâm lý chán nản, thất vọng và bất mãn Vì vậy, ngay khi bước vàongưỡng cửa đại học, cao đẳng thì sinh viên nên được hướng dẫn để trang bịcho mình những kiến thức để có thể học và tự học một cách hiệu quả

Quyển sách “Tự học của sinh viên” trang bị thêm nhiều kiến thức bổ ích về

kỹ năng tự học cho sinh viên, bao gồm 3 chương: Chương 1 Hoạt động học tập; Chương 2 Khái quát chung về hoạt động học tập – tự học của sinh viên;

Chương 3 Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới hoạt động học tập – tự học của

sinh viên Thông qua quyển sách này sinh viên sẽ có cái nhìn rõ nét hơn vềhoạt động học tập – tự học dưới góc độ Tâm lý học, từ đó làm cơ sở địnhhướng đúng đắn trong học tập của bản thân

- Diệp Thị Thanh và Đoàn Thanh Hà (2009), Các phương pháp học tập

Trang 6

của sinh viên ở đại học, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 1-10/2009 Tự học

và học theo nhóm là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viênđang học tập tại các trường đại học Tổ chức hoạt động tự học và học theonhóm một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệmkhông chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường Bài viết

đề cập đến phương pháp tự học và học theo nhóm giữ vai trò cầu nối giữa họctập và nghiên cứu khoa học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đàotạo Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra đượcnăng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quátrình tự giáo dục Luật giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại họcphải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiệncho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, thamgia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” Như vậy, phương pháp dạy và học ởcác trường đại học, cần thực hiện theo các định hướng: Bồi dưỡng năng lực tựhọc, tự nghiên cứu; và học theo nhóm; tạo điều kiện cho người học phát triển

tư duy sáng tạo; rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng

Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tậptại các trường đại học Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học,

có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sựnghiệp đào tạo của nhà trường Tác giả đi sâu phân tích về tự học và học theonhóm, mối qian hệ giữa hai vấn đề này để đưa ra các biện pháp cụ thể chosinh viên tự học một cách tích cực và hiệu quả

- Nguyễn Thị Cẩm Vân (2011), Phát huy tính tích cực, chủ động của

sinh viên qua hoạt động tự định hướng học tập, Tạp chí Đại học Sài Gòn,

Quyển số 6 – tháng 6/2011 Cùng với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, sự pháttriển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự gia tăng gấp bội của tri thức đòihỏi giáo dục đào tạo phải đổi mới nội dung dạy học và phương pháp dạy học

để đào tạo những con người có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng nhu cầucủa thực tiễn Đại hội Đảng toàn quốc lần X đã nêu rõ: “Đổi mới tư duy giáo

Trang 7

dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương phápđến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lí để tạo được chuyển biến cơbản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dụccủa khu vực và thế giới Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy

và học, đổi mới phương pháp dạy và học” Bản chất của việc đổi mới phươngpháp dạy học là chuyển từ các phương pháp truyền thụ thông tin một chiềusang các phương pháp dạy học tích cực: tổ chức, điều khiển để người học tựmình tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức thông qua những hành động vàthao tác của họ Quá trình đó diễn ra theo xu hướng tích cực hoá hoạt độngnhận thức, gia tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Cácphương pháp dạy học tích cực định hướng cho việc tổ chức quá trình tự học,quá trình cá nhân hoá và xã hội hoá việc học Thế nào là phương pháp dạyhọc tích cực? Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu phân tích việc đổi mới phươngpháp dạy học ở bậc đại học phải hướng tới những phương pháp dạy học nângcao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tậpnhằm đào tạo ra những con người năng động, độc lập trong xã hội Tự địnhhướng học tập là một phương pháp dạy học theo quan điểm hướng vào ngườihọc, tạo cho sinh viên những phẩm chất như tích cực, chủ động, độc lập, tựtin và có định hướng mục tiêu Hoạt động tự định hướng học tập cũng đòi hỏi

ở giảng viên năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức, quản lí để có thể hướngdẫn sinh viên học tập đạt mục tiêu giáo dục

- Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà (2012), Nâng cao tính chủ động

của sinh viên – giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng trong đào tạo theo học chế tín chỉ, Tạp chí Khoa học số 22b/2012 Đào tạo theo học chế

tính chỉ tuy được coi là phương thức đào tạo mới nhưng đã có lịch sử hàngtrăm năm và đã khẳng định ưu thế của nó tại nhiều trường đại học danh tiếngtrên thế giới Đối với các trường đại học ở Việt Nam, đào tạo theo học chế tínchỉ còn khá mới mẻ Hơn nữa các nguồn lực đảm bảo cho đào tạo theo họcchế tín chỉ còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc thực hiện còn gặp không ít khó

Trang 8

khăn, trở ngại Bản chất của phương thức đào tạo này là phát huy tính tíchcực, chủ động của sinh viên Bài nghiên cứu đề cập đến thực chất của đào tạotheo học chế tín chỉ, những ưu điểm và hạn chế của nó, thực trạng và giảipháp nâng cao tính chủ động của sinh viên Các số liệu nghiên cứu được thuthập từ 500 sinh viên các ngành đào tạo chính quy của Trường Đại học CầnThơ Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo ý kiến và kết quả nghiên cứu củacác chuyên gia và giảng viên ở một số trường đại học khác Kết quả nghiêncứu cho thấy vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo theo học chế tín chỉ là phảităng cường tính chủ động của sinh viên trong mọi khâu của quá trình đào tạo.Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạotheo học chế tín chỉ.

- Bài báo Tự học của sinh viên – yếu tố quan trọng để đổi mới phương

pháp giảng dạy, cập nhật trên trang web http://ajc.edu.vn/ ngày 20/12/2012

Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng sự hiểubiết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập khôngthể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học Thực tếgiảng dạy tại các trường đại học cho thấy, nếu sinh viên không chịu khó họctập, đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách học tập độc lậpthì các thầy giáo, cô giáo có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp

vụ vững vàng đến mấy chất lượng học tập cũng không thể cao Đặc biệt giaiđoạn hiện nay, xã hội đặt ra cho giáo dục và đào tạo ngày càng khắt khe, đòihỏi các trường đại học không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực thông thạo về lýthuyết mà còn phải biết vận dụng, ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễnđời sống Để đáp ứng yêu cầu đó, các trường đại học đã phát động đổi mớiphương pháp học tập đối với sinh viên Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hai giảipháp rất cần thiết nâng cao tính tự học cho sinh viên: một là, sinh viên cầnchủ động rèn luyện tính tự học; hai là, vai trò của thầy giáo, cô giáo trong việcrèn luyện tự học của sinh viên

- Phạm Văn Tuân (2013), Một số vấn đề lý luận và hoạt động về dạy tự

Trang 9

học tại Trường đại học Trà Vinh, Tạp chí Khoa học – Trường Đại học An

Giang, Số 01 (2013) Hoạt động học tập trong trường đại học của sinh viên làmột hoạt động phức tạp nhằm lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ nghềnghiệp để trở thành những chuyên gia giỏi trong một lĩnh vực nghề nghiệpnhất định Để đạt được kết quả này đòi hỏi sinh viên không chỉ học mà cònphải tích cực tự học Tự học được xem là hoạt động tự thân của sinh viên,nhưng hiệu quả tự học không chỉ phụ thuộc vào sự nỗ lực của sinh viên màcòn chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ hoạt động dạy tự học Trong trường đại học,dạy tự học là một thành phần quan trọng của dạy học, là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của giảng viên và của nhà trường Tổ chức dạy tự họchiệu quả góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên vàchất lượng đào tạo của nhà trường Tại Trường Đại học Trà Vinh, kể từ năm

