1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam

149 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Ở Các Trường Trung Học Phổ Thông Thành Phố Tam Kỳ Tỉnh Quảng Nam
Tác giả Nguyễn Thị Tuyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hồng Tây
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 11,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện các văn bản hướng dẫn chung của ngành, hiện nay nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp, lồng ghép ở các môn học ở trường THPT như: Sinh học, Địa lý, Vật lý, Hóa học,

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TUYỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Đà Nẵng - Năm 2021

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Cấu trúc của luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 4

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 6

1.1.3 Nhận xét chung 9

1.2 Các khái niệm chính của đề tài 10

1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 10

1.2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường 11

1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 13

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông 13

1.3.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 13

1.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 14

1.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 14

1.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 16

1.3.5 Đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 18

1.3.6 Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 19

1.3.7 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 19

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông 20

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 20

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 20

1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 21

Trang 7

1.4.4 Quản lý các hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

THPT 21

1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 24

1.4.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo môi trường cho học sinh THPT 24

1.4.7 Quản lý sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 24

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 26

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục đào tạo của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 26

2.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 26

2.1.2 Tình hình giáo dục cấp THPT trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 29

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 30

2.2.1 Mục đích khảo sát 30

2.2.2 Nội dung khảo sát 30

2.2.3 Phương pháp khảo sát 31

2.2.4 Địa bàn và khách thể khảo sát 31

2.3 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về bảo vệ môi trường, giáo dục bảo vệ môi trường và quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 32

2.3.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về bảo vệ môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường 32

2.3.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường và quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 33

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường trung học phổ thông, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 37

2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 37

2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 39

2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 41

Trang 8

2.4.4 Thực trạng quản lý các hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho

học sinh THPT 44

2.4.5 Thực trạng quản lý sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 51

2.4.6 Thực trạng quản lý điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 53

2.4.7 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 55

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các Trường trung học phổ thông, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 58

2.5.1 Những ưu điểm 58

2.5.2 Những hạn chế, tồn tại 59

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 60

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM 62

3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 62

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các Trường THPT thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam 63

3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 63

3.2.2 Bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về các nội dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường 65

3.2.3 Đổi mới quản lý hoạt động dạy học các môn có tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường 67

3.2.4 Đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp 71

3.2.5 Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 73

3.2.6 Bổ sung, hoàn thiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 75

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 77

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 77

3.4.2 Nội dung và phương pháp 77

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 78

Tiểu kết chương 3 81

Trang 9

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC PL1

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

2.6

Đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của GDBVMT đối với việc hình thành các kỹ năng và hành vi BVMT

34

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Số hiệu hình

và biểu đồ Tên hình và biểu đồ Trang

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại của sự phát triển, kinh tế - xã hội phát triển, khoa học công nghệ phát triển, cuộc sống con người trở nên hiện đại hơn Để sự phát triển này thật sự bền vững cần gắn liền với vấn đề bảo vệ môi trường Nhưng thực trạng môi trường hiện nay là vấn đề đáng lo ngại, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề chung của cả thế giới Riêng ở nước ta, một nước đang phát triển, vấn đề bảo vệ môi trường cần đặt lên hàng đầu Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này ngành giáo dục cần đóng vai trò tiên phong

Nằm trong bối cảnh chung của thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, môi trường tại Việt Nam đang xuống cấp, có nơi bị huỷ hoại nghiêm trọng, gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của con người và sự phát triển bền vững của đất nước Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội tình trạng ô nhiễm môi trường tại thành phố này diễn biến theo chiều hướng xấu đi Một trong những nguyên nhân chính là do ý thức trách nhiệm của con người đối với môi trường còn chưa đúng đắn Từ đó, một vấn đề cấp thiết được đặt ra trước mắt chúng ta là phải tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường Ngành giáo dục có nhiệm vụ tạo ra các thế hệ mới

có kiến thức, kỹ năng, có nhận thức và hành động cụ thể để bảo vệ môi trường

Thực hiện các văn bản hướng dẫn chung của ngành, hiện nay nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp, lồng ghép ở các môn học ở trường THPT như: Sinh học, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Giáo dục công dân, Công nghệ… và lồng ghép, tích hợp trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Dù được tổ chức với bất cứ hình thức nào thì hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cũng cần được quan tâm sâu sắc của đội ngũ cán bộ và các lực lượng tham gia mà đầu tiên là hiệu trưởng Để hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đạt hiệu quả rất cần một đội ngũ có nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục này, cần những điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng tốt các yêu cầu cần thiết của hoạt động, cần sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả của các lực lượng tham gia, cần tổ chức Đoàn năng động và sáng tạo và đặc biệt rất cần phương pháp quản lý hiệu quả của hiệu trưởng nhà trường Tuy nhiên trong thực tế, ở các trường THPT, hoạt động giáo dục rất đa dạng; việc dạy tích hợp, lồng ghép không chỉ

có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường mà còn nhiều nội dung khác như giáo dục địa phương, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật… chính vì thế không phải trường THPT nào cũng chú trọng đúng mức đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường Các môn học chính khóa thường được đặc biệt quan tâm chính vì vậy dẫn đến lơ là trong quá trình quản lý các hoạt động giáo dục được

Trang 15

tích hợp, lồng ghép trong đó có hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường Vì vậy để nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường rất cần người hiệu trưởng có tầm nhìn rộng

và bao quát, có phương pháp quản lý hiệu quả, có những biện pháp tác động thích hợp trong suốt quá trình quản lý

Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt

động giáo dục bảo vệ môi trường ở các Trường Trung học phổ thông thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam” làm vấn đề nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT thành phố Tam Kỳ, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDBVMT nhằm nâng cao hiệu quả GDBVMT ở các trường THPT, đồng thời phát huy ảnh hưởng của giáo dục trong nhà trường đến khu vực mà nhà trường đang đóng

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động GDBVMT cho HS trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lí hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

4 Giả thuyết khoa học

Việc quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT thành phố Tam Kỳ trong những năm gần đây mặc dù có được quan tâm nhưng chưa được chú trọng đúng mức Hiệu quả hoạt động GDBVMT chưa cao Kỹ năng và ý thức BVMT của đa số học sinh còn nhiều hạn chế Nếu đề ra và thực hiện một số biện pháp quản lý phù hợp thì hiệu quả công tác GDBVMT sẽ được nâng lên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về GDBVMT và quản lý hoạt động GDBVMT ở trường THPT

- Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDBVMT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết

và phương pháp giả thuyết để hình thành nên một hệ thống lý luận nhằm xây dựng cơ

sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Các loại tài liệu nghiên cứu gồm: các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước; các quy định, quy chế do Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành; các tài liệu liên quan đến hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; các loại sách, báo, tạp chí, tài

Trang 16

liệu về khoa học quản lý, kinh tế, về những vấn đề khác liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi (anket) các lãnh đạo, CBQL, giáo viên, HS ở 05 trường THPT công lập trong thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

6.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục

Tác giả đã sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phân tích các số liệu để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp

6.4 Phương pháp chuyên gia

Tác giả trao đổi với một số nhà quản lý giáo dục, các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn của các trường THPT, các cán bộ và chuyên viên quản lý Sở GD&ĐT

6.5 Phương pháp khảo nghiệm

Tác giả khảo nghiệm một số giải pháp minh chứng cho tính khả thi của giải pháp

đã đề xuất

6.6 Phương pháp thống kê toán học

Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo sát

và thử nghiệm

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn vấn đề nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động quản lý GDBVMT tại 05 trường THPT công lập trong thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

7.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu trên 15 CBQL, 125 GV, 450 HS ở 05 trường THPT công lập trong thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

7.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12 năm 2019 đến hết tháng 4 năm 2021

8 Cấu trúc của luận văn

Dự kiến cấu trúc của luận văn gồm:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung: gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDBVMT ở các trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường THPT thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

- Phần kết luận và khuyến nghị

- Tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại hiện nay, phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) nói chung, trong đó có quản lý hoạt động GDBVMT ở các Trường trung học phổ thông (THPT) ở mỗi quốc gia, mỗi vùng đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đề xuất giải pháp theo các cách tiếp cận khác nhau, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho mỗi quốc gia

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Bảo vệ môi trường sống là vấn đề mang tính toàn cầu nên được các nhà khoa học

