Cô đã thực hiện khảo sát này để phục vụ cho báo cáo này; và đã nghiên cứu về sự tự chủ và quản lý tài chính của các tổ chức giáo dục đại học ở Việt Nam, Mông Cổ và Campuchia.. Trong hệ t
Trang 1Sổ tay thực hành quản trị và quản lý trong giáo dục đại học ở Việt Nam
BÁO CÁO KHẢO SÁT CỦA TACTIC
Trang 2PHẦN 1: BÁO CÁO KHẢO SÁT CỦA TACTIC
Mục lục
Giới thiệu về các tác giả 5
1 Giới thiệu 6
1.1 Mục đích 6
1.2 Khả năng ứng dụng 6
2 Thiết kế nghiên cứu 7
2.1 Đợt khảo sát thứ nhất 7
2.2 Đợt khảo sát thứ hai 7
3 Việt Nam 8
3.1 Nền tảng 8
Sự phát triển trong Giáo dục đại học 8
Hệ thống giáo dục đại học 9
Những cải cách pháp lý quan trọng trong giáo dục đại học ở Việt Nam 10
Sự tự chủ trong Giáo dục đại học ở Việt Nam 10
3.2 Khảo sát TACTIC tại Việt Nam 11
3.3 Sự tự chủ và quản trị của các tổ chức 12
Quản trị 12
Tự chủ 14
Gợi ý 16
3.4 Tuyển sinh sinh viên 16
3.5 Kế hoạch chiến lược 17
Sự tham gia vào kế hoạch chiến lược 17
Gợi ý 17
3.6 Quản lý tài chính 17
Tài trợ 17
Ngân sách 18
Báo cáo tài chính và kế toán 19
Các chính sách tài chính 19
Gợi ý 21
3.7 Quản lý rủi ro 21
Chiến lược quản lý rủi ro 21
Ngăn chặn rủi ro tài chính 22
Gợi ý 22
Trang 33.8 Quản lý nguồn nhân lực 22
Số vị trí công việc 22
Trách nhiệm và chất lượng 23
Tiền thù lao 23
Điều kiện làm việc 24
Chính sách nhân sự 24
Gợi ý 25
3.9 Quản lý sự thay đổi và kỹ thuật số hóa 25
Kỹ thuật số hóa để quản lý sự thay đổi 26
Gợi ý 27
3.10 Quốc tế hóa 27
Gợi ý 28
Tài liệu tham khảo 29
Trang 4Danh sách các bảng biểu
Bảng 2.1: Lĩnh vực khảo sát trọng tâm 7
Bảng 3.1: Mở rộng giáo dục đại học năm 2000-2016 8
Bảng 3.2: Kết cấu phân cấp của các trường đại học tại Việt Nam 9
Bảng 3.3: Danh sách các trường đại học trong Khảo sát TACTIC 12
Bảng 3.4: Đánh giá sự tự chủ của các cơ quan quản lý 16
Bảng 3.5: Số nhân viên 22
Danh sách Hình ảnh Hình 3.1: Mô hình ban quản trị 13
Hình 3.2: Nhiệm vụ của ban quản trị 14
Hình 3.3: Tự do tuyển dụng nhân sự và thuê nhân viên là sinh viên 15
Hình 3.4: Tự do quản lý nguồn nhân lực 15
Hình 3.5: Các nguồn tài trợ trong các trường đại học 18
Hình 3.6: Các biện pháp để đối phó với sự thiếu hụt ngân sách 18
Hình 3.7: Chính sách tài chính trong thực hành 20
Hình 3.8: Các lĩnh vực được bao gồm trong chiến lược quản lý rủi ro 21
Hình 3.9: Trách nhiệm của Phòng nhân sự 23
Hình 3.10: Chính sách nhân sự trong thực hành 24
Hình 3.11: Các lĩnh vực được quản lý bởi ISM 26
Danh sách các từ viết tắt
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
MOET Bộ Giáo dục và đào tạo
Trang 5Giới thiệu về các tác giả
Natalia Polakova là một sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách kinh tế tại Đại học Masaryk,
Cộng hòa Séc Cô làm việc như một trợ lý dự án và nghiên cứu tại Trung tâm Hợp tác Quốc tế, Đại học Masaryk Cô đã thực hiện khảo sát này để phục vụ cho báo cáo này; và đã nghiên cứu về sự tự chủ
và quản lý tài chính của các tổ chức giáo dục đại học ở Việt Nam, Mông Cổ và Campuchia Lĩnh vực
mà cô quan tâm là kinh tế phát triển, kinh tế giáo dục và kinh tế chính trị.1
Tiến sĩ Dương Như Hùng là Trưởng khoa Quản lý Công nghiệp thuộc Đại học Bách khoa Thành phố