2009 hầu hết các chương trình đào tạo bậc đại học và cao đẳng của nhàtrường chuyển sang đào tạo theo hình thức tín chỉ, điều này làm cho hoạtđộng dạy tự học của giảng viên và nhà trường dành cho sinh viên càng trở lêncần thiết và có ý nghĩa quan trọng Vậy hoạt động dạy tự học là gì? Đâu lànhững vấn đề giảng viên và nhà trường cần quan tâm thực hiện trong quátrình dạy tự học cho sinh viên? Hoạt động dạy tự học tại Trường Đại học TràVinh hiện nay được thực hiện như thế nào? Đâu là các yếu tố ảnh hưởng đếnthực trạng? Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày một số vấn đề lý luận về

tự học để đánh giá một số hoạt động dạy tự học tại Trường Đại học Trà Vinh.Kết quả nghiên cứu lý luận cho thấy để nâng cao tính tích cực và hiệu quả tựhọc của sinh viên, giảng viên và nhà trường cần quan tâm thực hiện nhiềuhoạt động dạy tự học khác nhau cho sinh viên Kết quả nghiên cứu thực tiễnhoạt động dạy tự học tại Trường Đại học Trà Vinh cho thấy giảng viên và nhàtrường đã quan tâm đến hoạt động dạy tự học cho sinh viên nhưng việc thựchiện chưa được triệt để Từ đó, tác giả đưa ra ba nội dung cần quan tâm trongdạy tự học và cách thức thực hiện, đó là: Hình thành ở sinh viên nhận thứcđúng đắn về hoạt động tự học; Hình thành ở sinh viên thái độ tích cực đối với

Trang 10

hoạt động tự học; và Dạy các kỹ năng tự học cho sinh viên Ba nội dung trongdạy tự học này có quan hệ mật thiết với nhau, là những yếu tố quan trọng giúpsinh viên thực hiện hoạt động tự học có hiệu quả Chính vì vậy, trong dạy tựhọc cho sinh viên, giảng viên và nhà trường cần quan tâm thực hiện tốt ba nộidung gắn với các cách thức thực hiện trên.

- Bài báo Phát huy khả năng tự học của sinh viên trong đào tạo theo hệ

thống tín chỉ ở các trường đại học hiện nay, cập nhất trên trang web của

Trường Cao đẳng truyền hình http://ctv.vtv.vn/ ngày 30/9/2013 Hiện nay việcđào tạo theo hệ thống tín chỉ đang trở thành một xu thế tất yếu mà các trườngđại học phải hướng tới và triển khai thực hiện Với xu thế chung đó, đào tạotheo hệ thống tín chỉ ngày càng được thực hiện rộng rãi ở các trường đại họctrong cả nước Bản chất của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cá thể hóa việchọc tập trong một nền giáo dục đại học cho số đông Các triết lý làm nền tảngcho đào tạo theo tín chỉ là “giáo dục hướng về người học” và “giáo dục đạihọc đại chúng” Các triết lý này được vận dụng nhuần nhuyễn trong nền giáodục đại học của Hoa Kỳ, nơi sinh ra hệ thống đào tạo theo tín chỉ Nó ra đờiđầu tiên ở đại học Havard cuối thế kỷ XIX Các đặc điểm quan trọng của đàotạo theo hệ thống tín chỉ quy định phương pháp dạy - học và đánh giá thànhquả học tập Do mục tiêu cá thể hóa việc học tập, đào tạo theo tín chỉ có đặcđiểm quan trọng nhất là làm cho mỗi người học có thể học theo năng lực vàđiều kiện của riêng mình Ðặc điểm này buộc người học phải sử dụng, khaithác và phát huy được tính chủ động tự học của mình, và việc học như thếđồng thời giúp người học biết cách học để tự học – tự hoàn thiện kiến thức.Mặt khác, chúng ta đang sống trong nền văn minh tri thức của thế kỷ XXI, thế

kỷ mà sự tiến bộ không ngừng của khoa học – công nghệ với những bướcnhảy vượt bậc một năm bằng hàng thế kỷ trước đó Để không tụt hậu, kịp thờinắm bắt những tri thức khoa học – công nghệ tiên tiến, mỗi con người phảikhông ngừng học hỏi, vươn lên tự hoàn thiện mình Và hiện nay, trong côngcuộc xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam thì việc đổi mới và nâng cao chất lượng

Trang 11

giáo dục là bài toán mà lâu nay các nhà quản lí, các nhà nghiên cứu đang đitìm lời giải Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp.

Về cách học ở các trường đại học, khuyến khích sinh viên lấy tự học là chính,học tập một cách chủ động và sáng tạo Trước những yêu cầu đổi mới toàndiện nền giáo dục ở bậc đại học thì việc đào tạo theo hình thức tín chỉ làphương pháp đào tạo có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyềnthống Hiện nay, việc áp dụng hình thức này sao cho phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh của mỗi trường là vấn đề lớn và khó đối với cán bộ quản lý, nhữngngười đang giảng dạy và cả sinh viên Tuy có những bất cập nhưng việc lấysinh viên làm trọng tâm để phát huy khả năng tự học của sinh viên theochương trình đạo theo tín chỉ thì có thể nói rằng việc học theo tín chỉ là mộttrong những biện pháp mang lại hiệu quả giúp cho sinh viên phát huy khảnăng tự học của mình Để lý giải cho vấn đề này, đồng thời cũng đưa ra

những quan điểm phát huy khả năng tự học của sinh viên, đó là: thứ nhất, đào tạo theo hệ thống tín chỉ với việc phát huy khả năng tự học của sinh viên; thứ

hai, đào tạo theo hệ thống tín chỉ xác định lấy người học làm trung tâm trong

việc phát huy tính tự học của mình; thứ ba, đào tạo theo hệ thống tín chỉ buộc

người học phải theo dõi nắm bắt lộ trình tiến độ học tập, quyết định cách thứchọc tập để phát huy khả năng tự học của mình

- Bài báo Giải pháp giúp sinh viên nâng cao năng lực tự học, cập nhật

trên trang web http://giaoducthoidai.vn/ ngày 5/3/2014 Giảng viên Phạm ThịThanh Hằng - Trường đại học Đồng Tháp chia đưa ra những giải pháp bồidưỡng năng lực tự học của sinh viên năm thứ nhất xuất phát từ cả phía sinh

viên và giảng viên Trước hết, yêu cầu với sinh viên: Để nâng cao năng lực tự

học sinh viên cần tin tưởng vào khả năng tự học của mình; đồng thời phảiphát huy tối đa nội lực và tận dụng triệt để các yếu tố khách quan, nhất là sựhướng dẫn của giáo viên Sinh viên cần cần xác định được mục đích, động cơ,nhu cầu học tập; xây dựng thời gian biểu hợp lý giữa các môn học, địa điểm,

Trang 12

thời gian, hình thức tự học Có thể có sự điều chỉnh thời khoá biểu trong quátrình tự học nhưng phải có ý chí hoàn thành thời gian biểu đã đặt ra Cóphương pháp tự học một cách khoa học và hợp lý: Biết cách đọc tài liệu để

phát hiện bản chất của vấn đề, biết cách tóm tắt và ghi chép Thứ hai, đối với

giảng viên: muốn khả năng tự học của sinh viên được bồi dưỡng và phát triển,ngoài nhân tố nội lực của chính sinh viên, còn có một nhân tố quan trọng từ

sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của giảng viên thông qua giảng dạy trực tiếptrên lớp, qua trò chuyện hay sử dụng công nghệ thông tin, tổ chức các chuyên

đề ngoại khóa, kết hợp hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học vớithực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghề nghiệp tương lai của sinh viên,…

- Nguyễn Thanh Thủy (2016), Hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên

– nhu cầu thiết yếu trong đào tạo ngành sư phạm, Tạp chí khoa học – Đại học

Đồng Nai, Số 03/2016 Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, đặc biệt làtrong đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì hoạt động tự học của sinh viênđược đặt ra và trở thành một vấn đề then chốt cho hình thức đào tạo này.Chính việc tự học của sinh viên là chìa khóa cho sự thành công không chỉ đốivới bản thân họ mà còn góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc đổi mớiphương phức đào tạo cho các trường đại học như hiện nay Do đó việc tự học

sẽ trở thành mục tiêu, động lực cho phương thức đào tạo hiện nay trong cáctrường đại học, cao đẳng để có thể đào tạo ra những con người lao động tựchủ, sáng tạo, năng động, độc lập để có khả năng học tập liên tục, học suốtđời Tự học chính là quá trình con người tự giác, tích cực tiếp thu hệ thống trithức, những kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ,nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theohướng ngày càng hoàn thiện Theo quan niệm này, người thầy được xem như

là chuyên gia của việc học, có nghĩa là người thầy phải biết rèn luyện khảnăng tự học cho sinh viên Để làm được điều đó, trước tiên chính bản thânngười thầy giáo phải có kỹ năng tự học Vì vậy bồi dưỡng kỹ năng tự học chosinh viên sư phạm là một việc cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong đào tạo Bài

Trang 13

khoa học này đề cập vài nét những vấn đề lý luận về tự học, tự bồi dưỡng kỹnăng tự học và đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tự học cho sinhviên sư phạm.