ở nhiều quốc gia nghiên cứu Các công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau đã làm phong phú hơn cơ sở lý luận và cả thực tiễn của vấn đề BVMT Nhiều sự kiện ở tầm khu vực và quốc tế đã được tổ chức nhằm phát huy sức mạnh tổng thể để thực hiện mục tiêu BVMT Quá trình hình thành và phát triển của lĩnh vực BVMT và GDBVMT là một quá trình lịch sử lâu dài và được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, họ đã tạo nên một nguồn tư liệu vô cùng giá trị làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu trong hiện tại và tương lai ở nhiều quốc gia khác nhau Chính nhờ những nghiên cứu này mà con người nhận ra rằng môi trường sống đang cần được bảo vệ và GDBVMT là một hoạt động cần thiết

và hữu hiệu để có thể thực hiện tốt mục tiêu này

Nguồn gốc của giáo dục môi trường bắt nguồn từ đầu thế kỷ 18 khi Jean-Jacques Rousseau (một nhà triết học ở Gevena) nhấn mạnh tầm quan trọng của “một nền giáo dục tập trung vào môi trường’’ trong một chuyên luận về “bản chất của giáo dục và bản chất của con người”

Vài thập kỷ sau, Louis Agassiz, một nhà tự nhiên học ở Thụy Sĩ, đã lặp lại triết lý của Rousseau khi ông khuyến khích sinh viên “Nghiên cứu bản chất, không phải sách vở” Hai học giả có ảnh hưởng này đã giúp đặt nền móng cho một chương trình giáo dục môi trường cụ thể, được gọi là nghiên cứu thiên nhiên, diễn ra vào cuối thế kỷ 19

và đầu thế kỷ 20

Phong trào giáo dục môi trường hiện đại, đã đạt được động lực đáng kể vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, bắt nguồn từ Giáo dục Bảo tồn và Nghiên cứu Thiên nhiên Trong khoảng thời gian này, nhiều người bắt đầu lo sợ về bụi phóng

xạ, thuốc trừ sâu hóa học được đề cập trong tác phẩm “Silent Spring’’ (xuất bản vào ngày 27 tháng 9 năm 1962), đây là một cuốn sách khoa học môi trường của Rachel Carson (sinh năm 1907, tại Hoa Kỳ) Cuốn sách ra đời đã vấp phải sự phản đối gay

Trang 18

gắt của các công ty hóa chất, nhưng nhờ vào dư luận, cuốn sách đã mang lại nhiều thay đổi, nó giúp truyền cảm hứng cho một phong trào môi trường trong cộng đồng, hiện tượng này được gọi là chủ nghĩa môi trường hay quyền môi trường, đây là một triết

lý, hệ tư tưởng và phong trào xã hội rộng lớn liên quan đến các mối quan tâm bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường

Giáo dục môi trường ra đời từ nhận thức rằng việc giải quyết các vấn đề phức tạp của địa phương và toàn cầu không thể chỉ một mình các chính trị gia và chuyên gia hoàn thành mà cần "sự hỗ trợ và tham gia tích cực của công chúng có hiểu biết trong các vai trò khác nhau của họ như người tiêu dùng, cử tri, người sử dụng lao động, doanh nghiệp và cộng đồng các nhà lãnh đạo."

Một trong những bài báo đầu tiên về giáo dục môi trường như một phong trào mới xuất hiện trên tạp chí Phi Delta Kappan (một tạp chí chuyên nghiệp về giáo dục) vào năm 1969, do James A Swan làm tác giả (Ngoài ra James A Swan còn là tác giả

và đồng tác giả với William Stapp của cuốn sách giáo khoa đại học đầu tiên về giáo dục môi trường.)

Định nghĩa về "Giáo dục Môi trường" lần đầu tiên xuất hiện trên Tạp chí Giáo dục Môi trường vào năm 1969, do William B Stapp viết Stapp sau đó trở thành Giám đốc Giáo dục Môi trường đầu tiên của UNESCO

Ngày Trái đất đầu tiên vào ngày 22 tháng 4 năm 1970 đã mở đường cho phong trào giáo dục môi trường hiện đại

Trên bình diện quốc tế, giáo dục môi trường đã được công nhận khi Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người tổ chức tại Stockholm, Thụy Điển năm 1972, tuyên bố giáo dục môi trường phải được sử dụng như một công cụ để giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu Tổ chức Văn hóa và Khoa học Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO ) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã tạo ra ba tuyên bố chính định hướng cho quá trình giáo dục môi trường

Năm 2002, Thập kỷ Giáo dục vì sự Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc

2005-2014 (UNDESD) được thành lập như một cách để xem xét lại, kích thích và thay đổi cách tiếp cận để hành động tích cực trước những thách thức toàn cầu

Vào ngày 9–14 tháng 6 năm 2013, Đại hội Giáo dục Môi trường Thế giới lần thứ bảy được tổ chức tại Marrakesh, Maroc Chủ đề chung của hội nghị là "Giáo dục môi trường và các vấn đề ở thành phố và nông thôn: tìm kiếm sự hài hòa hơn” và kết hợp

11 lĩnh vực quan tâm khác nhau Đại hội Giáo dục Môi trường Thế giới có 2.400 thành viên, đại diện cho hơn 150 quốc gia Cuộc họp này là lần đầu tiên nó được tổ chức tại một quốc gia Ả Rập và được kết hợp bởi hai tổ chức khác nhau, Quỹ bảo vệ môi trường Mohamed VI và Ban thư ký thường trực của Đại hội giáo dục môi trường thế giới tại Ý Các chủ đề được đề cập tại đại hội bao gồm nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục môi trường và vai trò của nó trong việc trao quyền, thiết lập quan hệ đối tác

để thúc đẩy giáo dục môi trường

Trang 19

Đến nay có rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả khắp nơi trên thế giới viết về vấn đề bảo vệ môi trường, dưới đây là một số cuốn sách bảo vệ môi trường được nhiều người biết đến:

- Tác phẩm “Environmental Protection and Human Rights” (Bảo vệ môi trường

và quyền con người) Cuốn sách này được viết với sự hợp tác của hai tác giả Dinah Shelton và Donald K Anton và được xuất bản vào tháng 4 năm 2011 Với phân tích học thuật độc đáo và thảo luận thực tế, cuốn sách này giới thiệu toàn diện mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và quyền con người đang được chính thức hóa thành luật trong nhiều hệ thống pháp luật Cuốn sách này hướng dẫn về các kỹ thuật và quy trình môi trường hỗ trợ việc bảo vệ quyền con người Văn bản cung cấp hướng dẫn tổng hợp về luật pháp quốc tế về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người liên quan đến môi trường

- Tác phẩm “Silent Spring”, cuốn sách về khoa học môi trường này là của Rachel Carson Được xuất bản vào ngày 27 tháng 9 năm 1962, nó ghi lại những tác động xấu của môi trường do lạm dụng thuốc trừ sâu quá mức

- Tác phẩm “The End of Natur” được xuất bản vào năm 1989 của tác giả Bill McKibben (ông là người sáng lập tổ chức môi trường Step It Up) Đây được gọi là cuốn sách đầu tiên về sự nóng lên toàn cầu được viết cho đối tượng phổ thông

- Tác phẩm “Earth in the Balance” Cuốn sách này được viết bởi Al Gore Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1992, nó đã giúp đưa môi trường vào chương trình nghị

sự quốc gia; Giờ đây, khi các vấn đề môi trường trở thành trung tâm trong ý thức cộng đồng, thì đây là thời điểm thích hợp để phản ánh sâu sắc về số phận của hành tinh chúng ta và cam kết với tương lai của nó Earth in the Balance có cách tiếp cận rộng hơn, tập trung vào các mối đe dọa mà các lựa chọn hàng ngày gây ra đối với khí hậu, nước, đất và sự đa dạng của đời sống động thực vật của chúng ta

- Environment Protection and Education Paperback (Giáo dục và Bảo vệ Môi trường) của các tác giả Neerja Jaiswal và Shilpi Saraswat, được xuất bản ngày 1 tháng

1 năm 2018 Cuốn sách đã đề xuất các giải pháp để tái tạo lại môi trường bị suy thoái, giải quyết một số câu hỏi liên quan đến việc sử dụng và chấp nhận công nghệ mới được phát triển liên quan đến bảo vệ môi trường, làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến sức khỏe liên quan đến điều kiện môi trường dai dẳng, giải quyết một số kỹ thuật thân thiện với môi trường và cung cấp cái nhìn sâu hơn về các phương pháp được lựa chọn để truyền đạt giáo dục môi trường giữa quần chúng

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Giáo dục môi trường được xem là công cụ quan trọng thiết yếu trong các nỗ lực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam Từ năm 1993 nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường và được sửa đổi nhiều lần để phù hợp với tình hình mới Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ rõ:

