ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa om4218 trong vụ hè thu năm 2012 tại xã vĩnh thuận tây, huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Trang 1Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Gs.Ts Nguyễn Bảo Vệ Trang Kiên Bush Ths Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103495 Lớp: NH K36
Cần Thơ, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Sinh viên thực hiện: TRANG KIÊN BUSH
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
Gs.Ts Nguyễn Bảo Vệ Ths Trần Thị Bích Vân
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
- O -
Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM 4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ VĨNH THUẬN TÂY, HUYỆN VỊ THỦY,
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức: ………
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trang Kiên Bush
Trang 5Các bạn sinh viên nghành Nông Học, Khóa 36 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 6
Năm 2002 tốt nghiệp tiểu học
Năm 2006 tốt nghiệp trung học cơ sở
Năm 2009 tốt nghiệp trung học phổ thông
Năm 2010-2013 là sinh viên nghành Nông học khóa 36 Trường Đại học Cần Thơ
Trang 7TRANG KIÊN BUSH, 2012 “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Gs Ts Nguyễn Bảo Vệ và Ths Trần Thị Bích Vân
TÓM LƯỢC
Hiện nay, tập quán sản xuất lúa của nông dân còn mang tính truyền thống là
sạ dày, bón nhiều phân đạm nên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu bệnh làm giảm rất đáng kể đến năng suất Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa OM4218 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức: sạ ở mật độ 100 kg/ha, sạ
ở mật độ 150 kg/ha, sạ ở mật độ 200 kg/ha
Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Hè Thu, sạ ở mật độ 200 kg/ha có chiều cao cây và số chồi cao hơn so với các mật độ sạ còn lại Nghiệm thức sạ ở mật độ 100 kg/ha có số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt cao nhất, nghiệm thức sạ 150 kg/ha và nghiệm thức sạ 200 kg/ha tương đương nhau, sạ với mật độ 100 kg/ha tỏ ra hiệu quả trong việc hạn chế sự đỗ ngã và năng suất tương đương với hai mật độ 200 kg/ha và 150 kg/ha Tiết kiệm được lượng giống đáng kể (100 kg/ha) so với tập quán sạ dày của nông dân (200 kg/ha) tại địa phương
Trang 8
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Cảm tạ iv
Quá trình học tập v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh mục bảng x
Danh mục hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 2
1.1.1 Giai đoạn tăng trưởng 2
1.1.2 Giai đoạn sinh sản 3
1.1.3 Giai đoạn chín 4
1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 5
1.2.1 Số bông/m2 5
1.2.2 Số hạt/bông 6
1.2.3 Tỷ lệ hạt chắc 7
1.2.4 Trọng lượng 1000 hạt 8
1.3 PHƯƠNG PHÁP GIEO SẠ 9
1.3.1 Phương pháp sạ lan 10
1.3.2 Phương pháp sạ hàng 10
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ 11
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT 13
1.5.1 Nhiệt độ 13
1.5.2 Ánh sáng 14
1.5.3 Lượng mưa 14
1.5.4 Nước 14
1.5.5 Gió 15
Trang 91.5.6 Ảnh hưởng của đất 15
1.5.7 Ảnh hưởng của sâu bệnh 15
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 PHƯƠNG TIỆN 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm 16
2.1.2 Phương tiện 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP 17
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
2.2.2 Biện pháp canh tác 18
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 19
2.2.4 Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất 19
2.2.5 Đánh giá chỉ tiêu về năng suất 20
2.2.6 Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại 20
2.2.7 Phương pháp phân tích số liệu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN 22
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 23
3.2.1 Chiều cao cây 23
3.2.2 Số chồi/m2 24
3.2.3 Chiều dài bông 27
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 28
3.3.1 Số bông/m2 28
3.3.2 Số hạt/bông 29
3.3.3 Số hạt chắc/bông 30
3.3.4 Tỷ lệ hạt chắc 30
3.3.5 Trọng lượng 1000 hạt 31
3.3.6 Năng suất lý thuyết 31
3.3.7 Năng suất thực tế 33
3.4 HIỆU QUẢ KINH TẾ 34
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
Trang 104.1 KẾT LUẬN 35 4.2 ĐỀ NGHỊ 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 18 Bảng 3.1 Ghi nhận tổng quan thí nghiệm giống lúa OM4218 sạ với các mật độ khác nhau tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012 22 Bảng 3.2 Thành phần năng suất của giống lúa OM4218 đƣợc thí nghiệm ở các mật
độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu
2012 28 Bảng 3.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa OM4218 đƣợc thí nghiệm ở các mật độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012 32 Bảng 3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 34
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 16
Hình 3.1: Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 23 Hình 3.2: Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến số chồi/m2 của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 25 Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều dài bông của giống lúa OM4218
vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 27
Trang 13Ở nước ta nghề trồng lúa nước đã có từ rất lâu và năng suất lúa ngày càng tăng một phần là do sự góp phần quan trọng của công tác chọn giống lúa, bằng phương pháp cổ truyền, chọn lọc theo kiểu phả hệ, lai hữu tính, ứng dụng công nghệ sinh học như tạo biến dị, nuôi cấy mô, biến đổi gen Nhờ chính sách đổi mới và khoa học
kỹ thuật trong công tác lai tạo, chọn lọc giống lúa ở các viện, trường, trung tâm và
cá nhân trong cả nước, qua nhiều năm đã tạo ra rất nhiều giống lúa có năng suất cao, ngắn ngày thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở từng địa phương
Do người dân có tập quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, nhưng trong thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu sạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô hiệu cao, thậm chí cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc bón nhiều phân đạm dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất (Nguyễn Trường Giang, 2010 ) Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định việc tăng số bông không làm giảm số hạt/ bông và khối lượng nghìn hạt nhưng nếu vượt qua giới hạn nhất định, số hạt/ bông
sẽ giảm dần và khối lượng nghìn hạt sẽ giảm dần do sự cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng, vì thế khi cấy quá dầy sẽ làm năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu cấy mật độ quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày khó đạt được số bông tối ưu Vì vậy, chọn mật độ thích hợp là phương pháp tối ưu nhất để đạt được số lượng hạt chắc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn
Thị Nga, 2011) Do đó, đề tài “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống
lúa OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, Huyện Vị Thủy, Tỉnh
Trang 14Hậu Giang” được thực hiện nhằm tìm ra mật độ gieo sạ thích hợp làm tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Về mặt nông học, người ta chia đời sống của cây lúa thành ba giai đoạn chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.1.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn này của cây lúa được bắt đầu từ khi hạt nảy mầm cho đến khi bắt đầu phân hóa đòng Thời gian dành cho giai đoạn này khác nhau tùy theo thời gian sinh trưởng của từng giống lúa Đối với những giống có thời gian sinh trưởng 120 ngày được trồng ở các nước có khí hậu nhiệt đới, giai đoạn này chiếm 60 ngày (Yosida, 1981) Đối với vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, các giống lúa có thời gian sinh trưởng là 90 ngày thì giai đoạn này chiếm khoảng 30 ngày
Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước ngày càng lớn giúp cây lúa nhận được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ chất dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn (Nguyễn Thành Hối, 2010)
Nhờ sự phát triển của rễ và lá diễn ra cùng lúc nên thúc đẩy sự phát triển mạnh của thân chính và quá trình đẻ nhánh diễn ra đều đặn làm tăng dần số nhánh trên một bụi lúa Quá trình đẻ nhánh của cây lúa chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định được gọi là thời gian đẻ nhánh và thời gian này kết thúc khi cây lúa đạt được
số chồi tối đa trên một đơn vị diện tích Mật độ gieo sạ thưa thì thời gian đẻ nhánh
dài hơn so với gieo sạ dày (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Sự khác biệt về giống,
thời vụ và kỹ thuật canh tác sẽ làm thay đổi thời gian đẻ nhánh của cây lúa
Trong giai đoạn này những nhánh được hình thành chỉ có hai khả năng, (1) là hình thành nhánh hữu hiệu (nhánh sẽ hình thành bông) và (2) là hình thành nhánh
Trang 15vô hiệu (nhánh không hình thành bông) Thường thì các nhánh đẻ sớm thì cho bông, còn các nhánh đẻ muộn thì có thể cho bông và không (Yosida, 1981)
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn Thường các giống lúa rất ngắn ngày
và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy
ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt được số chồi tối đa Ngược lại các giống lúa dài ngày (trên 4 tháng) thường đạt được số chồi tối đa trước khi phân hóa đòng Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay là chồi có ích) thấp hơn so với
số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa Các chồi
ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu, trong canh tác người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng cho những chồi hữu hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.1.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông, giai đoạn này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình là 30 ngày, giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều, lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao bắt đầu tăng rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trong đời sống của cây lúa, giai đoạn này được đặc trưng bởi hiện tượng thân chính của lúa vươn cao nhanh làm tăng chiều cao cây, giảm nhanh chóng số nhánh vô hiệu, xuất hiện lá đòng, kéo dài tốt và cuối cùng là trổ bông (Nguyễn Thành Hối, 2003)
Trong giai đoạn này, điều quan tâm nhất chính là sự hình thành và phát triển của đòng lúa, sự phân hóa đòng thường diễn ra sau khi cây lúa đạt được số chồi tối
đa Đây chính là thời kỳ báo hiệu cây lúa chuyển từ pha sinh trưởng sang pha sinh sản Dấu hiệu đầu tiên là sự vươn lóng diễn ra ở lóng đầu tiên và kế đến là quá trình
Trang 16hình thành đòng lúa Sự phát triển của đòng lúa trải qua nhiều quá trình phân chia tế bào và giảm nhiễm Theo Nguyễn Xuân Trường (2004), thì quá trình này trải qua chín bước, sau khi đòng lúc hình thành hoàn chỉnh thì nhờ sự vươn dài của hai lóng trên cùng mà đòng lúa thoát ra khỏi bẹ lá cờ (được trích dẫn bởi Nguyễn Đình Giao
và ctv., 1997)
Ở giai đoạn này, cây lúa được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Như vậy, trong giai đoạn này đặc trưng bởi sự phân hóa và hình thành đòng của cây lúa, quá trình này sẽ quyết định đến số hoa được phân hóa trên bông lúa nên ảnh hưởng đến sự hình thành số hạt/bông, số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc của cây lúa (Nguyễn Trường Giang, 2010)
1.1.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn này được tính từ khi cây lúa trổ bông đến khi thu hoạch Thời gian dành cho giai đoạn này khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong giai đoạn này thì sẽ làm cho thời gian chín kéo dài hơn và ngược lại (Lê Văn Hòa và
ctv., 2001)
Trong giai đoạn này lá lúa sẽ già đi và sự phát triển to dần lên của hạt lúa, hạt lúa tăng trưởng mạnh cả về khối lượng hạt tươi và khối lượng khô trong giai đoạn này Tuy nhiên, trước khi chín khô tăng chậm, mà khối lượng tươi giảm nhanh chóng do mất nước Dựa vào sự thay đổi về hình dạng, màu sắc, chất dự trữ và trọng lượng hạt mà quá trình chín của hạt lúa được chia thành các thời kỳ chín sữa, chín sáp, chín vàng và chín hoàn toàn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trong đó quan trọng nhất của giai đoạn này là thời kỳ chín sữa Trong quá trình chín sữa, các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% lượng vật chất khô tích lũy trong hạt là do quá trình quang hợp sau trổ cung cấp Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết giai đoạn sau trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa, kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy
vỏ trấu (Nguyễn Bảo Vệ, 2003)
Trang 17Như vậy, trong giai đoạn này thời kỳ chín sữa là quan trọng nhất, do sự tích lũy vật chất khô vào hạt tăng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và dinh dưỡng Đó là quá trình ảnh hưởng rất lớn đến trọng lượng hạt
1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì năng suất được hình thành và chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt Năng suất lúa được tính theo công thức:
Y = N x F x w x 10-5Trong đó:
Y: Năng suất (tấn/ha) N: số hạt/m2
F: tỷ lệ hạt chắc w: trọng lượng 1000 hạt (g)
Năng suất là chỉ tiêu tổng hợp của tất cả các yếu tố cấu thành năng suất Trên thực tế, các yếu tố cấu thành năng suất có quan hệ rất chặt chẽ với nhau Muốn tăng năng suất lúa không chỉ tác động riêng rẽ từng yếu tố mà phải tác động tổng hợp (Nguyễn Thị Nga, 2011)
1.2.1 Số bông/m 2
Số bông/m2 là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất lúa Với mật
độ gieo sạ khác nhau thì số bông/m2 là khác nhau (Nguyễn Thị Nga, 2011) Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa, số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy
và khả năng nở bụi của lúa Mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón nhất là phân đạm và chế