Nhìn chung, các công trình khoa học đã đề cập và luận giải nhiều khíacạnh của vấn đề tự học, phương pháp tự học Các công trình đã khẳng địnhvai trò của tự học, phương pháp tự học đối với việc hình thành, phát triển,hoàn thiện tri thức và nhân cách của sinh viên Tuy nhiên, chưa có công trìnhnào đề cập đến vấn tự học của sinh viên nội trú ở Học viện Báo chí và Tuyên

truyền Vì vậy, tác giả lừa chọn chủ đề Nâng cao ý thức tự học của sinh viên

nội trú ở Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm đề tài nghiên cứu.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

*Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận về ý thức tự học của sinh viên nội trú ởtrường đại học và thực trạng ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xáHọc viện Báo chí và Tuyên truyền, đề tài đề xuất các giải pháp nâng cao ýthức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện hiện nay

*Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận về ý thức tự học của sinh viên nội trú ở trườngđại học

- Khảo sát, đánh giá thực trạng ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Kýtúc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Đề xuất các giải pháp naagn cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở

Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng yêu cầu xây dựng vàphát triển Học viện trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ý thức tự học của sinh viên nội trú.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu ý thức tự học của

sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên giai đoạn từ 2010

Trang 14

đến nay.

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng trong quátrình triển khai luận án: Phương pháp Thống kê; Phân tích - Tổng hợp;phương pháp chuyên gia, phương pháp so sánh…

6 Đóng góp mới của đề tài

Đưa ra giải pháp đổi nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Kýtúc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa về mặt lý luận ý thức tự học của sinh

viên nội trú, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoahọc để có đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức tư học của sinh viên nội trú ở

Ký túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho sinh

viên nói chung và sinh viên nội trú nói riêng, cho các trường đại học khác cósinh viên ở khu nội trú Đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáodục

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungluận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ý thức tự học của sinh viên nội trú ở trườngđại học

Chương 2: Thực trạng ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký túc xáHọc viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay

Chương 3: Giải pháp nâng cao ý thức tự học của sinh viên nội trú ở Ký

Trang 15

túc xá Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay.

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Khái niệm sinh viên nội trú

Sinh viên

Điều 83 Luật giáo dục năm 2005 quy định: Người học là người đanghọc tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Người học baogồm:

a) Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non;

b) Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạynghề, Trường trung cấp, Trường dự bị đại học;

c) Sinh viên của Trường Cao đẳng, Trường đại học;

d) Học viên của cơ sở đào tạo thạc sỹ;

đ) Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sỹ;

e) Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên

Với các căn cứ trên, sinh viên là người đang học tại các Trường ĐH vàcao đẳng1 sinh viên là một trong các thành tố quan trọng, là yếu tố trung tâmcủa quá trình giáo dục2

Như vậy, Sinh viên là những người học trong các trường đại học và cao

đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân Sinh viên là nhân vật trung tâm trongnhà trường, được nhà trường bảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền vànghĩa vụ trong quá trình học tập đó Sinh viên là:

- Những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông

1 Vụ công tác lập pháp (2005), Luật giáo dục, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.116.

2 Vụ công tác lập pháp (2005), Luật giáo dục, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.19.

Trang 17

- Người đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào Trường đại học và đỗ vàoTrường.

- Người thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 đến 25 tuổi

- Người chưa có nghề nghiệp, chưa có việc làm xác định, do đó còn lệthuộc gia đình về kinh tế

- Người là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ cáctầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệpchuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ

Sinh viên nội trú

Sinh viên nội trú là sinh viên đang học ở các trường đại học, cao đẳngtrong hệ thống giáo dục quốc dân và hiện đang ở trong khu nội trú/ký túc xá(sau đây thống nhất gọi là ký túc xá) của Trường

Hiện nay, đa số các trường đại học, cao đẳng đều có ký túc xá dành chosinh viên, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có nhu cầu và nguyện vọng ởnội trú Hàng năm, ký túc xá của Trường thực hiện việc tiếp nhận sinh viênvào ở nội trú theo đúng quy trình đã qui định Trong trường hợp sinh viênđăng ký ở nội trú nếu số người có nguyện vọng vào ở nội trú lớn hơn khảnăng tiếp nhận của khu nội trú thì thứ tự ưu tiên theo đối tượng như sau:

1 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động, thươngbinh bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, sinh viên khuyếttật

2 Con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởngchính sách thương binh, con của người có công

3 Sinh viên có hộ khẩu thường trú tại vùng cao, vùng có điều kiện kinh

tế xã hội đặc biệt khó khăn

4 Người cha hoặc người mẹ là dân tộc thiểu số

5 Con mồ côi cả cha lẫn mẹ

Trang 18

6 Sinh viên là con hộ nghèo, cận nghèo theo quy định hiện hành củanhà nước.

7 Sinh viên nữ

8 Sinh viên tích cực tham gia các hoạt động do Nhà trường, ĐoànTNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên, khu nội trú hoặc các tổ chức xã hội tổchức3

Sinh viên nội trú phải chịu sự quản lý của Nhà trường, của Ký túc xá và

có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách pháp luật củaNhà nước và Quy định công tác sinh viên nội trú hiện hành của Nhà trường

1.2 Ý thức tự học của sinh viên nội trú

1.2.1 Khái niệm Ý thức

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả củaquá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội Ý thức có hai nguồn gốc lànguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thểhiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùngmối quan hệ của con người với thế giới khách quan, trong đó thế giới kháchquan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sángtạo; Nguồn gốc xã hội của ý thức: ý thức không thể tồn tại ngoài não người;tuy nhiên, ý thức không phải do não sinh ra Não chỉ là cơ quan thực hiệnchức năng phản ánh Để có ý thức phải có não người và thế giới khách quan.Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngôn ngữ

Theo C.Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vàotrong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”4 Về bản chất, ý thức là

sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Ý thức là hình ảnhcủa sự vật được thực hiện ở trong bộ óc con người Nhưng đây là sự phản ánhnăng động, sáng tạo; sự phản ánh có chọn lọc, phản ánh cái cơ bản nhất mà

3 Thông tư số 27/2011/TT-BGDĐT ngày 28/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc ban hành

Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.35.

Trang 19

con người quan tâm; là sự phản ánh không nguyên xi mà còn được cải biếntrong bộ óc con người Phán ánh của ý thức có thể là phản ánh vượt trướchiện thức, có thể dự báo được xu hướng biến đổi của thực tiễn; ý thức là ýthức của con người nhưng con người là con người hiện thực của một xã hội

cụ thể

Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm: ý thức là sự phản ánh thếgiới xung quanh vào não bộ con người, là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan Là hình ảnh chủ quan vì nó không có tính vật chất, nó là hình ảnhtinh thần “ý thức chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc người vàđược cải biến đi ở trong đó” Mà sự phản ánh ý thức là sự phản ánh chủ động,tích cực, có mục đích, thông qua lao động, phản ánh ở đây là phản ánh sangtạo khác tâm lý động vật Ý thức phản ánh thế giới khách quan dưới dạng quyluật, bản chất vì thế có thể giúp con người chi phối sự phát triển của sinhviên

1.2.2 Tự học và các thành tố của hoạt động tự học

Khái niệm tự học

Tự học là một nội dung vừa có tính truyền thống vừa có tính thời sựphổ biến không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của nhiều nước Ngay từ xaxưa, Khổng Tử đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗicon người Theo ông học không chỉ ở trường mà còn học ở bạn bè, học ở mọinơi, học ở mọi người bằng ý chí và nghị lực và niềm say mê là cách tự họccủa Khổng Tử