Hồ Chí Minh, Việt Nam Ông Hùng dạy các khóa học về tài chính, đầu tư và kế toán quản lý Mối quan tâm nghiên cứu của ông bao gồm hiệu suất hoàn trả cổ phiếu, hiệu suất thương mại và hiệu suất của các tổ chức giáo dục đại học Ông là thành viên của ủy ban chỉ số chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và là thành viên của Hội đồng tư vấn quốc tế cho Đại học Quản lý Singapore (SMU) Ông Hùng
đã giảng dạy tài chính được gần 20 năm, trong đó có 4 năm ở Mỹ.2
Được biên soạn và kiểm tra bởi:
Violeta Osouchova, Trưởng phòng Chiến lược và Tiếp thị quốc tế kiêm điều phối viên dự án
TACTIC, Trung tâm Hợp tác Quốc tế, Đại học Masaryk, Cộng hòa Séc3
Trần Thị Phúc, Điều phối viên hợp tác quốc tế, Phòng Đối ngoại, Đại học Công nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh, Việt Nam
Thái Linh Thu, Điều phối viên quốc tế, Vụ Hợp tác quốc tế, Đại học Khoa học và Công nghệ Hà
Nội, Việt Nam
Trang 6vụ và thủ tục được các trường đại học áp dụng để đưa chúng đến gần hơn với các tiêu chuẩn châu Âu
và toàn cầu
Ngoài ra, mục tiêu của dự án này là nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về các chính sách mục tiêu
và thực tiễn ở cả cấp quốc gia và tổ chức Nó tạo ra một khuôn khổ để nâng cấp các hoạt động quản lý cũng như hỗ trợ để áp dụng các bí quyết đã được thiết lập ở các trường đại học kém tiên tiến hơn tại Đông Nam Á (SEA) Bằng cách thực hiện phân tích chuyên sâu về tình hình hiện tại cùng với sự hỗ trợ và giám sát của các tổ chức đối tác châu Âu, TACTIC đảm bảo sự phát triển bền vững các hoạt động quản lý sau khi kết thúc giai đoạn dự án
Tính bền vững vốn luôn là ưu tiên chính của TACTIC, có thể đạt được bằng cách sắp xếp các hoạt động thực hành tốt nhất ở EU và chuẩn bị một bài nghiên cứu toàn diện kèm theo các khuyến nghị và hướng dẫn cần tuân thủ Chúng tôi hy vọng rằng việc xuất bản Sổ tay này sẽ góp phần phát triển hơn nữa công tác giáo dục đại học ở SEA và hỗ trợ cải cách chính sách giáo dục và sự bố trí thể chế
1.1 Mục đích
Mục đích của Sổ tay này là thể hiện những điểm mạnh và điểm yếu của quy trình quản trị và quản lý chung mà các trường đại học đang áp dụng tại Campuchia, Mông Cổ và Việt Nam Để đảm bảo xây dựng thêm các chính sách và quy tắc, Sổ tay này đề xuất các khuyến nghị và hướng dẫn rút ra từ các hoạt động thực tiễn tốt nhất trong giáo dục đại học ở châu Âu và sẽ được thực hiện trong các trường đại học tại các quốc gia nói trên
1.2 Khả năng ứng dụng
Sổ tay này đã được viết để hỗ trợ triển khai kiến thức và kỹ năng quản lý đã có được bởi các nhân viên tại các tổ chức đối tác của chúng tôi thông qua nhiều buổi đào tạo do dự án TACTIC cung cấp Tuy nhiên, các hướng dẫn được đề xuất trong sổ tay này sẽ chứng minh được rằng chúng không chỉ hữu ích đối với đối tác của chúng tôi, mà còn cho cả các trường đại học không phải đối tác của chúng tôi
Trang 72 Thiết kế nghiên cứu
Dữ liệu cơ bản cho báo cáo này được thu thập trong hai đợt khảo sát Bảng 2.1 dưới đây sẽ tổng hợp các lĩnh vực chính của khảo sát
Bảng 2.1: Các lĩnh vực khảo sát trọng tâm
Các lĩnh vực khảo sát trọng tâm
Quản trị, cấu trúc và tự chủ thể chế của trường đại học
Quản lý tài chính và tài chính
Lập kế hoạch chiến lược
Lập kế hoạch chiến lược
áp dụng bởi các trường đại học châu Âu Phân tích sâu hơn dựa trên các trường hợp nghiên cứu của Việt Nam, Campuchia và Mông Cổ sẽ được thực hiện trong Đợt khảo sát thu thập dữ liệu thứ hai
2.2 Đợt khảo sát thứ hai
Đợt khảo sát thứ hai, hay còn được gọi là “Cuộc Khảo sát TACTIC” hay “khảo sát” được thiết kế bởi tập đoàn TACTIC và được tạo điều kiện bởi các tổ chức đối tác tại các quốc gia trọng tâm trong giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2018 Không giống như đợt khảo sát trước đó, bảng câu hỏi trong đợt khảo sát này được cắt ngắn và dịch sang tiếng Việt, tiếng Mông Cổ và tiếng Khmer để cho các nhân viên không nói được tiếng Anh tại các trường đại học tương ứng có thể trả lời các bài Khảo sát TACTIC một cách phù hợp Chúng tôi đã nhận được tổng cộng 31 phản hồi, trong đó có 12 phản hồi
từ Việt Nam, 10 từ Campuchia và 9 từ Mông Cổ Chúng tôi tin rằng chúng tôi có một lượng mẫu đủ lớn để quan sát các hoạt động thực hành quản lý và soạn thảo một bộ hướng dẫn để nâng cao chúng
Trang 83 Việt Nam
3.1 Nền tảng4
Sự phát triển trong Giáo dục đại học
Với dân số hơn 95 triệu người, Việt Nam là quốc gia phát triển đông dân thứ 15 trên thế giới và thứ ba tại ASEAN5 Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm từ năm 2010 đến 2016 là 1,1%, tuy nhiên tỷ lệ này đã giảm dần kể từ năm 2000.6 Những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi chiếm 16% tổng dân
số Dân số trẻ như vậy là một lợi thế nhưng đồng thời cũng gây áp lực tài chính đối với việc tài trợ giáo dục nói chung Tuy nhiên, áp lực tài chính này đã kích thích càng ngày càng nhiều trường áp dụng mô hình tự chủ tài chính để đổi lấy sự tăng tự chủ về thể chế Tính đến năm 2013, ngân sách của chính phủ cho giáo dục chiếm khoảng 5,65% GDP Vấn đề tự chủ và tài trợ sẽ được thảo luận trong phần 3.2 và 3.4, tương ứng
Ngoài ra, những người trẻ tuổi cũng tạo ra một nhu cầu lớn về giáo dục đại học, thúc đẩy sự hiện đại hóa và phát triển kinh tế xã hội của khu vực7 Kết quả là, đã có sự gia tăng đáng kể trong tuyển sinh giáo dục đại học Năm 2016, tổng tỷ lệ tuyển sinh nói chung - tỷ lệ thanh niên từ 18 đến 22 tuổi đăng
ký vào các trường đại học là 28,3%, trong khi năm 2000, tỷ lệ này chỉ là 9,4% Tỷ lệ tuyển sinh năm
2016 ở nữ cao hơn nam một chút với 31% sinh viên nữ đã được tuyển sinh, trong khi chỉ có 25% nam giới được tuyển sinh.8 Từ năm 2000 đến năm 2016, tỷ lệ người có trình độ đại học cũng như tổng số sinh viên tại Việt Nam tăng gần gấp đôi.9 Tương tự như vậy, số lượng các trường đại học từ năm 2000 đến 2015 đã tăng từ 178 lên tới 440, tức là 140% Bảng 3.1 tổng hợp quy mô giáo dục đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây
Bảng 3.1: Mở rộng giáo dục đại học năm 2000-2016
4 Phần được viết bởi Tiến sĩ Dương Như Hùng, Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh
5 ASEAN = Hiệp hội các nước Đông Nam Á
6 Khảo sát dân số thế giới Việt Nam 2018 http://worldpopulationreview.com/countries/vietnam-population/
7 L.Tran et al Higher Education in Vietnam: Flexibility, Mobility and Practicality in the Global Knowledge Economy Springer.2016, p 34
8 Tổ chức thống kê của Unesco.Education Statistics of Vietnam 2018 Xem trên trang: http://uis.unesco.org/country/VN
9 Ngân hàng thế giới School Enrolment, tertiary (% gross) 2018 : https://data.worldbank.org/indicator/SE.TER.ENRR
Trang 9Sinh viên - Trường ngoài công lập (nghìn) 104 160 334 271
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam và UNESCO10
Hệ thống giáo dục đại học
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Việt Nam áp dụng mô hình chính trị và kinh tế kiểu Xô Viết trong cả nước Nước này thúc đẩy chính sách kinh tế tự cung tự cấp và duy trì sự hợp tác chặt chẽ chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo Trong hệ thống giáo dục đại học, chính phủ kiểm soát chặt chẽ tất cả các khía cạnh của quản lý tổ chức, như chương trình giảng dạy, số lượng và mức lương của giảng viên cũng như hoạt động tuyển sinh,… Việc được nhận vào các trường đại học
là rất mang tính chọn lọc Sau khi được nhận vào trường đại học, các sinh viên được miễn học phí và được trợ cấp hàng tháng Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ được chính phủ giao việc Tất cả các trường đại học đều thuộc sở hữu nhà nước, chuyên chú về các lĩnh vực hạn hẹp và ít tương tác với các trường đại học phương Tây
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế, mở mang nền kinh tế bằng cách cho phép sự tham gia của tư nhân vào nền kinh tế của đất nước và thúc đẩy giao dịch với các nước khác trên thế giới Đổi lại, các cải cách kinh tế đã khởi xướng cải cách giáo dục Trọng tâm của hệ thống giáo dục đại học chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại trà Tư nhân hiện đã được phép tham gia vào hệ thống giáo dục đại học Trường đại học tư thục đầu tiên, Đại học Thăng Long, đã được cấp giấy phép vào năm 1988 Ngày nay, có khoảng 60 trường đại học tư và năm trường đại học thuộc sở hữu nước ngoài Theo đó, các trường đại học tư nhân và nước ngoài chiếm 27% trong tổng số các trường đại học
và 14% trong tổng số lượng tuyển sinh đại học Mặc dù hầu hết các trường đại học tư đều nhỏ và ít mang tính chọn lọc, nhưng ngành giáo dục tư nhân đang phát triển nhanh
Chính phủ cũng đã có những nỗ lực đáng kể để chuyển đổi các trường đại học công lập tập trung và đơn ngành thành trường đại học phi tập trung và đa ngành Đầu những năm 1990, chính phủ đã thành lập hai trường Đại học Quốc gia bằng cách sáp nhập các trường đại học công lập lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Hoạt động này đã gặp phải một số thách thức vì quy mô quá lớn, khó quản
lý, xảy ra sự chồng chéo và xung đột lợi ích giữa các trường đại học thành viên trong hai trường Đại học Quốc gia này Sau khi được thu hẹp và tổ chức lại, có bảy trường đại học thành viên cũng như nhiều tổ chức và trung tâm trực thuộc trực tiếp trong trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM Hai trường Đại học quốc gia này nhận được tài trợ ưu tiên trực tiếp được Quốc hội phê duyệt trong khi việc tài trợ cho các trường đại học công lập khác được quyết định bởi Bộ Giáo dục
và Đào tạo (MOET) hoặc một bộ chủ quản Người đứng đầu các trường Đại học quốc gia chịu trách nhiệm trước Thủ tướng trong khi người đứng đầu các trường đại học công lập khác chịu trách nhiệm trước Bộ GD & ĐT hoặc một bộ chủ quản Ngoài hai trường đại học quốc gia, chính phủ cũng đã phát triển một số trường đại học công lập trong khu vực Các trường này nhận được nhiều ưu tiên đầu tư hơn so với các trường đại học công lập thông thường Bảng 3.2 tổng hợp cấu trúc phân cấp của các trường đại học tại Việt Nam năm 2017
Bảng 3.2: Kết cấu phân cấp các trường đại học tại Việt Nam
10 Tổng cục Thống kê Việt Nam Giáo dục 2018 Xem trên trang: https://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=782
Trang 10Nguồn: MOET (2017)
Những cải cách pháp lý quan trọng trong giáo dục đại học ở Việt Nam
Những cải cách quan trọng trong lĩnh vực giáo dục đại học đã được khởi xướng bởi Luật Giáo dục năm 2005 Theo luật này, nhà nước sẽ “thực hiện phân cấp quản lý cho các cơ quan địa phương và tăng cường sự tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức giáo dục cơ sở Trong cùng năm đó, Chính phủ
đã ban hành một nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học của Việt Nam trong giai đoạn 2006−2020 (HERA) Theo Hayden và Lam (2007), HERA đã chỉ ra bốn lĩnh vực cải cách: (1) tăng cường sự tự chủ và trách nhiệm trong đào tạo, nghiên cứu, quản lý nhân sự và lập kế hoạch sử dụng ngân sách của các trường đại học, (2) loại bỏ cơ chế bộ chủ quản và sở hữu nhà nước trong các trường đại học công lập, (3) phát triển sự đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học và (4) phát triển luật giáo dục đại học
Năm 2012, Luật Giáo dục Đại học đã được thông qua Đây là luật đầu tiên của quốc gia này dành riêng cho lĩnh vực giáo dục đại học (HE) Luật này nhằm cải cách và điều chỉnh HE để phát triển nguồn nhân lực cần thiết cho Việt Nam, hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức Luật này bao gồm các lĩnh vực quan trọng như sự tự chủ của tổ chức, đảm bảo chất lượng, hợp tác quốc tế, sứ mệnh nghiên cứu của các trường đại học, sứ mệnh trong khoa học và công nghệ của các trường đại học, các trường đại học tư nhân, đại học quốc gia và khu vực, sự phân loại và xếp hạng các trường đại học Về quyền
tự chủ của tổ chức, lần đầu tiên, luật đề cập đến quyền tự chủ của các trường đại học và loại bỏ giới hạn của chính phủ về học phí (mặc dù các điều kiện có thể kèm theo mức phí cho các tổ chức công lập), cho phép các trường đại học tự cấp bằng cho các sinh viên đã tốt nghiệp, cho phép trường quản lý các vấn đề giảng dạy trong chương trình giảng dạy do MOET đặt ra và cho phép các trường đại học chọn cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục từ danh sách các cơ quan kiểm định được MOET phê duyệt.11
Sự tự chủ trong Giáo dục đại học ở Việt Nam
“Sự tự chủ của trường đại học” có thể được hiểu là mức độ tự do quản và hoạt động của trường đại học Khái niệm này bao gồm một loạt các khía cạnh liên quan đến hoạt động của trường đại học: từ các vấn đề giảng dạy, như tự chủ trong thiết kế chương trình giảng dạy hoặc phương pháp giảng dạy,
11 Giáo dục Quốc tế tại Australia 2013 Xem trên trang:
https://internationaleducation.gov.au/Internationalnetwork/vietnam/publications/Documents/Comments%20on%20Vietna m%20Higher%20Education%20Law%202012%20Jan%202013%20final.pdf
Prime Miniters
Total %
Provincial people’s committees
Other Ministries
Ministry of Education
National Universities -
Ha noi
National Universities - HCMC
Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh Các Bộ khác
Bộ Giáo dục
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh Tổng cộng
Công
Tư nhân
Sở hữu nước ngoài
Trang 11đến tự do và trách nhiệm trong quản lý tài chính nội bộ và hoạch định chiến lược của các trường đại học.12
Chính phủ Việt Nam đã ra nghị quyết số 77 / NQ-CP vào năm 2014 để cho phép bốn trường đại học đầu tiên thí điểm mô hình tự chủ đại học Trong cơ chế hoạt động mới, sau khi các trường đại học công lập cam kết tự tài trợ cho hoạt động và các khoản đầu tư của mình, họ sẽ được phép tự chủ và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc giảng dạy, tuyển dụng nhân viên, chi tiêu, v.v Kể từ đó, 23 trường đại học ở Việt Nam đã được chấp thuận áp dụng mô hình tự chủ này Nhiều trường trong số đó báo cáo rằng mặc dù họ đã có quyền tự chủ hơn trong tuyển dụng nhân viên và các vấn đề giảng dạy, nhưng họ cũng gặp khó khăn vì sự mâu thuẫn trong các luật liên quan, sự không chắc chắn và cần được hướng dẫn thực hiện thêm Theo Bộ GD & ĐT, một số cam kết của chính phủ như cơ chế yêu cầu đào tạo, trợ cấp lãi suất, v.v không được thực hiện theo nghị quyết 77
Ngoài ra, những thay đổi trong việc quản trị và trách nhiệm xã hội của các trường đại học cũng không được thực hiện cùng với quyền tự chủ của các tổ chức Đó là một thách thức lớn đối với các trường đại học khi sáu trong số 23 trường đại học tự chủ vẫn không có hội đồng quản trị Chỉ có 58 trong số 170 trường đại học công lập có hội đồng quản trị Chính phủ đã thể hiện nỗ lực nghiêm túc để biến các trường đại học công lập thành các trường tự chủ nhưng họ sẽ cần phải vượt qua nhiều trở ngại trên con đường này vì các trường đại học công lập ở Việt Nam đã quen với sự kiểm soát kiểu tập trung của các
bộ ban ngành trung ương
3.2 Khảo sát TACTIC tại Việt Nam
Có tổng cộng mười hai trường tại Việt Nam đã trả lời bài khảo sát của chúng tôi Xin vui lòng xem danh sách các trường trong Bảng 3.3 Tất cả các trường đều là trường công lập, trong đó có sáu trường tại thủ đô Hà Nội, ba trường tại Thành phố Hồ Chí Minh và các trường còn lại ở tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ Mặc dù, 75 phần trăm các trường đại học nằm ở hai thành phố lớn nhất của Việt Nam với mức độ phát triển cao hơn nhiều so với các tỉnh miền trung, nhưng chúng tôi vẫb xử lý kết quả một cách cẩn trọng Vì vậy, điều quan trọng cần lưu ý là hoạt động quản lý trong các trường đại học cấp tỉnh có thể được quan tâm nhiều hơn so với các hoạt động đang được thực hiện trong các trường đại học tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra, bốn trong số mười hai trường tham gia là các trường đại học công lập tự chủ Điều này có nghĩa là các trường đại học này có quyền tự chủ tài chính cao và có sự độc lập trong việc sử dụng tài trợ công Trong khi Đại học Bách khoa Hà Nội mới chỉ được trao quyền tự chủ vào năm ngoái, thì Đại học Tôn Đức Thắng đã áp dụng mô hình tự chủ tài chính hơn 20 năm trước Hai tổ chức tự chủ công lập khác là Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Nông nghiệp Việt Nam Trong những năm tới, dự kiến các trường đại học khác cũng sẽ làm theo
12
Raaza cited in Iwinska J and Matei L University Autonomy – A Practical Handbook Central European University Yehuda Elkana Center for Higher Education 2010.
Trang 12Bảng 3.3: Danh sách các trường đại học trong Khảo sát TACTIC
Đại học Công nghệ Cần Thơ Cần Thơ Công lập
Đại học Mỏ địa chất Hà Nội Hà Nội Công lập
Đại học Bách khoa Hà Nội Hà Nội Công lập tự chủ
Đại học tài nguyên và môi trường TP HCM TP Hồ Chí Minh Công lập
Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh Công lập
Đại học xây dựng Miền Tây Vĩnh Long Công lập
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Công lập tự chủ
Đại học Xây dựng Hà Nội Hà Nội Công lập
Đại học Tôn Đức Thắng TP Hồ Chí Minh Công lập tự chủ
Đại học Giao thông vận tải Hà Nội Công lập
Đại học Nông nghiệp Việt Nam Hà Nội Công lập tự chủ
Đại học Giáo dục công nghệ Vĩnh Long Vĩnh Long Công lập
Nguồn: Khảo sát TACTIC
3.3 Sự tự chủ và quản trị của các tổ chức
Quản trị
Điều lệ các trường đại học và Luật giáo dục đại học đều yêu cầu thành lập các hội đồng quản "trị trong tất cả các trường đại học Trong các trường đại học công lập, hiệu trưởng và hội đồng quản trị được chỉ định bởi “cơ quan chủ quản” sẽ là người nắm quyền và ra quyết định, chứ không phải là hội đồng nhà trường Mặt khác, các trường đại học ngoài công lập sẽ làm việc với nhà nước thông qua các hội đồng quản trị của mình Họ thường được hưởng mức độ tự chủ tài chính cao nhưng vẫn phải tuân theo các quy định trong các lĩnh vực khác như chương trình giảng dạy toàn quốc
Trong Khảo sát TACTIC, người điều hành trong hầu hết các trường đại học là hiệu trưởng hoặc chủ tịch, cả hai người này có vai trò như nhau trong cuộc khảo sát Hội đồng quản trị bao gồm các cán bộ giảng dạy và hành chính, đại diện sinh viên, cán chính phủ và những người tham gia bên ngoài và các biến thể trong số họ Để tham khảo thêm, vui lòng xem Hình 3.1 Cán bộ giảng dạy và hành chính có mặt trong 11/12 bài trả lời khảo sát, trong khi các cán bộ chính phủ chỉ có mặt trong 67% các bài khảo sát Và đại diện học sinh chỉ chiếm 50%
Trang 13Hình 3.1: Mô hình Ban quản lý
Nguồn: Khảo sát TACTIC
Trong một nửa số trường, hội đồng quản trị được bầu bởi các cán bộ hành chính và cán bộ giảng dạy
và chỉ có một trường thực hiện việc bầu hội đồng quản trị bằng phiếu bầu của sinh viên (Đại học Tôn Đức Thắng) Tuy nhiên, điều rất phổ biến là hội đồng quản trị thường được bầu bởi nhiều cơ quan khác nhau theo cơ chế thể chế như Hội đồng tư vấn trường, Hội đồng khoa học hoặc thậm chí là Hội đồng thành phố
Trong 60% các trường đại học, người lãnh đạo trường đại học được lựa chọn dựa trên sự chỉ định chính trị Các trường đại học còn lại chọn phương pháp thăm dò ý kiến nội bộ hoặc bầu cử Việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo còn thiếu tính cạnh tranh Trong một số trường, việc lựa chọn một phó hiệu trưởng, phó trưởng khoa và / hoặc hội đồng khoa học vẫn được thực hiện theo quyết định của lãnh đạo trường đại học (34%), trong khi những trường khác lại chọn đội ngũ lãnh đạo của họ dựa trên sự chỉ định chính trị (25%) Trong một phần ba các trường, các ứng cử viên có cơ hội được lựa chọn thông qua bầu cử nội bộ hoặc quy trình nộp đơn cạnh tranh
Hội đồng quản trị thường chịu trách nhiệm xác nhận chiến lược và quy định của tổ chức, quyết định các vấn đề thiết yếu liên quan đến đào tạo, nghiên cứu và cơ cấu tổ chức của tổ chức Điều này phù hợp với kết quả khảo sát của chúng tôi, nơi các hội đồng thường là người phê duyệt các kế hoạch chiến lược Tuy nhiên, họ ít chịu trách nhiệm về ngân sách hoặc việc tuyển dụng của người điều hành Chỉ trong một trường hợp, hội đồng quản trị chỉ thực hiện nhiệm vụ tư vấn và không tham gia vào bất
kỳ nhiệm vụ nào khác Hình 3.2 tổng hợp tỷ lệ phần trăm phản hồi nhận được cho mỗi trách nhiệm
Cán bộ giảng dạy, cán bộ hành chính, đại diện sinh viên, cán bộ chính phủ, người tham gia bên ngoài Cán bộ giảng dạy, cán bộ hành chính, đại diện sinh viên
Cán bộ giảng dạy, cán bộ hành chính, đại diện sinh viên, người tham gia bên ngoài Cán bộ giảng dạy, cán bộ hành chính, người tham gia bên ngoài
Cán bộ hành chính Cán bộ giảng dạy, cán bộ chính phủ, người tham gia bên ngoài Khác
Trang 14Hình 3.2: Sứ mệnh của Ban quản lý
Nguồn: Khảo sát TACTIC
Ngoài ra, tất cả các trường đại học đều nhận thấy ảnh hưởng lớn của lãnh đạo Bộ GD và ĐT và của các trường đối với các chính sách dài hạn tại các trường đại học trong khi các cán bộ hành chính (17%) và cán bộ giảng dạy (42%) có rất ít tiếng nói Ý kiến của sinh viên (ví dụ: Hội đồng khoa học)
có tầm quan trọng trong 50% các trường hợp Tuy nhiên, trong 59% các trường hợp, các sinh viên được loại trừ khỏi mọi quá trình ra quyết định hoặc quản lý của các trường đại học Trong các trường đại học có sinh viên tham gia, thì sinh viên đóng vai trò cố vấn sinh viên (50%), thành viên của ủy ban sinh viên (25%), và họ thường tham gia vào quan hệ đối ngoại (38%) hoặc tham gia các hoạt động liên quan đến chính sách và thay đổi nội bộ (25%)
Tự chủ
Các yếu tố cần thiết của sự tự chủ bao gồm “Sáu quyền tự do”: (i) tự quản, (ii) đưa ra quyết định tuyển dụng nhân sự, (iii) chọn sinh viên, (iv) xác định chương trình giảng dạy và tiêu chuẩn bằng cấp, (v) thực hiện kiểm soát tài chính doanh nghiệp và phân bổ vốn và (iv) chứng nhận kết quả học tập Ngoài
ra, điều quan trọng là phải phân biệt giữa “sự tự chủ chính thức”, thường được xác định trong khuôn khổ lập pháp và “sự tự chủ thực sự”, hay nói cách khác là những gì xảy ra trong thực tế vốn có xu hướng bị MOET và / hoặc các cơ quan chính phủ khác kiềm chế.13
Tự do xác định chương trình học và chương trình cấp bằng
Gần như tất cả các trường đại học trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi đều được tự do thiết kế cấu trúc giảng dạy, chương trình học và nội dung khóa học Chỉ có một tổ chức phải đối mặt với một số hạn chế Trong 67% các trường hợp, các chương trình nghiên cứu được thiết kế bởi các trưởng khoa và / hoặc giảng viên, trong khi các trường còn lại được thiết kế bởi MOET (17%) hoặc thậm chí các bên liên quan bên ngoài (8%, ví dụ Đại học Xây dựng Miền Tây) Ngoài ra, tất cả các chương trình nghiên cứu đều được MOET (59%) và / hoặc lãnh đạo các trường (41%) phê duyệt Điều quan trọng cần lưu ý
là với khuôn khổ lập pháp, MOET có trách nhiệm phê duyệt toàn bộ chương trình cho tất cả các chương trình trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam Do đó, việc phê duyệt một chương trình nghiên cứu mới có thể cần được thực hiện bởi cả người đứng đầu bộ phận điều hành của Bộ GD và