độ nước Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 18Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) thì số bông/m2 là yếu tố đóng góp nhiều nhất vào năng suất lúa Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó
số hạt và trọng lượng của hạt đóng góp 26% Khi xem xét mối quan hệ nguồn và sức chứa thì số bông/m2 ảnh hưởng đến năng suất kinh tế với hệ số tương quan rất cao r = 0,91 (Phạm Văn Chương, 2002)
Khi phân tích tương quan hệ số Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy số bông/m2 gia tăng khi mật độ sạ tăng (Trần Thị Ngọc Huân và ctv, 1999)
Tuy nhiên, trong điều kiện mật độ sạ cao làm tăng số bông/m2 ở mức vừa phải, nếu tăng mật độ lên quá cao sẽ gây hiện tượng lốp, đỗ, sâu bệnh dễ bộc phát và số hạt trên bông sẽ ít đi rõ rệt (Yosida, 1981)
Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999), số bông trên đơn vị diện tích được quyết định bởi hai yếu tố: mật độ sạ và tỷ lệ đẻ nhánh Mật độ sạ đặt cơ sở cho việc hình thành số bông Trong điều kiện thâm canh cần mật độ sạ phù hợp tùy giống, đất đai, phân bón, thời vụ,
Nói chung, đối với các giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể gieo cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây
có số bông/m2 trung bình phải đạt 500 – 600 bông đối với lúa sạ hoặc 350 – 450 bông đối với lúa cấy mới có được năng suất cao (Phạm Sĩ Tân, 2008)
Tóm lại, số bông/m2 là một thành phần năng suất góp phần quan trọng trong việc tạo nên năng suất và chịu ảnh hưởng của mật độ gieo sạ Số chồi hữu hiệu là yếu tố trực tiếp quyết định đến số bông/m2
1.2.2 Số hạt/bông
Số hạt/bông cũng là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất Số hạt/bông chủ yếu do yếu tố di truyền của giống quy định Tuy nhiên nó cũng chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do ảnh hưởng đến quá trình phân hóa hoa Số hạt/bông phụ thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng như số gié, số hoa thoái hóa Số hạt/bông = Số hoa phân hóa - Số hoa thoái hóa (Nguyễn Thị Nga, 2011)
Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực Ở giai đoạn này,
Trang 19số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa Sau giai đoạn này, số hạt trên bông đã hình thành có thể bị thoái hóa có ảnh
hưởng âm (Võ Thị Lang và ctv, 2008)
Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa cũng như số gié, hoa thoái hóa Các quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh dục từ lúc làm đòng
đến trổ bông (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Số hạt/bông chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Yếu tố trồng trọt: trong điều kiện canh tác ngoài đồng cây lúa tăng trưởng kém, số hạt/bông có thể được làm tăng bằng cách gia tăng mật độ gieo sạ ở mức vừa phải và gia tăng lượng phân đạm bón cho cây Yếu tố đặc tính sinh trưởng: nếu như cây lúa có đặc tính đẻ nhánh kém thì đòi hỏi mật độ gieo sạ phải cao, các giống có thời gian sinh trưởng ngắn và trong điều kiện bón ít phân đạm thì đòi hỏi mật độ sạ phải cao hơn để đạt số hạt trên đơn vị diện tích không thay đổi (Lê Hữu Toàn, 2009)
Nhìn chung, số hạt/bông phụ thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa, hai yếu tố này chịu ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa sẽ nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông cao Ở các giống lúa cải thiện, số hạt từ 80 – 100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100 – 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Như vậy, số hạt/bông là yếu tố quyết định bởi sự sai khác giữa
số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa đi, yếu tố thành phần năng suất này chịu ảnh hưởng của đặc tính về giống và điều kiện ngoại cảnh
1.2.3 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh, thường số hoa trên bông quá nhiều sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đỗ ngã sớm, lại trổ
và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại Muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Xuân Trường, 2004)
Trang 20Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nảy mầm hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn
bị hại (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt chắc trên bông ảnh hưởng đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002) Kết quả phân tích hệ số tương quan Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ gieo sạ thì số hạt chắc/bông
giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv., 1999)
Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mưa dầm nên vũ lượng cao, mưa kéo dài
và đặc biệt là trời hay mưa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh và hạt bị lép nhiều Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, như nhiệt độ thấp và cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trưởng trực tiếp của vài gié hoa, cho ra những gié hoa lép (Bùi Huy Đáp, 1980)
Tỷ lệ hạt chắc ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: phân bón, nhiệt độ, mưa gió và hạn hán Đối với mỗi giống có yêu cầu về lượng phân bón nhất định Nhiệt độ trên 20 0C nếu duy trì liên tục từ lúc lúa làm đòng đến trổ bông hoặc nhiệt độ cao trên 35 0C sau khi lúa trổ xong đều làm giảm tỷ lệ hạt chắc Gió, mưa và bão làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và gây đỗ ngã làm ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc Ngoài ra, hạn hán làm thiếu nước tưới của một số vùng cũng làm giảm tỷ lệ hạt chắc nhất là khi cây lúa vừa trổ xong
và bắt đầu ngậm sữa (Lê Hữu Toàn, 2009) Tỷ lệ hạt chắc là kết quả của quá trình thụ phấn
và thụ tinh trong môi trường Và thành phần này chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường vào khoảng thời gian trước, trong và sau trổ
1.2.4 Trọng lượng 1000 hạt
Trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ Trọng lượng hạt tùy thuộc vào cỡ hạt và độ mẩy (no đầy) của hạt lúa Đối với lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt bằng trọng lượng của 1000 hạt với đơn vị là gram Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20 – 30 gram (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 21Trọng lượng 1000 hạt ít chịu tác động của môi trường và có hệ số di truyền cao Nó phụ thuộc hoàn toàn vào giống Trọng lượng 1000 hạt của một giống giữ ổn định không có nghĩa là từng hạt có khối lượng như nhau, chúng thay đổi trong một giới hạn nhất định nhưng có giá trị trung bình luôn ổn định Trọng lượng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành, trọng lượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% và trọng lượng hạt gạo chiếm 80% trọng lượng toàn hạt Muốn có trọng lượng hạt gạo cao
phải tác động vào cả hai yếu tố này (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Khi xem xét mối quan hệ nguồn và sức chứa cho thấy, trọng lượng 1000 hạt ảnh hưởng đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002) Kết quả phân tích tương quan hệ
số Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy trọng lượng 1000 hạt là đặc tính của giống và là nhân tố thứ hai (sau số hạt chắc/bông) trong xác định năng suất cây lúa (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv., 1999)
Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) cho rằng hạt lúa được quy định bởi kích thước
của hai vỏ trấu tạo nên sức chứa cho hạt và yếu tố kế đến là lượng chất khô tích lũy tạo nên hạt gạo Cho nên, quá trình quang hợp trong giai đoạn chín của cây lúa sẽ làm ảnh hưởng đến sự cung cấp carbohyrate cho hạt, bên cạnh đó nếu tình trạng đỗ ngã xảy ra sẽ làm ngăn cản sự chuyển vị sản phẩm của quang hợp làm cho hạt lúa bị lép lững nhiều Trọng lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cở hạt, cho đến khi vào chắc
rộ (15 – 25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Như vậy, trọng lượng 1000 hạt chịu ảnh hưởng lớn của đặc tính giống, sự tác động của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác có thể cũng làm thay đổi trọng lượng hạt phần nhỏ, sản phẩm quang hợp sau trổ là yếu tố quyết định đến trọng lượng 1000 hạt
Trang 221.3.1 Phương pháp sạ lan
Đặc điểm của phương pháp sạ này là cây lúa đẻ nhánh sớm, số bông nhiều, năng suất quan hệ chặt chẽ với số bông Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là mật độ thường không đều, bộ rễ ăn cạn, dễ bị chim chuột phá hoại và lúa thường bị đỗ ngã vào
mùa mưa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Phương pháp sạ lan đã được nông dân áp dụng từ khi bắt đầu canh tác lúa cao sản thay thế cho lúa mùa năng suất thấp Phương pháp này tỏ ra có những ưu điểm nổi trội so với phương pháp sạ hoặc cấy lúa mùa về khả năng gia tăng số bông/m2, tính đồng đều về chiều cao và khả năng nhận ánh sáng (Trần Đức Viên, 2007)