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương lớn của tự học, Người đã đến vớichủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học và sự tự học của Người gắn chặtvới mục tiêu lý tưởng mà Người đã vạch ra Đặc biệt, Người rất chú trọng sựthực hành trong tự học Người dạy “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tiễn Không ai có thể tự chomình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta

Trang 20

ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịpnhân dân” Người cho rằng tự học chính là sự nổ lực của bản thân người học,

sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tựđộng học tập

Có nhiều quan niệm về tự học: “Tự học là tự đặt mình vào tình huốnghọc, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, vào vị trí củangười tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra chomình, nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xâydựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống, thực nghiệm các giảipháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm ra, tự học thuộc quá trình cánhân hóa việc học”5; “Tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạocủa giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thông qua cáchoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh phán đoán …) và cảcác hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng học tập) Tựhọc gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người học để vượt quachướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bảnthân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệmnày thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học”6; Trong cuốnsách “Tự học như thế nào”, Rubakin cho rằng tự học là một quá trình so sánhđối chiếu và đáp, đó là sự so sánh giữa lý thuyết và thực hành, giữa sách vở

và thực tế cuộc sống, từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sángtạo.Trong quá trình tự học con người không hoàn toàn phụ thuộc vào cuộcsống mà cần phải cải tạo cuộc sống sao cho ngày càng cao hơn; Nguyễn CảnhToàn, người đã dành nhiều tâm huyết vào vấn đề tự học, ông đã đưa ra mộtquan niệm về tự học có thể xem hoàn chỉnh “Tự học là tự mình dùng các giácquan để thu thập thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng

5 Vụ công tác lập pháp (2005), Luật giáo dục, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.15.

6 Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Như Ý (1998), Tự học- tự đào tạo, tư tưởng chiến lược phát triển của Giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Trang 21

công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinhquan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào đó,một kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồngrồi biến chúng thành sở hữu của mình Phát minh ra cái mới cũng có thể coi làhình thức tự học cao cấp”7.

Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự độclập và tích cực, tự giác ở mức độ cao Tự học là quá trình mà trong đó chủ thểngười học tự biến đổi mình, tự biến đổi các giá trị của mình, tự làm phongphú giá trị của mình bằng các thao tác tư duy và ý chí, nghị lực và sự say mêhọc tập của cá nhân Cho dù tiếp cận dưới cách thức nào thì cũng có thể hiểurằng tự học là quá trình bản thân người học tích cực, độc lập, tự giác chiếmlĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng động tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệutham khảo bằng những phương pháp phù hợp trên cơ sở hướng dẫn của giảngviên Như vậy, vấn đề tự học cần có sự đổi mới về bản chất, không còn là mộthoạt động tự phát hay ép buộc mà phải là một hoạt động tự giác và chịu sựđiều khiển của giảng viên trong nội dung học tập

Tóm lại, tự học là một quá trình con người vượt qua hoàn cảnh và vượtqua chính mình, biết tự vận dụng tất cả từ ý chí nghị lực, tư duy, nhân cách,tâm hồn, mục đích sống đến khát vọng của bản thân để vượt qua mọi khókhăn nhằm chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Hoạt động tự học được diễn ratrong mọi thời điểm từ tự học ở nhà, tự học ở trường và tự học cả bên ngoài

xã hội Kết quả của việc tự học được đánh giá bởi chính hiệu suất và hiệu quảcông việc của từng người, phụ thuộc vào khả năng tiếp thu, hoàn cảnh và thờigian từng người Nhìn chung mọi người đều nhằm mục đích biết được càngnhiều kiến thức càng tốt để nâng mình lên đến một trình độ cao, phục vụ chocuộc sống của mình tốt hơn

Các thành tố cấu thành hoạt động tự học

7 Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ (1998), Nghiên cứu và phát triển tự học, tự đào tạo, tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược của phát triển Giáo dục Việt Nam, Nxb, Giáo dục, Hà Nội.

Trang 22

Một là, chủ thể của tự học là sinh viên

Tự học là quá trình người học tự ý thức, tự nỗ lực chiếm lĩnh tri thứcbằng hành động của chính mình hướng tới mục đích nhất định Nó còn là quátrình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo của bảnthân người học Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của nhậnthức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý nhằm đạt được những mục tiêu đãđịnh

Tự học còn là hình thức dạy - học cơ bản ở đại học, đó là hình thức tổchức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức, kĩnăng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp, hoặc ở ngoài lớp, theohoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ấn định sẵn Khingười học tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực của mình vào quá trìnhchiếm lĩnh tri thức thì khi đó họ tiến hành tự học

Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào ý thức tự học cũng có ý nghĩa rấtquan trọng đối với kết quả học tập, tuy nhiên đối với sinh viên ở các trườngđại học nó lại càng thiết thực hơn bởi ý thức tự học của sinh viên ở các trườngđại học có nét đặc thù so với phổ thông, thể hiện hoạt động nhận thức củasinh viên ở mức cao hơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự giác, sáng tạotrong việc tiếp thu tri thức cũng như việc vận dụng tri thức vào các tình huống

cụ thể Do đó có thể nói ý thức tự học là một khâu của quá trình giáo dục, làmột quá trình gia công, chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dụcqui định Bậc học ở đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiếnthức lớn và khó, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải có ý thức

tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức Cũngchính thông qua ý thức tự học này đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quátrình học tập

Hai là, vai trò định hướng từ phía người dạy – giảng viên Người sinh

viên có phương pháp học tập tốt, đó là mang tính chất tự học, tự nghiên cứunhưng điều đó cũng không có nghĩa là thiếu vai trò của người giáo viên trong

Trang 23

việc trợ giúp và tạo điều kiện phát triển việc tự học là rất quan trọng và đòihỏi nhiều nỗ lực Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, sự phát triểnnhư vũ bão của khoa học, công nghệ, thời gian trên lớp học không đủ để trang

bị cho người học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc người họcquá nhiều kiến thức Vì vậy cần phải rèn luyện ý thức tự học và phương pháphoc tập đúng cho sinh viên ngay từ khi vào đại học càng lên cao hơn thì càngphải được chú trọng Trong quá trình dạy học giáo viên luôn giữ một vai tròquan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướngdẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên, trong đó cần nêu cao vai trò của

ý thức tự học Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyênthâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh khôngchịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khaokhát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phươngpháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tậpkhông đạt kết quả cao được Giáo viên sẽ là người giúp người học kiểm soátđược việc học của chính mình, giúp họ trở nên có ý thức và xác định đượcchiến lược mà họ đã từng sử dụng hoặc có thể sẽ sử dụng Giáo viên trước hếtphải giúp sinh viên ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tự học, tiếpđến cung cấp cho sinh viên kiến thức về cách học ngoại ngữ và hướng dẫn họ

tự học có hiệu quả Như vậy muốn nâng cao chất lượng học tập của sinh viêntrong trường học nói chung, chúng ta cần phải quan tâm đúng mức đến việcbồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ của người giáo viên đồngthời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của người sinh viên trong hoạtđộng tập thể để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có trong người

họ, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hộitri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của xã hội vàđất nước

Ba là, các điều kiện về nhà trường và các tổ chức chính trị - xã hội có

tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn sinh viên có ý

Trang 24

thức tự học một cách đúng hướng và hiệu quả như: Nhà trường trang bị cơ sởvật chất, phòng học hiện đại, thư viện và mạng máy tính có máy chủ để sinhviên có thể tự học ở nhà, giáo viên thiết kế các giáo trình phù hợp để pháttriển năng lực tự học tự nghiên cứu Thông qua trang thiết bị hiện đại sinhviên có thể giao tiếp với giáo viên và bạn bè hiệu quả.

Bốn là, các hình thức tự học

Tự học thực hiện qua nhiều bước khác nhau như: tiếp nhận thông tin từnhiều kênh khác nhau, xử lý thông tin đã tiếp nhận dựa vào kinh nghiệm hiểubiết của bản thân, tự kiểm tra, đánh giá thông tin thu được và giải quyết cácvấn đề do nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đạt ra, tự học diễn ra với các hìnhthức sau:

- Tự học hoàn toàn: là hình thức mà người học hoàn toàn độc lập hoànthành các nhiệm vụ học tập của mình, vai trò của người học là nhân tố trọngyếu nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Hình thức tự học này còn gọi là

tự nghiên cứu của các nhà khoa học

- Tự học có sự điều khiển, chỉ đạo của thầy nhưng không giáp mặt:Hình thức tự học này đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tính tự lực cao,phải tuân thủ theo chỉ dẫn của thầy Hiệu quả của hình thức tự học này phụthuộc vào vai trò của người hướng dẫn, và vai trò tích cực, chủ động hoànthành các nhiệm vụ học tập của người học

- Tự học dưới sự tổ chức, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy:

Thông qua biện pháp tổ chức, định hướng, thiết kế chỉ đạo của ngườithầy nhằm giúp cho người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt độnghọc tập của mình bằng hoạt động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tựđiều chỉnh nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập Kết quả tự học của sinh viêntrong hình thức này phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữangười dạy và người học, yếu tố đóng vai trò quan trọng là sự tổ chức, chỉ đạocủa thầy, yếu tố đóng vai trò quyết định là sự tích cực, tính tự giác, năng lực

Trang 25

tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của sinh viên Vì vậy nhiệm vụquan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là phải phát huy đượctính chủ động tích cực, tính tự giác, tính độc lập hoàn thành các nhiệm vụ họctập của sinh viên, hình thành phương pháp tự học cho sinh viên để họ có khảnăng tự học, tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình.

1.2.3 Ý thức tự học của sinh viên nội trú

Khái niệm

Ý thức là một điều rất quan trọng để tạo ra động cơ và mục đích hướngđến khi thực hiện một vấn đề nào đó Do vậy, trong vấn đề tự học, một trongnhững đòi hỏi đầu tiên là sinh viên phải tự ý thức được vai trò quan trọng củađược việc cần thiết tự học ở môi trường học tập bậc đại học Thực tế cho thấyrằng, không phải sinh viên nào cũng ý thức được một cách đầy đủ và tự giác

về việc tự học Muốn vậy, sinh viên phải chủ động tự học, coi tự học là vấn đềbức thiết, hình thành sớm ý thức tự học thì sẽ tạo thành thói quen cố hữu củacon người tự học sau này Sinh viên phải coi tự học như là nhu cầu nội tạivươn lên làm chủ tri thức để làm việc Vì rằng, trong điều kiện nhiều họcphần không giảm số lượng và mức độ của tri thức, thậm chí tăng lên đồngthuận với yêu cầu của xã hội ngày càng khắt khe, khi mà lượng thời gian dànhcho mỗi học phần giảm đi so với trước đây

Ý thức tự học của sinh viên nội trú là nhận thức của sinh viên nội trú

về vai trò và vị trí của tự học đối với sự phát triển con người và toàn xã hội, biểu hiện qua thái độ tự học, các hình thức tự học và kết quả của tự học Ý thức tự học chính là động lực quan trọng quyết định đưa con người đến thành công.

Biểu hiện ý thức tự học của sinh viên nội trú

Một sinh viên có ý thức tự học tốt phải là người biết cách sắp xếp thờigian học tập: Học tập trên lớp, nghiên cứu tài liệu mọi nơi mọi lúc ngay cảtrong vui chơi giải trí hoặc học qua mạng Internet Trên lớp một người có ý

Trang 26

thức tự học tốt chính là người tập trung nghe giảng, hăng hái phát biểu xâydựng bài, nêu câu hỏi đối với giảng viên Người có ý thức tự học tốt còn làngười luôn tìm thấy những điều đáng học hỏi trong cuộc sống xung quanh,ngay từ những điều nhỏ nhặt nhất, biến nó thành vốn sống, kỹ năng sống chobản thân.

Sinh viên luôn phải rèn luyện cho bản thân có ý thức tự giác trong họctập, từ đó sẽ có hứng thú đối với các kiến thức mà mình đang tiếp thu Điềunày sẽ giúp người học tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằngcách tạo ra một hình thức phù hợp với tính cách của mình Như vậy, khi thực

sự trở thành chủ thể học cũng có nghĩa là ngươì học đã tự giác xác định đượcđộng cơ, mục đích học tập Người học tiến hành việc học dựa trên tráchnhiệm cá nhân và sự điều khiển của ý chí thì hoạt động học trở thành quátrình tự học, tự giác chủ động, có phong cách và phương pháp cá nhân

Như vậy, để có ý thức tự học tốt, vấn đề quan trọng trước tiên là ngườisinh viên phải hiểu rõ được ý nghĩa, vị trí đặc thù ngành đang theo học và đốivới nghề nghiệp tương lai của mình, điều đó sẽ giúp họ xây dựng được ý thức

tự học và có ý chí khắc phục khó khăn trong quá trình tự học Để ý thức tựhọc đạt hiệu quả thì việc xây dựng phương pháp học tập khoa học và việc lựachọn hình thức học tập phù hợp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Phươngpháp tự học không chỉ đơn thuần là học lại máy móc vở ghi, bài giảng củathầy mà người học còn phải làm quen với việc nghiên cứu, đọc các tài liệutham khảo, phải tìm hiểu thực tiễn lịch sử, chính trị - xã hội, biết kết hợp sángtạo giữa lý luận và thực tiễn… để tạo cho mình vốn tri thức trong quá trìnhhọc tập

Trong thực tế, biểu hiện của ý thức tự học rất đa dạng, theo góc độ đềtài nghiên cứu, tác giả bước đầu khái quát thành các biểu hiện sau:

Một là, nhận thức của sinh viên nội trú về vị trí, tầm quan trọng của

hoạt động tự học

Trang 27

Hai là, thái độ, ý thức của sinh viên nội trú về vấn đề tự học

Ba là, các cách thức thể hiện tự học của sinh viên (khảo sát theo 3 cách

thức đã trình bày trong phần 1.2 của chương 1)

Đây là ba biểu hiện đặc trưng nhất thể hiện ý thức tự học của sinh viênnội trú và đề tài cũng xác định đây là 3 tiêu chí cơ bản để đo lường, khảo sátthực trạng ý thức tự học của sinh viên nội trú ở ký túc xá Học viện Báo chí vàTuyên truyền trong giai đoạn hiện nay

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức tự học của sinh viên nội trú

1.3.1 Quản lý nhà trường, ký túc xá

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn từng vạch ra các bình diện trợ giúp chongười tự học, trong đó giáo sư có đề cập đến mô hình giáo dục của nhàtrường Nếu mô hình đó khuyến khích và tạo điều kiện cho việc tự học củangười học thì người học sẽ được nâng đỡ nhiều hơn Ông khẳng định: việcquản lý tự học chặt chẽ của nhà trường không giới hạn mà ngược lại sẽ giúpngười học tự học tốt hơn Ngoài ra, nhà trường cần hỗ trợ người học về mặtnhận thức, cảm xúc, động cơ, xây dựng nguồn học liệu, mở rộng các kênhtrao đổi giữa giảng viên – sinh viên và kênh để sinh viên tiếp cận nguồn họcliệu8

Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề tự học của sinh viên vẫn chưa được cáctrường cao đẳng, đại học quan tâm đúng mức Quan điểm nhấn mạnh khảnăng tự học và tạo điều kiện tự học cho sinh viên vẫn chưa được chú trọng,thể hiện qua việc xây dựng chương trình, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạyhọc, phương pháp kiểm tra, đánh giá, đầu tư cơ sở vật chất, thư viện cònnhiều hạn chế Một dẫn chứng dễ thấy là chương trình đào tạo của các trườngcác kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp ôm đồm, nặng nề với rất nhiều mônhọc khác nhau.Thời gian học tập trên lớp nhiều khiến thời gian tự học ngoàilớp của sinh viên giảm sút Một giáo viên phải đảm nhận nhiều môn, nhiều

8 Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Hải Yến (2011), Xã hội học tập, học tập suốt đời và các kỹ năng tự học, Nxb Dân

trí.

Trang 28

lớp Chính do áp lực của khối lượng công việc luôn quá tải đó nên giáo viênchỉ lo thực hiện chức năng của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện toàn diệncho sinh viên trong đó có ý thức tự học Chương trình một học phần riêng về

ý thức, phương pháp tự học hoặc các khoá học ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên

đề về ý thức tự học sẽ trang bị cho sinh viên hiểu biết đúng đắn về ý thức tựhọc, chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho sinh viên trong việc phát triển ý thức tựhọc hiệu quả Vì vậy, một trường đại học hiện đại cần đưa vấn đề tự học và ýthức tự học vào mục tiêu đào tạo, bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho sinh viênkhi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi ra trường hòa nhập với xã hội,trong suốt cuộc đời

Các cấp quản lý thực hiện công tác quản lý tốt không những các hoạtđộng trên lớp của sinh viên mà còn phải quản lý cả các hoạt động ngoài giờ,ngoại khoá của sinh viên trong chương trình đào tạo

* Quản lý hoạt động học tập trên lớp của sinh viên bao gồm:

- Quản lý việc thực hiện kỷ cương, nề nếp trong học tập

- Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình kế hoạch đào tạo

- Tổ chức các hoạt động dạy học trong lớp nhằm phát huy vai trò tíchcực tự giác học tập của sinh viên

- Tổ chức các hoạt động đảm bảo điều kiện học tập của sinh viên Các biện pháp tổ chức thực hiện là:

- Thực hiện nề nếp kỷ cương trong giờ lên lớp

- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật để tổ chức các hoạt độngdạy và học trên lớp nhằm phát huy tính tích cực tự học của sinh viên

* Quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên:

Tự học ngoài giờ lên lớp có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp sinh viên

mở rộng hiểu sâu những điều đã học, vận dụng những tri thức đã học vào cáctình huống cụ thể Việc đọc trước tài liệu học tập giúp sinh viên tiếp thu trithức mới ở lớp được nhanh hơn Tự học ở nhà là một bộ phận khăng khít có

Trang 29

vai trò không thể thiếu được trong quá trình dạy học Cho nên cần phải giáodục, động viên, khuyến khích sinh viên có ý thức tự học tốt và khoa học.

* Quản lý ký túc xá, cần phải:

- Tạo ra phong trào tự học, tự rèn luyện trong sinh viên nội trú

- Hướng dẫn sinh viên nội trú xây dựng kế hoạch tự học

- Hướng dẫn cho sinh viên nội trú các phương pháp tự học

- Quản lý thời gian tự học của sinh viên nội trú

- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả ý thức tự học của sinh viênnội trú

1.3.2 Tài liệu và cơ sở vật chất

Tự học phải gắn liền với sách, giáo trình, tài liệu tham khảo…Sáchđược xem là người thầy thứ hai, sau giáo viên của sinh viên Nguồn tài liệucàng phong phú, dồi dào, càng giúp ích cho sinh viên tích luỹ kiến thức đachiều, sâu sắc hơn9

Hiện nay, sinh viên có thể tìm thấy nguồn tài liệu trong thư việntrường, thư viện tỉnh, thành phố, nhà sách, kho tài liệu trực tuyến, các websitecủa các tạp chí khoa học, tổ chức giáo dục Tuy nhiên, nguồn tài liệu chủyếu vẫn đến từ thư viện trường Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu tự học, nghiêncứu của sinh viên ở bậc đại học, các trường cần đầu tư vào việc mua các tàiliệu in (sách, tạp chí, báo khoa học ) mới nhất, với số lượng nhiều, đủ đápứng nhu cầu tham khảo của sinh viên Ngoài ra, hệ thống thư viện phải có đủchỗ ngồi, thoáng mát, yên tĩnh, với hệ thống tra cứu tiện lợi mới giúp sinhviên tự học tốt Bên cạnh thư viện, trong Ký túc xá cần có các khu tự họcphục vụ sinh viên nội trú với bàn ghế, hệ thống chiếu sáng đầy đủ cũng làđiều kiện hỗ trợ tốt cho hoạt động tự học của sinh viên nội trú

1.3.3 Tính tự giác học tập của sinh viên nội trú

9 Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Hải Yến (2011), Xã hội học tập, học tập suốt đời và các kỹ năng tự học, Nxb Dân

trí.

Trang 30

Nhân tố quan trọng nhất tác động đến ý thức tự học của sinh viên nộitrú, đòi hỏi sinh viên nội trú phải:

Một là, Xây dựng động cơ học tập

Sinh viên tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cầnlàm đầu tiên Bởi vì, sự thành công không bao giờ là kết quả của một quátrình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu.Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tốchất cần thiết chứ không phải là những điểm số, những chứng chỉ mà không

có thực lực vì động cơ học tập chệch hướng Có động cơ học tập tốt khiến chosinh viên luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng vớimột niềm vui sáng tạo bất tận

Trong rất nhiều động cơ học tập của sinh viên, có thể tách thành hainhóm cơ bản:

- Các động cơ hứng thú nhận thức

- Các động cơ trách nhiệm trong học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến đượcvới người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bấtngờ và chứa nhiều những yếu tố gợi sự tò mò

Hai là, Xây dựng kế hoạch học tập

Bất kì sinh viên nào muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích,nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó

kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắnhạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhấtquán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốtlõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho

nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao.Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp

Trang 31

lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứtđiểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kếhoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi.

Ba là, Tự mình nắm vững nội dung tri thức

Đây là vấn đề quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khốilượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn

đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bề vững không… tùy thuộc vào nội lực củachính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm cáchoạt động:

- Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiềunguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghegiảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát,điều tra… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tinmột cách thông minh và linh hoạt

- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không baogiờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụngđược Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá,tóm lược, tổng hợp, so sánh…

- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thứckhoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận,

xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… sinhviên thường gặp rất nhiều khó khăn Có lúc tìm được một khối lượng lớn tưliệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại khôngthực hiện được Trong trường hợp này cần khoanh vùng vấn đề trong một giớihạn đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm pháthiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việclựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đốitượng nghiên cứu cũng rất cần thiết

Trang 32

- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thôngtin tri thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báocáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng củaquá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp sinh viên có thể hình thành vàphát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúpsinh viên chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác

và làm việc nhóm tốt

Bốn là, Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức:Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự đánhgiá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánhvới mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cầnđược quan tâm thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩmđịnh mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tậpnghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy

Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập cóhiệu quả nhất thiết sinh viên phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào cóthể bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyếtđịnh cho sự phát triển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách

là ngoại lực trong việc trang bị cho sinh viên một hệ thống tri thức, kĩ năng,thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tựhọc tự đào tạo của sinh viên mới đi vào chiều sâu thực chất

Tóm lại, lý luận cho thấy vấn đề tự học là đặc biệt quan trọng tronggiáo dục Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết sinh viên nội trú phảichủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính ý thức tự học củabản thân vì đây mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển cá nhân.Ngoài ra, để hình thành, phát triển ý thức tự học cho sinh viên nội trú, rất cầntới vai trò của giáo viên, nhà trường, ký túc xá với tư cách là những ngoại lựctrong việc trang bị cho sinh viên nội trú một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ

Trang 33

cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học cũng như hỗ trợ các điều kiệnthuận lợi để hoạt động tự học tự đào tạo của sinh viên nội trú đi vào chiều sâu

và thực chất

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ Ý THỨC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ Ở KÝ TÚC XÁ HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN HIỆN NAY

2.1 Khái quát đặc điểm KTX Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2.1.1 Cơ sở vật chất ở KTX Học viện

KTX Học viện nằm ở một khu biệt lập, có vị trí địa lí, điều kiện tựnhiên và cảnh quan môi trường lý tưởng cho sinh viên nội trú sinh hoạt và họctập KTX ở ngay sát với Nhà trường, rất thuận lợi đến trường học tập, cũngnhư tham gia các hoạt động khác của nhà trường Đồng thời, KTX Học việncũng gần các trường đại học khác như Đại học sư phạm Hà Nội, Đại họcNgoại ngữ, Đại học Thương mại,… tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên cóthể giao lưu, học hỏi, trau dồi các kiến thức khác bổ trợ cho chuyên ngànhhọc chính của mình như: ngoại ngữ, tin học,… Bên cạnh đó các các bệnhviện, siêu thị, chợ,… cũng gần KTX Học viện, đó là những điều kiện tốt chosinh viên nội trú yên tâm sinh hoạt và học tập tại đây

Hiện nay cơ sở vật chất của Học viện để phục vụ sinh viên ở KTX khákhang trang, sạch đẹp, với địa bàn rộng, bao gồm các khu nhà E1, E2, E3, E4,E6, E7, E8 và B10, trong đó có: 4 toà nhà 5 tầng (E2, E3, E4, E6), 3 dãy nhàcấp 4 (E1, E7, E8) Các dãy nhà cấp 4 được tận dụng tạm thời để tạo điềukiện thêm cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trong trường hợp các khu nhàcao tầng của KTX đã hết chỗ ở, các khu nhà cao tầng được trang bị khá đầy

đủ, các phòng ở có công trình phụ khép kín, điện, nước, hệ thống mạng wifimiễn phí, phù hợp với điều kiện và môi trường sống của sinh viên Riêngđối với khu nhà E4 – bố trí cho lưu sinh viên Lào, các phòng ở được trang cấpnhiều thiết bị sinh hoạt cá nhân (chăn, màn, giường, chiếu, thau chậu, ), bìnhnóng lạnh, các tầng có tivi truyền hình cap, phòng khách, để phục vụ học

Trang 35

tập, giải trí, cho lưu sinh viên Đối tượng phục vụ chủ yếu là sinh viên ViệtNam thuộc diện chính sách, ưu đãi và Lưu sinh viên nước ngoài đang học tậptại Học viện Luôn có khả năng phục vụ dao động khoảng 1.500 sinh viênthường xuyên, liên tục và đảm bảo mức trên 15% lượng sinh viên đang theohọc chính quy ở tại trường, trong đó có khoảng gần 200 Lưu học sinh quốc tế.Với mức đó, khu KTX của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đạt mức trungbình trong việc bố trí chỗ ở sinh viên trong hệ thống các trường đại học củaViệt Nam Các phương tiện phục vụ cho sinh viên, lưu sinh viên cũng khôngngừng được cải thiện, có hệ thống vui chơi, giải trí, thể dục thể thao như sânbóng đá, sân tennis, sân cầu lông, sân bóng chuyền, được trang bị đầy đủtrong khuôn viên KTX Học viện phục vụ các em vui chơi, rèn luyện vàonhững giờ nghỉ, ngày nghỉ Các phương tiện thông tin đại chúng được trang bị

để phục vụ kịp thời và cung cấp thông tin mang tính thời sự về mọi mặt đờisống vật chất, tinh thần sinh viên và Lưu sinh viên ở nội trú, như: hệ thốnginternet wifi miễn phí, các chương trình phát thanh sinh viên hàng tuần, Ngoài ra, Học viện đang khởi công Dự án xây dựng khu nhà A5 (12 tầng) vớisức chứa khoảng 1.200 sinh viên Điều đó thể hiện KTX Học viện ngày càngkhang trang, đẹp hơn và đạt hiệu quả sử dụng cao hơn, xứng đáng đứng vàohàng ngũ những trường có KTX đẹp của cả nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức phòng Quản lý KTX Học viện

Ký túc xá là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống đàotạo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, có vai trò quan trọng trong việchình thành nhân cách, phẩm chất của sinh viên, lưu sinh viên trong quán trìnhhọc tập tại Học viện qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, gópphần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Nhà trường Được thành lập từtháng 9 năm 1994 Quyết định số 475/QĐ-TC của Giám đốc Học viện Báo chí

và Tuyên truyền, Phòng Quản lý Ký túc xá là đơn vị chịu trách nhiệm quản

lý, chăm lo đời sống vật chất vàvtinh thần cho sinh viên ở nội trú

Số lượng cán bộ của Phòng Quản lý KTX là 18 đồng chí, trong đó:

Trang 36

- Ban Lãnh đạo phòng là 02 đồng chí: 01 Trưởng phòng và 01 Phótrưởng phòng Trưởng phòng chịu trách nhiệm chung toàn bộ hoạt động ởKTX; Phó trưởng phòng giúp việc cho trưởng, thực hiện mọi công việctrưởng phòng giao phó, đồng thời phụ trách quản lý khu nhà E3.

- Tổ Quản sinh gồm 05 đồng chí: 01 đồng chí lý khu nhà E1 và E2; 01đồng chí quản lý E6, E7 và E8; riêng khu nhà E4 dành cho lưu sinh viên Lào,

có 03 đồng chí đảm trách công tác quản lý và phục vụ, tạo mọi điều kiệnthuận lợi về học tập và sinh hoạt cho lưu sinh viên Lào ở khu nhà này

- Tổ Bảo vệ gồm 07 đồng chí: thay phiên (ca trực) đảm bảo an ninh trật

Tất cả cán bộ-công nhân viên của Phòng được bố trí thực hiện nhiệm

vụ chính trị và làm việc đúng chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo an ninh trật tự;nhắc nhở, đôn đốc sinh viên nội trú chấp hành Nội quy KTX và xử lý các tìnhhuống bất thường,… 24/24 giờ trong ngày Đồng thời, đội ngũ cán bộ quản lýKTX năng động, có trách nhiệm, biết vận dụng sáng tạo đường lối chính sáchcủa Đảng và Nhà nước nói chung, chủ trương, chính sách của Đảng ủy-BanGiám đốc Học viện nói riêng vào công tác quản lý và phục vụ sinh viên nộitrú

2.1.2 Nhiệm vụ phòng Quản lý KTX Học viện

Căn cứ các quy chế về công tác HSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo vàNội qui, quy chế KTX Học viện Báo chí và Tuyên truyền, xác định nhiệm vụcủa công tác quản lý sinh viên nội trú như sau:

- Quản lý, sắp xếp chỗ ở cho sinh viên các khoá vào đầu năm học

Trang 37

- Giáo dục sinh viên chấp hành tốt Nội quy KTX, tự giác thực hiện việc

tự nghiên cứu, học tập nâng trình độ

- Quản lý giờ giấc của sinh viên nội trú: sinh viên nội trú trong giờ học

ở trường chịu sự quản lý về giờ giấc của ban cán sự lớp, các thầy cô giáo vàgiáo vụ khoa Ngoài giờ học chịu sự quản lý của Phòng Quản lý KTX về giờgiấc học tập, nghỉ ngơi, sinh hoạt cũng như giờ đóng mở cửa, đón tiếp kháchtại phòng ở theo nội quy, quy định của KTX

- Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú: Quy định giờ tự họccủa sinh viên nội trú, thường xuyên đôn đốc kiểm tra và nghiêm cấm nhữnghành vi làm ảnh hưởng đến học tập và sinh hoạt của tập thể

- Quản lý, phối hợp tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao để nâng caothể chất, tinh thần đảm bảo cuộc sống lành mạnh cho sinh viên nội trú

- Phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ, Đoàn Thanh niên Học viện tổchức tốt các hoạt động đảm bảo trật tự an toàn, xây dựng và duy trì phongcách, nếp sống lành mạnh, trong sạch trong khu KTX, bài trừ tệ nạn xã hội

- Phối hợp với các đơn vị liên quan trong và ngoài trường thườngxuyên kiểm tra chặt chẽ nhằm duy trì nếp sống sinh hoạt, vệ sinh môi trường,trật tự trị an và an ninh chính trị trong khu KTX

- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất, điện, nước trong khu KTX nhằm bảođảm việc ăn, ở ổn định cho sinh viên, tạo điều kiện sinh hoạt an toàn trongkhu nội trú

- Thường xuyên đôn đốc kiểm tra chặt chẽ sinh viên trong công tác vệsinh môi trường và phòng chống dịch bệnh tại KTX

Nhìn chung, công tác quản lý sinh viên nội trú bao gồm nhiều nhiệm

vụ, song tựu chung lại, công tác quản lý sinh viên nội trú phải phục vụ mụctiêu đào tạo, đảm bảo tốt nhất cho quy trình đào tạo đạt hiệu quả cao, gópphần hình thành và phát triển nhân cách người sinh viên trong nhà trườngĐH

Trang 38

2.2 Đặc điểm sinh viên nội trú ở KTX Học viện Báo chí và Tuyên truyền

KTX Học viện tiếp nhận chủ yếu là sinh viên thuộc diện chính sách, ưutiên theo Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quy chế, Nội quy của Họcviện Báo chí và Tuyên truyền Ngoài ra, toàn bộ (100%) sinh viên nước ngoài(lưu sinh viên Lào) cũng ở tại KTX Đây có lẽ là một trong những nét rất đặcthù của KTX Học viện Báo chí và Tuyên truyền, vì có cả sinh viên Việt Nam

và sinh viên nước ngoài ở cùng khuôn viên nội trú

Ngoài những đặc điểm chung của sinh viên Học viện, phần lớn sinhviên nội trú ở KTX Học viện đều có ý thức kỷ luật cao, cần cù chịu khó, hamhọc hỏi, tìm tòi, sáng tạo, đoàn kết, quan hệ bạn bè rộng rãi Bên cạnh đó, các

em lưu sinh viên Lào ở nội trú, mặc dù từ Lào sang học tập và ở tại Ký túc xáHọc viện, nhưng toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường đều hếtsức cới mở, thân thiện, tận tình giúp đỡ trong mọi mặt cuộc sống, nên các emlưu sinh viên luôn cảm thấy gần gũi và thoải mái trong khu nội trú nhàtrường Lưu sinh viên Lào ở nội trú có những đặc điểm cơ bản là: Mạnh dạn

và chủ động trong giao tiếp; Thẳng thắn và trung thực; Lễ phép; Sống nộitâm, tình cảm; Chịu khó; Quan hệ bạn bè rộng rãi; Có ý thức độc lập cá nhân

và ý thức dân tộc cao; Hay thắc mắc về các chế độ chính sách; Ý thức chấphành nề nếp sinh hoạt tương đối tốt; Và đôi khi còn chưa chủ động trong họctập và sinh hoạt

* Số lượng sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện

Bảng 1: Số lượng sinh viên ở nội trú tại Ký túc xá Học viện

viên Việt Nam

Tổng số lưu sinh viên Lào

Tổng số sinh viên nội trú

Trang 39

xá Học viện, trong đó, đặc điểm nổi bật: một là cả sinh viên Việt Nam và lưu

sinh viên Lào đều ở chung trong khuôn viên nội trú nhà trường; hai là, tỷ lệgiới tính nam/nữ có sự chênh lệch lớn, hàng năm chỉ có khoảng 200 đến 300sinh viên là nam, còn đại đa số là sinh viên nữ Theo thống kê của PhòngQuản lý Ký túc xá, hàng năm lượng sinh viên nữ ở nội trú chiếm khoảng80%, còn lại là sinh viên nam chiếm 20%

Do đó, hoạt động quản lý đối tượng ở Ký túc xá cũng có tính đặc thùriêng Hiện nay, Phòng Quản lý Ký túc xá bố trí sinh viên nội trú chủ yếu ở bakhu nhà 5 tầng là E2, E4 và E6 Khu nhà E4 được sắp xếp cho toàn bộ lưusinh viên Lào ở, khu nhà này có đặc điểm khác biệt so với các khu nhà ở củasinh viên Việt Nam: phân công 03 quản sinh cho khu nhà này, khu nhà có hộitrường, nhà kho riêng, mỗi tầng có phòng khách, mỗi phòng ở tối đa là 03sinh viên Lào, cơ cở vật chất của khu nhà này tương đối tiên nghi và hiện đạivới hệ thống trang thiết bị tivi truyền hình cap, tủ lạnh, bình nóng lạnh, chăn

ga gối đệm đầy đủ, phòng, có hệ thống wifi miễn phí riêng phục vụ học tậpcho lưu sinh viên

10 Năm học 2014 – 2015, Học viện cho tu sửa khu nhà E6 – Ký túc xá (với sức chứa khoảng hơn 500 sinh viên)

Trang 40

Hai khu nhà E2 và E6 được bố trí cho sinh viên Việt Nam ở, mỗi khunhà này có 01 đồng chí quản sinh, mỗi phòng ở có từ 6 đến 8 sinh viên ViệtNam Với đặc điểm 80% sinh viên nội trú là nữ, khu nhà E6 được PhòngQuản lý KTX bố trí toàn bộ là cho sinh viên nữ ở Khu nhà E2 được phânđịnh: từ tầng 1 đến tầng 3 cho sinh viên nữ ở, tầng 4 và tẩng 5 cho sinh viênnam ở.

Xét trong tình hình điều kiện hiện nay của Ký túc xá, Phòng Quản lý

Ký túc xá phân công, bố trí nguồn nhân lực quản lý, đối tượng ở cho từng khunhà là hoàn toàn hợp lý và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi trong công tácquản lý ký túc xá, cùng với sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng đếntừng đồng chí cán bộ của Phòng mang lại hiệu quả tốt trong công tác quản lý,nên sinh viên Việt Nam và lưu sinh viên Lào khi vào ở KTX Học viện nhìnchung đều hài lòng, yên tâm học tập và sinh hoạt trong môi trường nội trú củaHọc viện

* Về cơ cấu sinh viên nội trú ở Ký túc xá Học viện

- Đối tượng là học viên Việt Nam, có 2 loại Thứ nhất: học viên là cán

bộ đi học, tuy là được cơ quan cử đi học, nhưng phần lớn là cán bộ trẻ nênchế độ, chính sách được hưởng từ cơ quan cử đi học còn rất hạn chế nên cócuộc sống sinh hoạt tại khu ký túc xá hầu như tương đồng với các em sinh

viên;Thứ hai: học viên là các em sinh viên ra trường có nguyên vọng đi học

ngày, nên mức sống sinh hoạt ở khu nội trú như được nối tiếp từ thời sinhviên

- Đối tượng là sinh viên Việt Nam: đa số sinh viên nội trú là con emxuất thân từ nông thôn, đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa ở hầu khắp cáctỉnh thành trong cả nước chiếm tỷ lệ tương đối cao gần 75%11 Đây cũng làmột trong những khu vực mà điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khókhăn Với những sinh viên xuất thân từ những gia đình làm nông nghiệp, có

11 Báo cáo Tình hình sinh viên Ký túc xá năm học 2017-2018 của Tổ Quản sinh – trực thuộc Phòng Quản lý

Ký túc xá Học viện.

Ngày đăng: 23/06/2022, 01:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Kỳ (2006), "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học", Tạp chí Giáo dục, số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 2006
1. Vũ Ngọc Am (2009), Về phương pháp, kĩ năng đọc sách, tìm kiếm tư liệu, Tạp chí tuyên giáo, số 9/2009 Khác
2. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Lê Khánh Bằng (1998), Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học, Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy và học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt hiệu quả, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 - Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Văn Đạo (1998), Tự học là kinh nghiệm suốt cả cuộc đời của mỗi con người, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
8. Hà Thị Đức (1993), Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, Tạp chí Giáo dục, số 5/1993 Khác
9. Nguyễn Khánh Đức (2010). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Kỳ (1998). Quá trình dạy –Tự học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Trần Thị Minh Hằng (2011), Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên Sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Phạm Minh Hạc (1995), Tâm lý học, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
14. Trần Bá Hoành (1998), Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình dạy học giáo dục và đào tạo, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 7/1998 Khác
15. Đặng Vũ Hoạt (1994), Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí Giáo dục, số 1/1994 Khác
16. Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức (2008). Lý luận dạy học đại học. Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Khác
17. Hồ Chí Minh (1962), Bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, 1962 Khác
18. Bùi Minh Hiền (2009), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Hiến Lê (2007), Tự học- một nhu cầu của thời đại, Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Một số vấn đề giáo dục học đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w