“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ

Trang 20

có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Qua đó chúng

ta thấy rằng BVMT luôn vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm, vì vậy các chương trình nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu, các dự án về BVMT, GDBVMT đều thuộc diện được nhà nước ưu tiên Vấn đề GDMT đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong cả nước Sau đây là một số công trình nghiên cứu của một số tác giả được ghi nhận góp phần vào hoạt động GDBVMT ở nước ta:

(1) Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường, Lê Văn Khoa (Chủ biên), xuất

bản năm 2011, NXB GD Việt Nam, Hà Nội

Cuốn sách này được biên soạn lần đầu tiên ở Việt nam theo nhiệm vụ do Bộ Giáo dục Đào tạo giao để làm tài liệu giảng dạy, tham khảo, nghiên cứu cho các giáo sinh

sư phạm trong các trường cao đẳng và đại học khối Sư phạm, các viện nghiên cứu có liên quan đến môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường

Trong cuốn sách này có sử dụng một số tranh ảnh, kế hoạch bài dạy và hoạt động thực tế Nội dung cuốn sách đề cập đến các vấn đề: Các vấn đề chung về khoa học môi trường; Sinh quyển và các kiểu hệ sinh thái chính; Tài nguyên thiên nhiên; Tác động của con người đối với môi trường; Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Luật và chính sách môi trường của Việt Nam… Đặc biệt trong cuốn sách này đã cho người đọc nhiều kiến thức về cơ sở lý luận của GDBVMT và tổ chức hoạt động GDBVMT ngoài nhà trường, những nội dung này có ít tài liệu viết đến nên rất quý giá khi nghiên cứu hoạt động GDBVMT

(2) An ninh môi trường, tác giả Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng; Xuất

bản năm 2019; NXB Thông Tin và Truyền Thông

“An ninh môi trường” là một đề tài được đông đảo các học giả, các nhà hoạt động chính trị trong nước cũng như trên thế giới quan tâm Tại Việt Nam đã có một số trung tâm nghiên cứu, đề cấp đến vấn đề này, nhưng những đề tài nghiên cứu đó chỉ được xuất bản dưới dạng tài liệu và lưu hành nội bộ trong ngành Trong tâm của cuốn sách này là các vấn đề tranh chấp tài nguyên và các dịch vụ sinh thái; nguy cơ mất an ninh do thảm họa thiên tai, sự cố môi trường Đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường xuyên biên giới; vấn đề tị nạn môi trường, nhiễu loạn sinh thái và vũ khí sinh thái; trào lưu cực đoan – mối nguy hiểm cho phát triển bền vững và an ninh môi trường Phần Quản trị an ninh môi trường có nhiều đề xuất khá mới, với nhiều minh chứng xác đáng, cụ thể được bổ sung Giúp cho người đọc có thêm những tư duy mới trong việc định hướng ứng phó với các vấn đề an ninh môi trường; đồng thời giúp họ có cơ hội tiếp cận với các vấn đề cụ thể đã từng xảy ra liên quan trực tiếp tới vấn đề an ninh môi trường tại Việt Nam Cuốn sách ra đời đã cung cấp cho người đọc những khái niệm mới, những kiến thức hữu ích về vấn đề sống còn của Môi trường trong sự phát triển bền vững của con người chúng ta; đồng thời cũng là một tài liệu quý giá cho các nhà

Trang 21

quản lý, cán bộ khoa học và sinh viên đang quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực môi trường Cuốn sách gồm 7 chương cụ thể: chương 1: An ninh môi trường; chương 2: Mất an ninh môi trường do thiên tai; chương 3: Những thách thức về môi trường trên thế giới; chương 4: Hậu quả của sự cố và ô nhiễm môi trường đến an ninh xã hôi và sức khỏe cộng đồng; chương 5: An ninh môi trường và khủng bố sinh thái; chương 6: Xóa đói giảm nghèo, biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; chương 7: Chúng ta sẽ phải làm gì trong chương trình nghị sự hôm nay?

(3) Môi Trường Và Sự Đa Dạng Sinh Học, tác giả: GS Võ Quý; xuất bản năm

2018; NXB Đại học quốc gia Hà Nội

Trong các nghiên cứu của mình, Giáo sư Võ Quý đã đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về: môi trường và đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, biển đổi khí hậu và phát triển bền vững tài nguyên môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong thời kỳ chiến tranh đối với vấn đề môi trường tại Việt Nam…

Cuốn sách Môi trường và đa dạng sinh học (Tuyển chọn các công trình nghiên cứu của Giáo Sư Võ Quý) được cấu trúc gồm 2 phần:

Phần I là tập hợp hơn 30 bài nghiên cứu được sắp xếp chủ yếu theo chuỗi thời gian để giúp độc giả biết được phần nào về diễn biến của vấn đề môi trường ở nước ta Phần II của cuốn sách tuyển chọn một số bài báo từ khoảng hơn 300 bài của các tác giả trong nước và quốc tế viết về giáo sư Võ Quý để thấy rõ công lao của Giáo sư

đã góp phần vào việc giải quyết những vấn để về môi trường của đất nước ta và phần nào của cả thế giới

Cuốn sách là một công trình khoa học có chất lượng cao, đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mang tính thời đại về môi trường và đa dạng sinh học Đây sẽ là một công trình rất có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý môi trường; mặt khác cũng là tấm gương sáng để các thế hệ trẻ Việt Nam hiện và sẽ nghiên cứu trong lĩnh vực tài nguyên môi trường học tập, kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu đã đạt được

(4) Môi trường trường của chúng ta, tác giả Nguyễn Thanh Thủy; NXB Giáo dục

Nội dung cuốn sách mô tả đậm nét về môi trường bị ô nhiễm, các nguyên nhân gây ô nhiễm nặng nề và ảnh hưởng của nó đối với sự sống trên trái đất Các nguồn gây

ô nhiễm tự nhiên và các nguồn gây ô nhiễm nhân tạo Và giờ đây, thế giới tươi đẹp của chúng ta đang lên tiếng kêu cứu, đang giận dữ với loài người… Con người đã và đang làm tổn hại đến môi trường

Cuốn sách cung cấp cho độc giả những con số khủng khiếp mang tính thảm họa chưa từng thấy trong lịch sử của tệ nạn chặt phá rừng trong những năm của thế kỉ 20

và những hậu quả nghiêm trọng do nạn chặt phá rừng đã xảy ra Ngoài ra khi đọc cuốn sách này chúng ta sẽ biết được 10 nguyên tắc để bảo vệ môi trường, cùng với góc chuyên gia giúp bạn giải đáp một vài câu hỏi thắc mắc về môi trường

Trang 22

Theo tác giả Nguyễn Thanh Thủy, con người là chủ nhân của hành tinh mang sự sống và là sinh vật tiến hóa nhất giữa muôn loài Do đó, con người phải thấy được trách nhiệm của mình, gìn giữ và bảo vệ môi trường để Trái Đất mãi đẹp, giàu sức sống

(5) Bảo vệ môi trường xanh, tác giả Kim Phụng, xuất bản năm 2013, NXB Văn

hóa - Thông tin

“Bảo vệ môi trường xanh” nằm trong bộ sách gồm 10 tập do nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin giới thiệu, cung cấp đến người đọc 10 khía cạnh khác nhau, giúp chúng ta có thể tìm ra những cách tốt nhất để bảo vệ môi trường sống, để cùng chung tay gánh vác trọng trách cứu vãn trái đất, kéo dài nền văn minh Cuốn sách đã đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường, điều mà mỗi người đều biết, đều nhiệt tình ủng hộ nhưng sự cố gắng trong hành động vẫn còn rời rạc, chưa đồng bộ

và thiếu quyết liệt, cấu trúc của sách không chia theo chương, mục như thông thường

mà được tổng hợp lại từ những mẩu chuyện nhỏ là những hành động cụ thể, thiết thực

để bảo vệ môi trường Mỗi hành động được cô đọng lại trong một khẩu hiệu, mỗi khẩu hiệu sau đó tiếp tục được triển khai về nội dung để cụ thể hóa thành nhiều hành động nhỏ hơn

(6) Giáo dục môi trường biển đảo Việt Nam qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, tác

giả Nguyễn Tuyết Nga, xuất bản năm 2012, NXB GD Việt Nam, Hà Nội

Thực hiện Quyết định số 373/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1461/QĐ – BGD&ĐT về việc giao nhiệm vụ “Xây dựng và thực hiện đề án tăng cường công tác giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục các cấp học và các trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2010 – 2015”.Nhằm định hướng cho việc thực hiện nhiệm vụ trên, với sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu biên soạn bộ tài liệu về bảo vệ môi trường biển đảo cho giáo viên và HS Cuốn sách này cung cấp cho người đọc một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường biển, đảo Giới thiệu 24 mô đun

tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

1.1.3 Nhận xét chung

Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học trong và ngoài nước,

ta có thể nhận định rằng vấn đề quản lý hoạt động GDBVMT nói chung, trong đó có hoạt động GDBVMT ở các trường THPT, đã và đang được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lý và các nhà khoa học Xét một cách tổng thể, các tác giả đã có đóng góp to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, làm sáng tỏ, khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của hoạt đông GDBVMT Song, vấn đề quản lý hoạt động GDBVMT ở các trường THPT chưa được nghiên cứu và giải quyết thỏa đáng Luận văn sẽ kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, đồng thời luận giải chuyên sâu vào giải pháp

“Quản lý hoạt đông GDBVMT ở các Trường THPT, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”

Trang 23

1.2 Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý là một khái niệm rộng, được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở cách tiếp cận khác nhau Một số định nghĩa về quản lý lấy từ một số tài liệu hiện có như: Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [37]

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê làm chủ biên, NXB Đà Nẵng, năm 2000, thì: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [32] Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [24]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng,

có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý (người quản lý,

tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [12]

Như vậy: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản

lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [24]

Theo tác giả Lê Quang Sơn: Nếu tiếp cận giáo dục trên cả hai phương diện (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), thì thấy QLGD phải hiểu theo các cấp độ khác nhau (vĩ mô

và vi mô): Quản lý hệ thống giáo dục và quản lý trường học

Trang 24

- Ở cấp độ quản lý hệ thống giáo dục có thể hiểu: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng

“Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sát một cách hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục và các hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.” [36]

- Quản lý trường học: “Quản lý giáo dục (Quản lý trường học) là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.” [36]

Qua các khái niệm nêu trên, trong luận văn, khái niệm quản lý được hiểu: Quản

lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định

1.2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường

1.2.2.1 Môi trường

Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [27]

Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì “Môi trường của con người bao gồm toàn

bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác những tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình” [23]

Theo tác giả Lê Văn Khoa: Môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng

là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như TNTN, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội, Với nghĩa hẹp, môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân

tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như diện tích nhà , chất lượng bữa ăn hằng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải trí, Ở nhà trường thì môi trường của HS gồm nhà trường, thầy cô giáo, bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội, Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện để chúng ta sống, hoạt động và phát triển [23]

Môi trường sống của con người được phân thành môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội

- Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố gắn với tự nhiên như đất, nước, không

Trang 25

khí, sinh vật,… phát triển theo những quy luật tự nhiên và tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều chịu sự tác động của con người [29]

- Môi trường nhân tạo

Môi trường nhân tạo bao gồm các yếu tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người [29]

- Môi trường xã hội

Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó

là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển đời sống xã hội và làm cho cuộc sống của con người khác với những sinh vật khác Ví dụ: môi trường gia đình, môi trường học tập [29]

Ba loại môi trường nêu trên cùng tồn tại đan xen nhau và có mối quan hệ mật

Như vậy có thể hiểu: Môi trường là các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên

1.2.2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường

Có nhiều cách định nghĩa về giáo dục bảo vệ môi trường

Theo Dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” [14] Theo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học của TS Lê Xuân Hồng định nghĩa:

“Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”[19] Hội nghị quốc tế về GDMT trong chương trình đào tạo của trường học IUCN/UNESCO (Nevada, Mỹ-1970) đã nêu ra định nghĩa: “Giáo dục môi trường là quá trình nhận thức ra giá trị và sáng tỏ các quan điểm, phát triển các kỹ năng và thái

độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh GDMT đòi hỏi thực hành (áp dụng thực tiễn) trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” [28]

Như vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình hình thành và phát triển ở người học sự hiểu biết về bản chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên, từ đó từng bước hình thành thái độ, hành vi, thói quen, năng lực hành động để giải quyết những vấn đề liên quan đến môi trường sống, tạo điều kiện cho họ chung tay xây dựng

xã hội phát triển bền vững

Trang 26

1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

Quản lý GDBVMT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục GDBVMT đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất; giúp đối tượng được giáo dục có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của hoạt động BVMT

Quản lý hoạt động GDBVMT bao gồm: Quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp GDBVMT; Quản lý CSVC-PTKT; Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả của GDBVMT; Quản lý sự phối hợp của các lực lượng giáo dục để hoàn thành các mục tiêu GDBVMT

Quản lý GDBVMT là quá trình thực hiện các chức năng sau: Lập kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường; Tổ chức thực hiện kế hoạch GDBVMT; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDBVMT; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch GDBVMT

Trong phạm vi đề tài sẽ nghiên cứu quá trình quản lý GDBVMT ở cấp độ trường học Vậy có thể hiểu rằng quản lý GDBVMT là hệ thống những tác động có chủ đích,

có kế hoạch, hợp qui luật của hiệu trưởng đến lực lượng tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDBVMT

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông

1.3.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Để xác định được mục tiêu GDBVMT chúng ta có thể tìm hiểu một số khái niệm, quan niệm đã được chấp nhận phổ biến sau:

Hội nghị quốc tế về GDBVMTcủa Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [11]

trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” [14] Vậy GDBVMT là một quá trình hướng đến các mục tiêu giúp con người vận dụng kiến thức để bảo vệ môi trường bền vững trong hiện tại và cả tương lai, tránh thảm họa môi trường, sử dụng khôn khéo và hiệu quả các nguồn tài nguyên

Đối với các trường THPT, GDBVMT hướng đến mục tiêu hình thành ở HS

Trang 27

những kiến thức, kỹ năng, thái độ cụ thể sau:

- HS có được những kiến thức cơ bản về môi trường như: Khái niệm môi trường, tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái; Quan hệ giữa con người và môi trường;

Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường; Các biện pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

- HS nhận thức được tầm quan trọng của môi trường và bảo vệ môi trường để có thái độ, cách ứng xử đúng đắn các vấn đề liên quan đến môi trường, có trách nhiệm đối trong việc bảo vệ môi trường

- HS hình thành được những kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để BVMT Hình thành các kỹ năng ứng xử thân thiện với môi trường, tham gia BVMT

1.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Nội dung GDBVMT trong trường THPT được tích hợp ở nhiều môn học như Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ theo nguyên tắc lồng ghép vào bài học một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài học Việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không làm quá tải bài học Hệ thống kiến thức về BVMT có thể sắp xếp thành các nội dung chính sau

- Môi trường sống của con người: bao gồm các khái niệm liên quan đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái…

- Quan hệ giữa con người và môi trường: Vai trò của môi trường đối với con người; Tác động của con người đến môi trường; Mối quan hệ giữa dân số với môi trường; Công nghiệp hóa, đô thị hóa và vấn đề môi trường

- Ô nhiễm và suy thoái môi trường: Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; Ô nhiễm tiếng ồn; Xử lý chất thải; Sử dụng năng lượng; Vấn đề cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; Đa dạng sinh học…

- Các biện pháp BVMT và phát triển bền vững: Qui định của pháp luật về BVMT

và phát triển bền vững; Các biện pháo BVMT; Nhiệm vụ của HS trong BVMT

Ngoài việc giảng dạy lồng ghép, tích hợp, một số trường THPT đã tiến hành hoạt động ngoại khoá theo các chủ đề liên quan đến các kỹ năng ứng xử thân thiện với môi trường, xử lý chất thải sinh hoạt nhằm BVMT…

1.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Theo hướng dẫn của CV Số: 3857/BGDĐT-GDTrH ngày 11 tháng 05 năm 2009 của Bộ GD&ĐT V/v: Tích hợp nội dung GDBVMT các môn học cấp THCS và THPT thì những môn học thực hiện tích hợp GDBVMT ở cấp THPT bao gồm: Ngữ văn, Địa

lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ…[2] Mỗi môn học, bài học có những điểm riêng biêt nên giáo viên cần căn cứ vào nội dung của các bài học

cụ thể có thể lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp hoặc có thể kết hợp các phương pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục Người dạy có thể sử dụng một số phương pháp dạy học chung như sau

Trang 28

1.3.3.1 Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi có liên quan đến những vấn đề về môi trường để HS trả lời, HS có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó HS lĩnh hội được nội dung giáo viên muốn truyền đạt Phương pháp này thường được sử dụng khi lồng ghép các nội dung liên quan đến GDBVMT vào các đơn vị kiến thức nhỏ của môn học Hệ thống câu hỏi được xây dựng có thể nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới hoặc giúp HS tái hiện những kiến thức

cũ, nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống để trả lời cho những câu hỏi liên quan đến vấn đề BVMT

1.3.3.2 Phương pháp dạy phát hiện học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề có thể sử dụng để tổ chức dạy học các nội dung lớn của bài học liên quan trực tiếp đến thực tiễn bảo vệ môi trường

Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS Bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề Khi sử dụng phương pháp nay giáo viên có thể nêu ra nhưng tình huống cần giải quyết như một khu vực bị ô nhiễm tại địa phương, một cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm… yêu cầu HS phân tích nguyên nhân, thảo luận để đề xuất những biện pháp để giải quyết hoặc lập kế hoạch giải quyết Trên cơ sở kết quả làm việc của HS, giáo viên đánh giá và kết luận

1.3.3.3 Phương pháp dạy học dự án

GDBVMT luôn gắn liền với thực tiễn đời sống, các hoạt động dạy học không chỉ diễn ra trên lớp thông qua các nội dung được tích hợp trong các bài học của nhiều môn học mà còn được thực hiện dưới hình thức tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Do vậy, hình thức dạy học này rất thuận lợi cho việc tổ chức dạy học dựa trên

dự án, nhằm tạo điều kiện cho HS giải quyết các vấn đề thực tiễn bằng các việc làm

cụ thể, khoa học

Dạy học dựa trên dự án được thực hiện qua các nội dung như tham quan, điều tra, khảo sát thực địa … để tìm hiểu thực trạng vấn đề, ví dụ như điều tra khảo sát về tình hình sử dụng đồ nhựa dùng một lần tại địa phương và mối nguy hại đối với môi trường

Quá trình thực hành làm dự án thường được thực hiện trong thời gian dài, kết hợp các khâu làm việc ở nhà, ngoài tự nhiên với ở lớp Giáo viên cần tổ chức cho HS thực hiện theo nhóm, để có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ Giáo viên cần lập kế hoạch và tìm hiểu thực tiễn trước khi tổ chức thực hiện dự án để dự kiến những khó khăn, tình huống phát sinh và cách giải quyết, khắc phục Đồng thời, giáo viên cần xây dựng hệ thống các biểu mẫu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức HS thực hiện, báo cáo và đánh giá dự án

Trang 29

1.3.3.4 Phương pháp thí nghiệm

Có những hiện tượng xảy ra môi trường khó có thể quan sát trong điều kiện bình thường vì vậy phương pháp thí nghiệm là cần thiết để giúp HS có thể quan sát được những hiện tượng đã xảy ra trong thiên nhiên Từ những thí nghiệm HS hiểu rõ được bản chất và có cách nhìn khoa học đối với những hiện tượng trong thiên nhiên để phát huy hoặc hạn chế theo hướng có lợi cho môi trường Ngoài ra việc trực tiếp làm thí nghiệm giúp HS khắc sâu những kiến thức cần thiết và có thể vận dụng những kiến thức này để bảo vệ môi trường sống của bản thân, cộng đồng trong hiện tại và cả tương lai

1.3.3.5 Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục

Trong đời sống hằng ngày HS đã có sẵn những kinh nghiệm thực tế về môi trường sống xung quanh như nguồn nước uống, môi trường không khí, khu vui chơi, sân trường, phố chợ… Người dạy có thể giúp HS vận dụng những kinh nghiệm của bản thân để tiếp cận, nắm bắt được một số kiến thức BVMT hiệu quả đồng thời hình

thành ý thức bảo vệ môi trường sống của chính bản thân

1.3.3.6 Phương pháp hoạt động thực tiễn

Mục tiêu quan trọng của GDBVMT là giúp HS có được phương pháp hành động

cụ thể BVMT Phương pháp hoạt động thực tiễn giúp HS ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kỹ năng, thói quen BVMT Cho các em tham gia các hoạt động như dọn dẹp vệ sinh trường lớp, tạo các sản phẩm từ nguyên liệu là rác thải nhựa, trồng cây xanh…là những hoạt động mang tính giáo dục cao về ý thức BVMT

1.3.3.7 Phương pháp nêu gương

Đây là phương pháp mang ý nghĩa tích cực cho cả cộng đồng bởi hành động của một cá nhân có thể bị chi phối rất nhiều bởi những người xung quanh Những gương tốt về ý thức, hành động BVMT sẽ có sức lan tỏa lớn nếu như được quan tâm và khuyến khích Để nâng cao hiệu quả GDBVMT thì nhiệm vụ nêu gương trước tiên là

từ thầy cô giáo và cha mẹ HS

1.3.3.8 Phương pháp tiếp cận kỹ năng sống bảo vệ môi trường

Hoạt động BVMT sẽ hiệu quả hơn nếu chủ thể có kỹ năng Trong quá trình giáo dục cần chú ý việc giúp HS rèn luyện các kỹ năng BVMT thông qua việc luyện tập xử

lý các tình huống môi trường cụ thể Một số kỹ năng quan trọng cần phát triển cho người học bao gồm: kỹ năng nhận biết và phát hiện các vấn đề về MT; kỹ năng xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường; kỹ năng ra quyết định về MT; kỹ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động BVMT Việc rèn luyện các kỹ năng này giúp HS

có khả năng ứng xử tích cực đối với các vấn đề về môi trường

1.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Tại các trường THPT, GDBVMT được xem là một trong các nhiệm vụ quan trọng và được triển khai dưới 2 hình thức chủ yếu : Tích hợp nội dung GDBVMTở các môn học và GDBVMT thông qua các hoạt động NGLL

Trang 30

1.3.4.1 Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua việc tích hợp trong các môn học

Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong đời sống, qua đó phát triển được năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau Tích hợp GDBVMT vào các môn học là sự kết hợp chặt chẽ có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức các môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ Trên cơ sở nội dung của bài học người dạy sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học nhằm hướng đến đạt những mục tiêu GDBVMT nhất định Chương trình và sách giáo khoa đã được xây dựng trên tinh thần tích hợp nội dung GDBVMT theo yêu cầu chung nên hầu hết các môn học đều đã thể hiện nội dung GDBVMT ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo từng bài học Có 3 mức độ tích hợp là

- Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của GDBVMT

- Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần học có mục tiêu và nội dung của GDBVMT

- Mức độ liên hệ: Bài học có điều kiện liên hệ một cách lôgic với các kiến thức, các vấn đề về môi trường, BVMT

Nguyên tắc tích hợp GDBVMT là lồng ghép các nội dung BVMT vào bài học một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài học Việc tích hợp làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không làm quá tải bài học

Trong trường THPT, các môn học như: Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật

lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ có nhiều nội dung gần với nội dung GDBVMT hơn

cả vì vậy người dạy cần khai thác hợp lý các cơ hội để thực hiện GDBVMT

1.3.4.2 Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

Hoạt động NGLL có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động giáo dục Là hoạt động bắt buộc được qui định trong kế hoạch giáo dục ở trường phổ thông nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra

Mục tiêu của GDBVMT không chỉ giúp HS có được những kiến thức cơ bản về môi trường, nhận thức được tầm quan trọng của môi trường mà còn giúp HS hình thành được những kỹ năng, phương pháp, hành động cụ thể để BVMT, hình thành các kỹ năng ứng xử thân thiện với môi trường, tham gia BVMT Vì vậy, GDBVMT thông qua hoạt động NGLL là hình thức dạy học hiệu quả để đạt được mục tiêu này

Theo hướng dẫn của tài liệu phân phối chương trình giáo dục THPT cho hoạt động NGLL của Bộ GD&ĐT dùng cho các cơ quan quản lí giáo dục và giáo viên (áp dụng từ năm học 2009-2010) thì GDBVMT là một trong các nội dung cần lồng ghép vào hoạt động giáo dục NGLL của nhà trường

Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể thực

Trang 31

hiện bằng những phương thức sau:

- Tuyên truyền, giáo dục về ý thức BVMT bằng cách tích hợp vào các hoạt động giáo dục NGLL

- Tổ chức các hoạt động mang ý nghĩa, thông điệp bảo vệ môi trường nhân dịp các ngày lễ lớn hoặc sự kiện của nhà trường

- Tổ chức các hoạt động thi nhằm truyền tải thông điệp bảo vệ môi trường như: thi vẽ tranh theo chủ đề Môi trường, thi thiết kế chậu hoa để bàn từ vật liệu rác thải nhựa, thi tìm hiểu về kiến thức BVMT…

- Tổ chức hoạt động tham quan thiên nhiên để giáo dục các em biết cách yêu thiên và hình thành ý thức bảo vệ môi trường

Ngoài ra, hoạt động GDBVMT còn được tích hợp trong các giờ sinh hoạt lớp của GVCN, các tiết sinh hoạt tập thể và đặc biệt hoạt động của Đoàn Thanh niên

1.3.5 Đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Giáo dục về BVMT là quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức, tâm huyết của các lực lượng trong và ngoài nhà trường

1.3.5.1 Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động GDBVMT đặc biệt là giáo viên giảng dạy các môn học như Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân… vì đây là những môn học có nhiều cơ hội tích hợp các nội dung GDBVMT Đội ngũ giáo viên là những người trực tiếp lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp phù hợp để đạt được những mục tiêu của GDBVMT vì vậy ý thức, tinh thần trách nhiệm, năng lực sư phạm của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả GDBVMT của nhà trường

Thực hiện nhiệm vụ xung kích trong tuyên truyền bảo vệ môi trường nhiều Sở GD&ĐT đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về môi trường cho đội ngũ giáo viên và cán bộ cốt cán Mục tiêu của các khóa tập huấn là giúp các giáo viên có cái nhìn tổng quát về các vấn đề môi trường nói chung, tích hợp và lồng ghép các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường vào bài giảng của mình, không chỉ trong những môn có liên quan trực tiếp đến môi trường như Sinh học hay Địa lý Qua lớp tập huấn bồi dưỡng, cung cấp kiến thức kịp thời cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong công tác tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học, tình hình biến đổi khí hậu và thông tin các văn bản liên quan đến công tác bảo vệ môi trường; hướng dẫn trồng và bảo quản cây xanh trong trường học an toàn, mỹ quan Giúp quý thầy cô có thêm vốn kiến thức để thực hiện tốt công tác truyền thông tại đơn vị; thực hiện hiệu quả việc lồng ghép, tích hợp vào công tác tổ chức giảng dạy và các hoạt động ngoại khoá tuyên truyền nâng cao ý thức HS trong công tác giữ gìn vệ sinh môi trường Xanh - Sạch - Đẹp

1.3.5.2 Các lực lượng gia giáo dục bảo vệ môi trường khác

Bên cạnh đội ngũ giáo viên đóng vai trò trọng tâm trong hoạt động GDBVMT

Trang 32

thông qua hình thức tích hợp trong các môn học thì còn có nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường khác như các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương, gia đình…cũng có những vai trò nhất định trong hoạt động GDBVMT

Trong các lực lượng trên thì Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ GDBVMT Hoạt động quan trọng xuyên suốt của tổ chức Đoàn là nhiệm vụ giáo dục như giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức lối sông, giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường… Đoàn Thanh niên tham gia công tác GDBVMT thông qua những phong trào, những hành động cụ thể và thiết thực Sự kết hợp chặt chẽ nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn trong hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên đem lại hiệu quả cao trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục ý thức và kỹ năng BVMT Ngoài ra, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tạo điều kiện cho HS tham gia vào các hoạt động công ích ở địa phương như trồng cây xanh, thu dọn rác thải, giữ gìn cảnh quang nhà trường, vệ sinh môi trường các khu di tích lịch sử và nghĩa trang liệt sĩ, duy trì chăm sóc cây xanh là rất cần thiết, góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động GDBVMT

1.3.6 Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học phục vụ hoạt động GDBVMT là tập hợp những công trình, phương tiện vật chât, kỹ thuật và thiết bị của nhà trường được đầu tư, trang bị và sử dụng làm công cụ để thực hiện nhiệm vụ GDBVMT; bao gồm phòng học, bàn ghế, thư viện, sách, tạp chí, phương tiện nghe nhìn, sân trường, bồn hoa,

nhìn phục vụ công tác GDBVMT Quá trình GDBVMT cũng như các quá trình giảng dạy khác, nó cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau

đó là: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Người dạy - Người học - Phương tiện kỹ thuật dạy học CSVC, PTKT dạy học là thành tố không thể thiếu trong quá trình thực hiện mục tiêu của GDBVMT Do đó, đòi hỏi nhà trường cần có CSVC, PTKT dạy học phục vụ cho GDBVMT một cách phù hợp Bên cạnh đó tạo cảnh quan MT xanh – sạch – an toàn cũng hết sức cần thiết Ngoài ra, kinh phí của nhà trường có thể coi là phương tiện quan trọng để tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động thực tiễn và tổ chức các hoạt động tham quan thực địa nhằm GDBVMT cho HS

1.3.7 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Kiểm tra và đánh giá hoạt động GDBVMT là các khâu trong một quá trình thống nhất nhằm xác định kết quả thực hiện mục tiêu hoạt động GDBVMT Trong đó kiểm tra là hoạt động thu thập thông tin về mức độ thực hiện mục tiêu, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động GDBVMT Căn cứ vào mục tiêu GDBVMT để quyết định nội dung và hình thức KTĐG hoạt động này

Trang 33

Kiểm tra và đánh giá giúp các lực lượng tham gia GDBVMT biết được kết quả quá trình giáo dục có đạt được mục tiêu đã xác định hay không, đồng thời giúp cho cán bộ quản lý giáo dục nắm được các thông tin cơ bản về thực trạng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường để có sự chỉ đạo kịp thời, đúng hướng

Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDBVMT cần đảm bảo đánh giá được các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS; đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan và công bằng; đảm bảo tính khả thi, nghĩa là phù hợp với điều kiện HS, cơ sở giáo dục, đặc biệt là phù hợp với mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Mục tiêu GDBVMT là hệ thống các yêu cầu cần đạt được khi thực hiện hoạt động GDBVMT vì vậy quản lý mục tiêu GDBVMT đóng vai trò quan trọng đảm bảo

sự thành công của nhiệm vụ GDBVMT

Quản lý mục tiêu GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các nguồn lực tham gia GDBVMT một cách tối ưu nhằm xây dựng, truyền tải và thực hiện các mục tiêu GDBVMT

Để nâng cao hiệu quả quản lý mục tiêu GDBVMT cần thực hiện tốt quy trình sau:

- Thiết lập mục tiêu GDBVMT của nhà trường: các mục tiêu này cần phải rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức, thực tế và có thời hạn

- Truyền tải mục tiêu đến các lực lượng tham gia hoạt động GDBVMT: các mục tiêu cần được truyền tải từ CBQL đến các lực lượng tham gia QLGDBVMT

- Khuyến khích quá trình thực hiện mục tiêu GDBVMT của đội ngũ

- Kiểm soát quá trình thực hiện mục tiêu GDBVMT

- Đánh giá và khen thưởng kết quả thực hiện mục tiêu

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Quản lý nội dung GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các nguồn lực tham gia GDBVMT một cách tối ưu nhằm mục đích truyền đạt được các nội dung GDBVMT đến HS

Nội dung GDBVMT trong nhà trường THPT được tích hợp vào các môn học của chương trình giáo dục và các hoạt động NGLL Để quản lý nội dung GDBVMT trước tiên CBQL cần căn cứ các văn bản hướng dẫn của Sở GD&ĐT liên quan đến nội dung GDBVMT ở các trường THPT để lập kế hoạch xây dựng nội dung, địa chỉ tích hợp

cụ thể cho từng môn học và hoạt động NGLL, triển khai khai kế hoạch đến tổ chuyên môn Việc thiết lập nội dung lồng ghép vào từng môn học và hoạt động cần căn cứ trên hướng dẫn văn bản, tính đặc thù của bộ môn và nội dung của từng bài học, từng hoạt động Nội dung GDBVMT phải đảm bảo khả năng đạt được mục tiêu GDBVMT

Để quản lý nội dung GDBVMT hiệu quả hiệu trưởng cần chỉ đạo, kiểm tra việc điều hành của tổ trưởng chuyên môn và sự phối hợp của giáo viên trong quá trình xây

Trang 34

dựng kế hoạch giáo dục môn học Những nội dung, địa chỉ tích hợp GDBVMT phải được sự thống nhất của tổ chuyên môn và được thể hiện rõ ràng cụ thể trong kế hoạch giáo dục môn học của tổ chuyên môn hoặc kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp Việc tập huấn cho đội ngũ giáo viên cốt cán về việc xây dựng nội dung GDBVMT cũng rất quan trọng đảm bảo tính logic và hiệu quả của nội dung GDBVMT trong nhà trường

1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Quản lý phương pháp GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các nguồn lực tham gia GDBVMT một cách tối ưu nhằm xây dựng và sử dụng thích hợp, hiệu quả hệ thống các phương pháp trong hoạt động GDBVMT

Việc sử dụng các phương pháp GDBVMT do người dạy quyết định, tuy nhiên để quản lý hoạt động GDBVMT hiệu quả thì phương pháp GDBVMTcũng cần được quản

lý Quản lý phương pháp GDBVMT là quản lý quá trình xây dựng hệ thống các phương pháp thích hợp cho hoạt động GDBVM, quản lý quá trình sử dụng phương pháp GDBVMT của đội ngũ Ngoài ra việc lựa chọn phương pháp GDBVMT thích hợp phụ thuộc kiến thức, kỹ năng, năng lực của đội ngũ tham gia GDBVMT Vì vậy

để phát huy được tính hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp GDBVMT hiệu trưởng cần phải tổ chức tập huấn, hướng dẫn để nâng cao năng lực vận dụng các phương pháp giáo dục cho đội ngũ nhằm truyền tải nội dung GDBVMT đạt được các mục tiêu đã định, đây cũng là một nội dung quan trọng trong quá trình quản lý phương pháp GDBVMTcủa nhà trường

1.4.4 Quản lý các hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Quản lý các hình thức tổ chức GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các nguồn lực tham gia GDBVMT một cách tối ưu nhằm sử dụng có hiệu quả các hình thức GDBVMT

Mỗi hình thức tổ chức GDBVMT có những đặc trưng riêng, để thực hiện được mục tiêu GDBVMT thì việc việc quản lý các hình thức tổ chức GDBVMT là rất cần thiết

1.4.4.1 Quản lý hoạt động dạy học các môn có tích hợp, lồng ghép nội dung

GDBVMT

- Quản lý chương trình dạy học có tích hợp nội dung GDBVMT

+ Chương trình dạy học được Bộ GD&ĐT ban hành, việc xây dựng nội dung tích hợp GDBMT vào chương trình của từng môn học được thực hiện theo các văn bản chỉ đạo, có sự thống nhất của tổ chuyên môn, phê duyệt của hiệu trưởng và được thực hiện theo quy trình sau: Thông qua việc nghiên cứu toàn bộ chương trình môn học kết hợp với việc nghiên cứu mục tiêu và nội dung GDBVMT để xác định địa chỉ có thể tích hợp GDBVMT; thiết kế các hoạt động tích hợp nội dung GDBVMT phù hợp với nội dung bài học; tìm kiếm các thông tin thực tiễn về môi trường có liên quan đến nội dung bài học để chuyển tải nội dung, đạt được mục tiêu GDBVMT

Trang 35

+ Để quản lý hiệu quả chương trình giáo dục có tích hợp nội dung GDBVMT trước tiên CBQL cần phải nắm vững chương trình dạy học có tích hợp nội dung GDBVMT; kiểm soát được kế hoạch giáo dục môn học của tổ chuyên môn, đảm bảo

kế hoạch phải thể hiện rõ ràng cụ thể nội dung, địa chỉ tích hợp GDBVMT

- Quản lý việc chuẩn bị các tiết học có tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

+ Chất lượng tiết học có tích hợp nội dung GDBVMT phụ thuộc rất nhiều vào khâu chuẩn bị của giáo viên Mỗi tiết học trên lớp muốn thành công trước tiên phải được giáo viên chuẩn bị chu đáo từ khâu xác định nội dung, mục tiêu, phương pháp, xây dựng các chuỗi hoạt động đến việc bố trí thời lượng cụ thể; tất cả những nội dung này phải được thể hiện trong kế hoạch bài dạy của giáo viên Vì vậy để quản lý hiệu quả hoạt động GDBVMT của nhà trường cần chú trọng khâu quản lý việc chuẩn bị các tiết học có nội dung GDBVMT của giáo viên

+ Quản lý việc chuẩn bị các tiết học có nội dung GDBVMT của giáo viên được thực hiện thông qua quản lý việc xây dựng nội dung, địa chỉ tích hợp nội dung GDBVMT của tổ chuyên môn; quản lý việc theo dõi, kiểm tra của tổ trưởng chuyên môn đối với việc thiết kế kế hoạch bài dạy có tích hợp GDBVMT của giáo viên Ngoài

ra CBQL cần có những biện pháp hợp lý để hạn chế việc thiếu sót nội dung BVMT trong soạn giảng các bài học có yêu cầu tích hợp Quản lý hợp lý khâu chuẩn bị tiết học có tích hợp nội dung GDBVMT sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDBVMT của nhà trường

- Quản lý giờ dạy trên lớp có tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường của giáo viên

+ Quản lý kế hoạch giáo dục của giáo viên, yêu cầu kế hoạch phải thể hiện rõ địa chỉ tích hợp nội dung GDBVMT

+ Xây dựng chuẩn giờ lên lớp làm cơ sở để đánh giá kết quả tiết dạy Việc xây dựng chuẩn cần đảm bảo tính thống nhất với tiêu chuẩn đánh giá tiết dạy mà Bộ hoặc

Sở Giáo dục đào tạo qui định nhưng đồng thời đánh giá được kết quả tích hợp các nội dung GDBVMT Chuẩn giờ lên lớp cũng là một quyết định quản lý của hiệu trưởng + Giao nhiệm vụ cho tổ chuyên môn kiểm tra và báo cáo về việc thực hiện giờ dạy tích hợp GDBVMT của giáo viên

- Quản lý việc dự giờ và phân tích giờ dạy đối với các tiết có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường

+ CBQL tham gia dự giờ các tiết học có tích hợp GDBVMT: hoạt động này giúp CBQL kiểm tra đánh giá được năng lực sư phạm của giáoviên, đánh giá được thực trạng GDBVMT của tổ chuyên môn, nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại,

tư vấn thúc đẩy giúp giáo viên nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng dạy học

+ Quản lý hoạt động dự giờ thông qua các báo cáo của tổ trưởng chuyên môn về việc thực hiện kế hoạch dự giờ của tổ

Trang 36

+ Quản lý hoạt động phân tích giờ dạy tích hợp GDBVMT thông qua biên bản sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

- Quản lý hồ sơ của tổ chuyên môn và của giáo viên

+ Theo thông tư 32/2020/TT-BGDĐT - Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 2020 thì hệ thống

hồ sơ quản lý hoạt động giáo dục đối với tổ chuyên môn bao gồm: kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và biên bản ghi chép nội dung sinh hoạt của tổ chuyên môn [4] Trong những loại hồ sơ theo văn bản quy định thì nội dung, địa chỉ tích hợp GDBVMT được thể hiện trong kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và quá trình đánh giá, phân tích tiết dạy có tích hợp nội dung GDBVMT được thể hiện trong biên bản ghi chép nội dung sinh hoạt chuyên môn của tổ

+ Cũng theo thông tư 32/2020/TT-BGDĐT, hệ thống hồ sơ sổ sách của giáo viên bao gồm: kế hoạch giáo dục của giáo viên, kế hoạch bài dạy, sổ theo dõi và đánh giá

HS, sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp) [4] Trong những loại hồ sơ theo văn bản quy định thì nội dung, địa chỉ tích hợp GDBVMT được thể hiện trong kế hoạch giáo dục của giáo viên Nội dung, mục tiêu, phương pháp GDBVMT cụ thể thể hiện trong kế hoạch bài dạy của giáo viên

Như vậy việc quản lý hồ sơ của tổ chuyên môn và của giáo viên là một nội dung cần thiết trong quản lý GDBVMT của nhà trường

1.4.4.2 Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

Quản lý hoạt động GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các lực lượng giáo dục nhằm giúp các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thực hiện được mục tiêu GDBVMT Quá trình quản lý hoạt động GDBVMT thông qua hoạt động NGLL bao gồm những nội dung:

- Xây dựng kế hoạch hoạt động GDBVMT thông qua hoạt động NGLL: Để xây dựng được kế hoạch hoạt động giáo dục NGLL trước hết cần phải nắm rõ nội dung chương trình các môn học trong nhà trường; mục tiêu, nội dung của hoạt động GDBVMT Kế hoạch hoạt động GDBVMT thông qua hoạt động NGLL phải được xây dựng trong sự phối hợp với kế hoạch của các bộ phận khác trong nhà trường như kế hoạch dạy – học, kế hoạch hoạt động ngoại khóa của tổ chuyên môn.…

- Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GDBVMTthông qua hoạt động NGLL: thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục NGLL do hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng làm trưởng ban Ban chỉ đạo có nhiệm vụ tổ chức hoạt động, phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn Thanh niên và các lực lượng giáo dục khác khi tổ chức các hoạt động có tích hợp nội dung GDBVMT