Hiện nay, lượng giống cao sản ngắn ngày sạ lan được khuyến cáo là 150 kg/ha (Nguyễn Thành Hối, 2010) Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất thường người dân trồng lúa theo tập quán với mật độ cao, lượng giống gieo sạ từ 200 – 300 kg/ha (Nguyễn Văn Luật, 2001) Với lượng giống gieo sạ nhiều như thế thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận ánh sáng của từng cây lúa trong quần thể ruộng lúa, nhu cầu dinh dưỡng từ đất trồng và tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển Các nhà khoa học đã chứng minh được những yếu tố gây dịch bệnh tích cực nhất là khi cây trồng phải sống trong quần thể chật hẹp thiếu ánh sáng cho các lá dưới, làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ tấn công (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005)
1.3.2 Phương pháp sạ hàng
Hiện nay, sạ hàng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thể hiện nhiều ưu điểm so với sạ lan truyền thống như: tiết kiệm vật tư mà chủ yếu là giống và phân bón, tạo điều kiện thuận lợi để thâm canh, giảm thiệt hại do sâu bệnh, tăng năng suất so với
sạ lan và kết hợp nuôi cá hay nuôi vịt chóng lớn (Nguyễn Văn Luật, 2001)
Ứng dụng kỹ thuật từ mẫu máy sạ hàng được cải tiến từ “drum seeder” của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và bắt đầu được thực hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1990 cho đến nay (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2009) Có thể thấy rằng phương pháp sạ hàng tỏ ra hiệu quả so với sạ lan truyền thống Tuy nhiên, việc áp dụng kỹ thuật này cũng gặp một số trở ngại như ốc bươu vàng, diện tích nhỏ khó áp dụng và đất thiếu bằng phẳng (Lê Trường Giang, 2005)
Trang 23Với phương pháp này, cây lúa có sự phân bố trong quần thể ruộng lúa thích hợp nên đã tận dụng được năng lượng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng suất và làm giảm thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001) Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy lượng giống gieo sạ thích hợp cho kỹ thuật này ở Đồng bằng sông Cửu Long là khoảng từ 70-100 kg giống/ha (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2009) Dưới điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, mật độ sạ 100 kg giống/ha được khuyến cáo để nhận năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp ứng đủ số bông/m2 cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ ướt (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv , 1999)
So với phương pháp sạ lan truyền thống thì phương pháp sạ hàng có thể làm giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75%, lượng giống giảm tương ứng khoảng
100-150 kg/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999) Như vậy, phương pháp sạ hàng có
nhiều ưu điểm so với sạ lan như: giảm được lượng giống gieo sạ, giảm sâu bệnh và
có thể tăng năng suất
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), thì tùy từng giống lúa để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các bụi lúa không chen nhau Cách bố trí bụi lúa theo hình chữ nhật là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn
Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nước và dinh dưỡng để tạo ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/ m2,
có nghĩa là 70-100 cây mạ/ m2 là tốt nhất Mật độ thưa sẽ tăng khả năng đẻ nhánh
và có thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của các bông ảnh hưởng tới chất lượng hạt giống, mật độ thưa làm tăng cỏ dại cũng làm giảm chất lượng hạt giống Mật độ trồng quá cao làm giảm năng suất và chất lượng hạt giống vì cạnh tranh nước và dinh dưỡng, che khuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thước hạt (Nguyễn Thị Nga, 2011)
Theo Tăng Thị Hạnh (2003) cho rằng mật độ gieo cấy khác nhau ảnh hưởng
rõ đến khả năng đẻ nhánh của cây lúa Chỉ số diện tích lá tăng khi mật độ tăng từ
Trang 2425- 165 chồi/ m2, nếu cùng số chồi/ bụi khi mật độ tăng trong hai giai đoạn nhưng sang giai đoạn chín sữa khối lượng chất khô sẽ giảm nếu tiếp tục tăng mật độ Công thức cấy thưa ( 25-30 bụi/m2) có hiệu suất quang hợp cao nhưng chỉ số diện tích lá thấp hơn nên khối lượng chất khô được tổng hợp qua các thời kỳ ít hơn công thức cấy dày Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh kéo dài, hạn chế nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dày các cây còn cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng, cây lúa sẽ vươn cao, lá nhiều rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt
có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh chóng trong quá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng hạt giống (Nguyễn Thị Nga, 2011)
Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa mạnh mẽ nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2003) Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng sự
đẻ nhánh của lúa có quan hệ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài Ngược lại diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dày ở mật độ cao lúa sẽ không đẻ nhánh và một
số cây mẹ sẽ lụi dần Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ, nhưng tỷ lệ nhánh hữu hiệu giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông (Nguyễn Thị Nga, 2011)
Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả và đều có chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá
bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi nhiều (Bùi Huy Đáp, 1980)
Như vậy, mật độ là một kỹ thuật làm tăng quang hợp của cá thể và quần thể của ruộng lúa, do khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng tới khả năng đẻ nhánh và số nhánh
Trang 25hữu hiệu/bụi, khả năng chống chịu sâu bệnh, từ đó mà ảnh hưởng mạnh đến năng suất lúa
Dựa trên sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Bùi Huy Đáp (1999), đã đưa ra lập luận các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau Số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/ bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu tố cấu thành năng suất: số bông/ m2, số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động Vì vậy, năng suất sẽ tăng khi mật độ cấy trong phạm vi nhất định Phạm
vi này phụ thuộc vào nhiều đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết Để tăng số bông/đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy hay tăng số bụi
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), để có cùng số bông trên đơn vị diện tích nên cấy ít tép nhiều bụi tốt hơn cấy ít bụi nhiều tép Không nên cấy quá nhiều tép vì khi
đó cây lúa đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, số hạt/ bông ít dẫn đến năng suất không đạt yêu cầu
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu Trong phạm vi giới hạn (20-30oC), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới 17oC cây lúa tăng trưởng chậm lại Dưới 13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài quá một tuần cây lúa sẽ chết (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Nhiệt độ cao tăng vận tốc ra lá và sinh nhiều mầm chồi hơn Nhiệt độ cao sẽ rút ngắn giai đoạn vào chắc, thời tiết có mây thường xuyên gây hại cho sự chắc hạt Nhiệt độ cao hơn 35oC khi trổ gié hoa có thể làm phần trăm bất thụ cao (Đinh Thế Lộc, 2006)
Trang 261.5.2 Ánh sáng
Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên phương diện cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa thể hiện chủ yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008) Bức sạ mặt trời có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất hạt ở giai đoạn sinh dục, ảnh hưởng kế tiếp giai đoạn chín và ảnh hưởng cực nhỏ giai đoạn dinh dưỡng (Yoshida, 1981)
Cây lúa thiếu nước ở bất kỳ giai đoạn nào cũng gây giảm năng suất Do đó,
để có thể gieo trồng một năm hai, ba vụ lúa người ta đã xây dựng các công trình thủy lợi để chủ động nước tưới hiệu quả cho cây lúa (Yoshida, 1981)
Trong thời kỳ phát triển bông hạt nhất là khi làm đòng cho đến khi phơi màu cây lúa thoát hơi nước mạnh nhất cho nên giai đoạn này cây lúa cần nhiều nước Trong thời kỳ đẻ nhánh nếu thiếu nước thì số bông giảm bớt nhưng sau đó nếu nước đầy đủ thì hạt chắc sẽ tăng lên nên tác hại cũng ít Sau khi phân hóa đòng nếu thiếu nước trong thời kỳ phân chia giảm nhiễm và khi trổ sẽ có tác hại rất lớn, sau đó đến thời kỳ chín sữa Khi lúa chín thiếu nước tác hại cũng giảm nhẹ, sau khi lúa chín không cần giữ nước lâu trong ruộng, nhưng nếu tháo nước quá sớm, cây bị hạn sẽ chín sớm, không thuận lợi cho việc tích lũy tinh bột và protein, hạt lép nhiều và có
Trang 27thể bị bệnh đạo ôn, nhưng nếu tháo nước muộn thì thời gian chín sẽ kéo dài, hạt xanh nhiều tỷ lệ chất khô kém (Đinh Thế Lộc, 2006)
1.5.5 Gió
Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng Gió nhẹ giúp quá trình trao đổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện cho quá trình quang hợp và hô hấp của ruộng lúa góp phần tăng năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.5.6 Ảnh hưởng của đất
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu
cơ, tơi xốp, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động chất dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH từ 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa, đất ruộng cần bằng phẳng và cần chủ động được nước để lúa đạt được năng suất cao
Trang 28CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2012 (từ 03/2012 đến 06/2012)
Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang