1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Hà Nội, năm 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1 Lí luận chung về văn bản quy phạm pháp luật 2 2 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc xác lập quan hệ pháp luật 3 3 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc thực hiện pháp luật 5 4 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý 6 5 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc giáo dục pháp luật 7 KẾT LUẬN 8 1 MỞ ĐẦU Quy phạm pháp luật là một trong những vấn đề lý luận cơ bản, v.
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ
NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hà Nội, năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí luận chung về văn bản quy phạm pháp luật 2
2 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc xác lập quan hệ pháp luật 3
3 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc thực hiện pháp luật 5
4 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý 6
5 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc giáo dục pháp luật 7
KẾT LUẬN 8
Trang 3MỞ ĐẦU
Quy phạm pháp luật là một trong những vấn đề lý luận cơ bản, vô cùng phức tạp của lý luận và thực tiễn nhận thức, vận dụng pháp luật Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật cần đến nhiều điều kiện giải pháp, trong đó không thể thiếu được sự am hiểu đúng đắn, thống nhất các quy phạm pháp luật Vì vậy, việc nghiên cứu:
“Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc:
- Xác lập quan hệ pháp luật
- Thực hiện pháp luật
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý
- Giáo dục pháp luật
là một việc vô cùng cần thiết, giúp cho hiểu biết và ý thức pháp luật của người dân được nâng cao
Trang 42
NỘI DUNG
1 Lí luận chung về văn bản quy phạm pháp luật
Khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật” đã được quy định lần đầu tiên trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 1996; được
kế thừa trong Luật ban hành VBQPPL năm 2004 và năm 2008 Khái niệm này là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền phân biệt VBQPPL với văn bản hành chính
và văn bản áp dụng pháp luật, góp phần hạn chế đáng kể số lượng văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật (QPPL) Tuy nhiên, do cách định nghĩa trong các Luật trên còn nặng về học thuật, lại chưa cụ thể nên đã gây khó khăn, lúng túng trong việc xác định văn bản nào là VBQPPL
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của khái niệm VBQPPL và để khắc phục hạn chế từ thực tiễn triển khai, Luật năm 2015 đã quy định rõ khái niệm “Văn bản quy phạm pháp luật” và khái niệm “Quy phạm pháp luật”, cụ thể như sau:
- VBQPPL (Điều 2) là văn bản có chứa QPPL, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này
Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là VBQPPL.”
- Quy phạm pháp luật (khoản 1 Điều 3) là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Đây là một trong những điểm mới đáng ghi nhận của Luật năm 2015 nhằm loại trừ khả năng cơ quan nhà nước không có thẩm quyền hoặc có thẩm quyền nhưng ban hành văn bản một cách tùy tiện, không tuân thủ hình thức, trình tự, thủ tục do luật định nhằm né tránh sự kiểm soát, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản trong quá trình soạn thảo, ban hành
Trang 5 VBQPPL có những đặc điểm sau:
- Do những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện bao gồm: Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân các cấp, uỷ ban nhân dân các cấp Ngoài ra, theo quy định của pháp luật VBQPPL còn được ban hành bởi Đoàn Chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, các chủ thể phối hợp với nhau để ban hành thông tư liên tịch (Xem: Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL năm 2020)
- Nội dung của VBQPPL là các QPPL được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn và là cơ sở để ban hành các văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính thông dụng
Từ những phân tích trên có thể thấy VBQPPL là loại nguồn trực tiếp của pháp luật, do đó nó có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tạo lập một trật tự pháp luật vì sự phát triển lành mạnh của cả xã hội và của từng cá nhân
2 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc xác lập quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các QPPL khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước
sẽ bảo đảm thực hiện
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí: quan hệ pháp luật có thể được thiết lập giữa các cá nhân, tổ chức với nhau hoặc giữa các cá nhân, tổ chức với Nhà nước Trong mọi trường hợp những quan hệ pháp luật này đều chịu sự điều chỉnh của các QPPL, mà QPPL luôn thể hiện ý chí của Nhà nước Như vậy, trước hết các
Trang 64
quan hệ pháp luật luôn chịu sự tác động của ý chí Nhà nước Hơn nữa, trong nhiều quan hệ pháp luật như quan hệ hợp đồng, quan hệ hôn nhân… bên cạnh ý chí Nhà nước còn chứa đựng ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó Ý chí của các bên được thực hiện thông qua việc xác lập quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia vào quan hệ pháp luật đó
Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở các QPPL chỉ khi nào quan hệ xã hội được các QPPL điều chỉnh thì mới trở thành quan hệ pháp luật Việc xác định quan
hệ xã hội nào cần được điều chỉnh phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, do đó mặc
dù quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, nhưng không phải tất cả chúng đều trở thành quan hệ pháp luật Chẳng hạn như việc chơi hụi (nhiều nơi gọi là chơi họ, biêu, phường) đã tồn tại trong xã hội từ rất lâu và chúng được coi là các quan hệ xã hội Chỉ từ khi Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này thì chúng mới trở thành các quan hệ pháp luật Chừng nào các QPPL không điều chỉnh nữa thì các quan hệ pháp luật lại trở thành các quan hệ xã hội
Con người sống trong xã hội luôn luôn có những mối quan hệ với nhau, những quan hệ đó được gọi là quan hệ xã hội Trong thực tế có rất nhiều loại quan
hệ xã hội khác nhau như quan hệ bạn bè, gia đình, thầy trò, quan hệ làm ăn, buôn bán, Những quan hệ này diễn ra theo những khuôn mẫu, chuẩn mực nhất định Nói cách khác, chúng chịu sự điều chỉnh của các quy phạm xã hội Chẳng hạn quan
hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa bố mẹ và con cái chịu sự điều chỉnh của quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, phong tục tập quán và các quy phạm pháp luật Mỗi loại quy phạm xã hội có những cách thức tác động và mang lại khác nhau đối với các quan hệ xã hội Chẳng hạn như xã hội phương Đông rất coi trọng lễ cưới đối với việc kết hôn giữa nam và nữ, mặc dù lễ cưới là một phong tục tập quán chứ không phải là yêu cầu bắt buộc theo quy định của pháp luật Do đó, ngoài việc đăng ký kết hôn theo quy định thì việc tổ chức lễ cưới với sự tham gia của họ hàng, bạn bè, người thân gần như không thể bỏ qua Trong suy nghĩ của nhiều người, ngày cưới mới là ngày chính thức đánh dấu sự thành hôn của cặp vợ chồng chứ không phải ngày đăng ký kết hôn Tuy nhiên, về mặt pháp lý, quan hệ hôn nhân gia đình chỉ phát sinh khi hai bên nam, nữ đã hoàn thành thủ tục đăng ký kết hôn
Trang 7tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Như vậy, quan hệ hôn nhân này vừa chịu sự điều chỉnh của phong tục tập quán (lễ cưới), vừa chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật (đăng ký kết hôn) Trong trường hợp quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh thì được gọi là quan hệ pháp luật Vì thế, quan hệ hôn nhân gia đình là một dạng của quan hệ pháp luật
Như vậy, Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các QPPL điều chỉnh
Và các QPPL được thể hiện trong các VBQPPL cụ thể Ví dụ Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và tỉa đình, trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam; điều chỉnh các quan hệ phát sinh do các sự kiện kết hôn, li hôn, nuôi con nuôi, sinh đẻ, giám hộ, cấp dưỡng; điều chỉnh các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau và giữa các thành viên gia đình; quy định việc xử lí các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình
3 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc thực hiện pháp luật
VBQPPL thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách Pháp luật là biểu hiện hoạt động của các chính sách Pháp luật được ban hành có thể đưa ra các biện pháp gián tiếp, thông qua việc tạo ra hành lang pháp lý mà trong phạm vi đó, từng
cá nhân đóng vai trò là động lực Luật pháp có thể đem lại công bằng xã hội, giảm đói nghèo, tạo ra động lực cho xã hội phát triển Tuy nhiên, cần lưu ý là phát triển thôi chưa đủ mà còn cần phải phát triển bền vững Yêu cầu phát triển bền vững đặt
ra cho các cơ quan ban hành văn bản của địa phương phải có các biện pháp quản lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững Điều đó có nghĩa là sẽ không chỉ khai thác cạn kiệt các nguồn lực mà không tính các hệ quả tiếp theo và môi trường sau này Phát triển bền vững đòi hỏi khi đưa ra các biện pháp quản lý, nhà quản lý phải tính đến việc bảo vệ môi trường Thông qua các VBQPPL, địa phương đưa ra các biện pháp để quản lý tốt các trường học, bệnh viện, xây dựng và quản lý tốt hệ thống nước sạch, đường giao thông… Bằng các VBQPPL, chính quyền địa phương đưa
ra các biện pháp thu hút đầu tư, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp, các cơ chế thực thi hiệu quả
Trang 86
Bằng việc thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ trong các nguồn luật khác nhau như tập quán pháp, án lệ, VBQPPL… được hiện thực hóa, đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế, cụ thể của các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Nhờ đó, ý chí, mục đích của nhà nước thể hiện trong các QPPL trở thành hiện thực trong thực tế, các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật của nhà nước mới đi vào cuộc sống, phát huy được vai trò, tác dụng và hiệu quả của chúng; làm cho đời sống xã hội ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển bền vững, các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được an toàn
4 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước do
cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thấm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của QPPL đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là việc cá biệt hoá bộ phận chế tài của QPPL Khi có vi phạm pháp luật, nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của QPPL thành trách nhiệm pháp lí cụ thể đối với chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Nói cách khác, đó chính là việc cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của QPPL Như vậy
có thể nói, về nội dung, truy cứu trách nhiệm pháp lí là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước, còn về hình thức thì đó là việc tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của QPPL
Truy cứu trách nhiệm pháp lí là hoạt động có trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định Như trên đã đề cập, truy cứu trách nhiệm pháp lí thực chất là áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước đưa đến những hậu quả bất lợi cho chù thể vi phạm pháp luật Vì vậy, để đảm bảo tính chính xác, đúng đắn của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí, hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra, tránh hiện tượng oan sai, bỏ lọt vi phạm đòi hỏi cơ quan, nhà chức trách có
Trang 9thẩm quyền phải tiến hành hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí một cách hết sức thận trọng, đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định
5 Ý nghĩa của VBQPPL đối với việc giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích
và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình
độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác
xử sự theo yêu cầu của pháp luật
Mục đích của giáo dục pháp luật có thể mang tính lâu dài hoặc trước mắt nhưng đều hướng tới ba vấn đề cơ bản: (i) Một là giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể; (ii) Hai là giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tỉnh cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp luật; (iii) Ba là giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo pháp luật với động cơ tích cực
Ý nghĩa của VBQPPL đối với giáo dục pháp luật được thể hiện qua việc: quy định của Hiến pháp và VBQPPL là nội dung chính của phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay Trong đó nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật là các VBQPPL về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức…; các VBQPPL mới được ban hành
Chính vì vậy để giáo dục pháp luật đạt được mục đích thì nội dung, “nguyên liệu” chính cho hoạt động giáo dục là VBQPPL cần hợp hiến, hợp pháp, dễ hiểu,
dễ áp dụng, cách diễn đạt không tạo cách hiểu khác nhau Hệ thống VBQPPL đầy
đủ giúp cho phổ biến, giáo dục pháp luật được bao quát Bên cạnh đó, VBQPPL dễ hiệu, dễ áp dụng giúp giảm thời gian, công sức cho hoạt động giáo dục pháp luật
Trang 108
KẾT LUẬN
Quy phạm pháp luật với tư cách là những tế bào cấu thành nên pháp luật có nội dung thể hiện chức năng điều chỉnh hành vi, do vậy phải có cấu trúc nhất định VBQPPL là một hiện tượng rộng, đa dạng, nhiều nghĩa nhưng cũng đồng thời là hiện tượng cụ thể xét về nội dung Vì vậy, việc tìm hiểu rõ ý nghĩa của VBQPPL là điều hết sức cần thiết Thông qua đó, ta có thể đưa ra mối liên hệ thực tiễn với pháp luật hiện hành ở nước ta Hơn nữa, việc nghiên cứu này giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề một cách rõ nét hơn và xem xét những vấn đề chưa hoàn thiện trong cấu trúc của VBQPPL
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật – Đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất bản Công an nhân dân 2021;
2 Giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật – NXB Công an Nhân dân
2015 – Chủ biên: Chủ biên: GS.TS Lê Minh Tâm & PGS.TS Nguyễn Minh Đoan
3 Tiểu luận Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Khiếm khuyết trong văn bản pháp luật;
4 Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật - Vấn đề lý luận và thực tiễn – Trần Thanh Vân