- Chỉ đạo thực hiện: Ban chỉ đạo hoạt động NGLL huy động mọi nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả kế

Trang 37

hoạch tích hợp GDBVMT vào hoạt động GNLL

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, kể cả hoạt động của lớp và hoạt động của toàn trường để lần sau tổ chức tốt hơn, thành công hơn

1.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT

Quản lý CSVC, PTKT học phục vụ hoạt động GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các các nguồn lực tham gia GDBVMT nhằm sử dụng có hiệu quả CSVC, PTKT dạy học phục

Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDBVMT là sự tác động có tổ chức,

có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các các nguồn lực tham gia GDBVMT nhằm thực hiện việc kiểm tra, đánh giá một cách phù hợp và hiệu quả các hoạt động GDBVMT

Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDBVMT thông qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh, giá của tổ chuyên môn, ban chỉ đạo hoạt động NGLL …Ban giám hiệu cần hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá các hoạt động GDBVMT đồng thời kiểm tra, giám sát đối với việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDBVMT

1.4.7 Quản lý sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục bảo

vệ môi trường cho học sinh THPT

Quản lý sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động GDBVMT là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của hiệu trưởng đến các các lực lượng tham gia GDBVMT nhằm đạt được sự phối hợp một cách tối ưu nhất Quản lý sự phối hợp của các lực lượng tham gia hoạt động GDBVMT bao gồm các nội dung sau: xây dựng kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt động GDBVMT; thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt GDBVMT; xây dựng cơ chế phối hợp để duy trì mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động GDBVMT

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn đã tổng quan các tài liệu, các công trình khoa học trong và ngoài nước về vấn đề quản lý hoạt động GDBVMT, luận văn đã phân tích, làm sáng tỏ và khẳng định một số khái niệm, bổ sung hoặc làm sâu sắc thêm những lý luận về quản lý hoạt động GDBVMT ở các trường THPT, trong đó nhấn mạnh: Quản

lý GDBVMT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình GDBVMT đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất Theo cách tiếp cận chức năng, quản lý hoạt động GDBVMT là quá trình thực hiện các chức năng: lập kế hoạch GDBVMT; tổ chức thực hiện kế hoạch GDBVMT; chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDBVMT; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch GDBVMT

Vấn đề môi trường luôn là vấn đề toàn cầu, hoạt động bảo vệ môi trường luôn là hoạt động có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước Để thế hệ tương lai kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành động cụ thể để bảo vệ môi trường sống của chính mình thì cần có sự vào cuộc của nhiều tổ chức chính trị và vai trò xung kích thuộc về ngành giáo dục Qua nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý và quản lý hoạt động GDBVMT, luận văn xây dựng khung lý luận về quản lý hoạt động GDBVMT ở các trường THPT một cách logic với tập hợp 07 vấn đề: quản lý mục tiêu; quản lý nội dung; quản lý hình thức; quản lý phương pháp GDBVMT; quản lý CSVC-PTKT; quản

lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả của GDBVMT; quản lý sự phối hợp của các lực lượng giáo dục để hoàn thành các mục tiêu GDBVMT Đây là những nội dung cơ bản tập trung vào quản lý tổng thể các yếu tố làm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quá trình quản lý hoạt động GDBVMT ở các trường THPT trong giai đoạn hiện nay Đây cũng

là cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp của đề tài

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và giáo dục đào tạo của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung; phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế; phía Đông giáp biển Đông; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Hình 2.1 Bản đồ thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam .

Thành phố Tam Kỳ, về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 70 km; về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà khoảng 30 km và cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km, gắn với QL1A, QL40 và kết nối với hệ thống

Trang 40

giao thông quốc gianối các huyện miền biển, trung du, đồng bằng và duyên hải, gắn kết với các tỉnh Tây Nguyên, Lào

Năm 1471, Thành phố Tam Kỳ là huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của đạo Thừa Tuyên tỉnh Quảng Nam, được hình thành dưới thời vua Lê Thánh Tông

Đến năm 1906, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phủ Tam Kỳ Từ một phủ lỵ năm 1906 đến năm 1997 trở thành Thị xã tỉnh lỵ và nay là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam

Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 đơn vị xã, phường (9 phường, 04 xã đó là: Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa,

An Phú, Trường Xuân và xã Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh)

Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ,

là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông Địa hình có dạng đồi thấp, và đồng bằng được hình thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa trôi Hướng dốc chung của địa hình từ Tây sang Đông, địa hình toàn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang

Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa chiếm 70-75% cả năm Lượng mưa tháng trong thời kỳ này đạt 400mm, tháng 10 lớn nhất: 434mm

- Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25-30% cả năm Lượng mưa tháng trong thời kỳ này chỉ đạt 25mm, tháng 3 có lượng mưa nhỏ nhất trong năm: 12mm

Sông Tam Kỳ: Là hợp lưu của 10 con sông suối nhỏ, bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây, chảy theo hướng Tây - Đông xuống dòng chính tại Xuân Bình - Phú Thọ, xã Tam Trà, huyện Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy ra cửa An Hòa (Núi Thành) Diện tích lưu vực khoảng 800km2 Do nằm trong vùng nhiều mưa, rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối điều hòa theo mùa Lưu lượng lớn nhất của sông Tam kỳ là 20,7m3/s

Sông Bàn Thạch: Là sông lớn nhất chảy qua thành phố Tam Kỳ, chảy từ phía Tây sang phía Đông của thành phố Sông Bàn Thạch hợp lưu với sông Tam Kỳ tại khu vực phía Đông Thành phố, tạo thành sông Trường Giang dài 12km trước khi đổ ra biển Lưu lượng lớn nhất của sông Bàn Thạch là 96,6m3/s

Ngoài hai hệ thống sông trên, Tam Kỳ còn có sông Trường Giang là sông nước mặn và nước lợ chạy sát biển nối cửa An Hòa với cửa Đại - Hội An, khi lũ lớn chỉ ảnh hưởng tràn bờ vùng sát ven sông có cao độ nền <2,5m

Sông Trường Giang không có thượng lưu và hạ lưu, chạy ngang, song song với

bờ biển Quảng Nam Sông dài trên bảy chục cây số, nối hạ lưu hệ thống sông Vu Gia -

Ngày đăng: 22/06/2022, 22:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tên bảng - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
n bảng (Trang 11)
DANH MỤC CÁC BẢNG - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 11)
Tên bảng - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
n bảng (Trang 12)
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ (Trang 13)
Bảng 1.3. Cỏc loại hỡnh hỗ trợ nụng nghiệp trong nƣớc theo Hiệp định Nụng nghiệp của WTO - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 1.3. Cỏc loại hỡnh hỗ trợ nụng nghiệp trong nƣớc theo Hiệp định Nụng nghiệp của WTO (Trang 15)
Hình 2.1. Bản đồ thành phốTam Kỳ tỉnh Quảng Nam. - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Hình 2.1. Bản đồ thành phốTam Kỳ tỉnh Quảng Nam (Trang 39)
Bảng 2.1. Kết quả thống kê hạnh kiểm các năm học - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.1. Kết quả thống kê hạnh kiểm các năm học (Trang 43)
- Nhận thức về vai trò của GDBVMT trong trường THPT đối với việc hình thành cho HS các kỹ năng và hành vi BVMT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
h ận thức về vai trò của GDBVMT trong trường THPT đối với việc hình thành cho HS các kỹ năng và hành vi BVMT (Trang 47)
Bảng 2.7. Đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của GDBVMT đối với việc hình thành thái độ, tình cảm - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.7. Đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, GV về vai trò của GDBVMT đối với việc hình thành thái độ, tình cảm (Trang 48)
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng quản lý mục tiêu GDBVMT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng quản lý mục tiêu GDBVMT (Trang 51)
Bảng 2.11. Đánh giá thực trạng thực hiện nội dung GDBVMT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.11. Đánh giá thực trạng thực hiện nội dung GDBVMT (Trang 52)
2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT (Trang 52)
Bảng 2.12. Đánh giá thực trạng quản lý nội dung GDBVMT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.12. Đánh giá thực trạng quản lý nội dung GDBVMT (Trang 53)
Bảng 2.13. Đánh giá thực trạng sử dụng các phương pháp GDBVMT - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
Bảng 2.13. Đánh giá thực trạng sử dụng các phương pháp GDBVMT (Trang 55)
Qui trình công nghệ được thể hiện trên hình sau: - Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam
ui trình công nghệ được thể hiện trên hình sau: (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm