Vì vậy, làm thế nào để tạo lập và nâng cao vị thế cạnh tranh lâu dài, có tính bền vững, cho chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang cũng như để tối đa hóa giá trị và lợi ích ch
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN LÊ DIỄM HẰNG
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN LÊ DIỄM HẰNG
CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Nha Trang, tháng 07 năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Phan Lê Diễm Hằng, học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh Khóa
2009, Trường Đại học Nha Trang xin cam đoan:
Mọi tài liệu, số liệu dùng phân tích, tính toán và dẫn chứng trong luận văn thạc sĩ
là chính xác, trung thực, hợp lệ và không vi phạm pháp luật
Tôi thực hiện nội dung luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh
Nha Trang, ngày 20 tháng 07 năm 2012
Phan Lê Diễm Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, trong thời gian thực hiện đề tài tôi luôn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các Thầy Cô, sự ủng hộ của gia đình và sự hỗ trợ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và cộng đồng những người sản xuất và kinh doanh sản phẩm cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh là người trực tiếp hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy Cô khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang đã tận tâm và nhiệt tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học cao học tại trường; và xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, động viên tinh thần và giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các chủ tàu, các ngư dân, các chủ nậu vựa, các anh chị của các công ty chế biến, những người bán sỉ và lẻ ở các chợ trên địa bàn thành phố Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin trong quá trình tôi thu thập số liệu và hình ảnh để hoàn thiện đề tài
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Phan Lê Diễm Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN ix
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
PHẦN MỞ ĐẦU x
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 5
1.1.1 Khái niệm lợi thế cạnh tranh 5
1.1.2 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 6
1.1.3 Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter 9
1.2 Lý thuyết về chuỗi giá trị 12
1.2.1 Khái niệm chuỗi giá trị 12
1.2.2 Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 14
1.2.3 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị 14
1.2.4 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu 16
1.2.5 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 20
1.2.6 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP 22
1.3 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài 25
1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 25
1.3.2 Nghiên cứu trong nước 27
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 32
2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 32
Trang 62.1.1 Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp 32
2.1.2 Thông tin dữ liệu 32
2.2 Phương pháp tính toán và xử lý dữ liệu 33
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY SẢN VIỆT NAM VÀ KHÁNH HÒA 35
3.1 Tình hình cung và cầu thủy sản thế giới 35
3.1.1 Nguồn cung thủy sản thế giới 35
3.1.2 Nhu cầu tiêu dùng thế giới 36
3.2 Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam 37
3.2.1 Tình hình cung nguyên liệu 37
3.2.1.1 Hoạt động khai thác 37
3.2.1.2 Nuôi trồng thủy sản 38
3.2.2 Tình hình chế biến thủy sản 39
3.2.3 Tình hình tiêu thụ 41
3.3 Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 42
3.3.1 Khai thác thủy sản 42
3.3.2 Nuôi trồng thủy sản 44
3.3.3 Tình hình chế biến thủy sản 45
3.3.4 Tình hình tiêu thụ 46
3.4 Giới thiệu cá ngừ sọc dưa 48
3.4.1 Cá ngừ 48
3.4.2 Cá ngừ sọc dưa 48
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG 51
4.1 Phân tích cấu trúc thị trường 51
4.1.1 Cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa 51 4.1.2 Đặc điểm những tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 52 4.2 Tổ chức vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh trong ngành 60 4.2.1 Phương thức giao dịch mua bán và thanh toán trên thị trường 60
Trang 74.2.4 Hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc 65
4.2.5.2 Mức độ khác biệt của sản phẩm 70
4.2.6 Tác động của các qui định và chính sách đến các tác nhân trong chuỗi 70
4.3 Kết quả thực hiện thị trường 75
4.3.1 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên cho mỗi tác nhân 75
4.3.2 Phân tích cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 79
4.3.2.1 Chuỗi cung ứng cho thị trường xuất khẩu 79
4.3.2.2 Chuỗi cung ứng cho thị trường nội địa 82
Chương 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
5.1 Thảo luận kết quả 87 5.2 Khuyến nghị 89
5.3 Kết luận 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 100
Phụ lục A: Bảng câu hỏi phỏng vấn công ty chế biến cá ngừ sọc dưa 100
Phụ lục B: Bảng câu hỏi phỏng vấn nậu vựa thu mua cá ngừ sọc dưa 101
Phụ lục C: Bảng câu hỏi phỏng vấn ngư dân khai thác nghề lưới rê (lưới cản) 103
Phụ lục D: Bảng câu hỏi phỏng vấn người bán sỉ cá ngừ sọc dưa 106
Phụ lục E: Bảng câu hỏi phỏng vấn người bán lẻ cá ngừ sọc dưa 107
Phụ lục F: Tính toán khác về lợi ích và chi phí của các tác nhân 108
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các nhân tố của mô hình SCP 23
Bảng 1.2 Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa 24
Bảng 2.1 Phương pháp tính toán tỷ lệ phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị 34
Bảng 3.1 Tiêu dùng thủy sản thế giới từ 2004-2009 37
Bảng 3.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa 46
Bảng 4.1 Đặc điểm của các tàu được điều tra 52
Bảng 4.2 Các công ty chế biến sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Khánh Hòa 56
Bảng 4.3 Khả năng tiếp cận thông tin thị trường của mỗi tác nhân 64
Bảng 4.4 Nguồn cung cấp thông tin thị trường cho các tác nhân 64
Bảng 4.5 Đánh giá cạnh tranh ngành chế biến và xuất khẩu cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang 69
Bảng 4.6 Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi 76
Bảng 4.7 Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị từ ngư dân đến công ty chế biến xuất khẩu 80
Bảng 4.8 Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong chuỗi từ ngư dân – nậu vựa – nhà nhập khẩu 82
Bảng 4.9 Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong kênh nội địa giữa các tác nhân ở kênh nội địa 84
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh 6
Hình 1.2 Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia 9
Hình 1.3 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình 16
Hình 1.4 Một số chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 17
Hình 1.5 Phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị ở 4 quốc gia 18
Hình 1.6 Các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển 19
Hình 1.7 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển tổng quát 20
Hình 1.8 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP 22
Hình 3.1 Sản lượng thủy hải sản thế giới 35
Hình 3.2 Sản lượng lớn nhất của 10 loài thủy sản khai thác biển năm 2008 36
Hình 3.3 Sản lượng sản xuất thủy sản Việt Nam từ 1995-2010 37
Hình 3.4 Xuất khẩu thủy sản từ 1993 – 2011 41
Hình 3.5 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam theo giá trị năm 2010 42
Hình 3.6 Sản lượng thủy sản và số tàu thuyền của Khánh Hòa giai đoạn 2001-2009.43 Hình 3.7 Năng suất khai thác của đội tàu tỉnh Khánh Hòa 43
Hình 3.8 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủy sản Khánh Hòa 47
Hình 3.9 Hình ảnh loài cá ngừ sọc dưa 49
Hình 3.10 Sản lượng khai thác cá ngừ sọc dưa của thế giới 50
Hình 4.1 Chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 51
Hình 4.2 Những hoạt động khai thác cá ngừ sọc dưa của nghề lưới rê 53
Hình 4.3 Các dạng sản phẩm cá ngừ sọc dưa 57
Hình 4.4 Hoạt động bán sỉ tại cảng cá 58
Hình 4.5 Người bán lẻ tại chợ Vĩnh Hải ở Nha Trang 59
Hình 4.6 Giá cá thu mua của các nậu vựa 62
Hình 4.7 Cơ cấu giá trị tạo ra của mỗi tác nhân trong chuỗi 78
Hình 4.9 Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị xuất khẩu 81
Hình 4.10 Lợi nhuận biên trên tổng chi phí của các tác nhân trong kênh nội địa 84
Hình 4.11 Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm ở kênh nội địa 84
Hình 5.1 Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa 90
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATPDEA: Andean Trade Promotion and Drug Eradication Act
Bộ NN&PTNNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CL: chất lượng
Chi cục KT & BVNLTSKH: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa CV: Đơn vị công suất máy tàu (mã lực)
EU: European Union
EC: European commission
FAO: Food and Agriculture Organization
GDP: Gross domestic product
GSO: General Statistical Ofiice
HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Points
IO: Industrial Organization
IUU: Illegal, unreported and unregulated fishing
KHAFA: Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa
NAFIQAD: Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản
NGTKKH: Niên giám thống kê Khánh Hòa
SCP: Structure – Conduct – Performance
Sở NN & PTNTKH: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khánh Hòa
SPS: Hiệp định vệ sinh kiểm dịch động thực vật
TSCĐ: Tài sản cố định
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TNHHMTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UNIDO: United Nations Industrial Development Organization
VASEP: Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản Việt Nam phát triển nhờ vào lợi thế có bờ biển dài khoảng 3.260 km
và vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 chứa nhiều nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng (FAO, 2005) Nguồn lợi chính là cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong
đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,1 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,4 triệu tấn/năm (FAO, 2004) Đánh bắt thủy sản được xem là chỗ dựa sinh kế cho hàng chục triệu người dân, đặc biệt là đối với cộng đồng
cư dân ven biển Việt Nam Từ năm 1993, sau khi thuỷ sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn (NQ05-NQ/HNTW), nghề đánh bắt thuỷ sản đã có những bước phát triển đáng kể Trong giai đoạn 1995-2010, sản lượng thuỷ sản tăng bình quân khoảng 8%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân khoảng 5%/năm (GSO, 2005 và 2010) Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và hơn 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Số lượng tàu thuyền cũng tăng đều đặn qua các năm, theo thống kê trong khoảng 15 năm (1995 – 2010), tàu cá Việt Nam tăng khoảng 4,7 lần
về số lượng và 5,7 lần về công suất
Từ khi định hướng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành chế biến thủy sản đã nhận được sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành và các địa phương Chương trình chế biến và xuất khẩu thủy sản đến năm 2005 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ năm 1998 là một chương trình tạo bước ngoặt trong thế kỷ 21 cho ngành chế biến thủy sản nước ta Có thể nói, chế biến xuất khẩu thủy sản là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác
và nuôi trồng thủy sản Đến nay, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở - doanh nghiệp chế biến thủy sản, trong đó có 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường EU - một thị trường khó tính vào bậc nhất thế giới (NQ09-NQ/TW) Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc Mỹ Năm
2009, thủy sản Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về giá trị kim ngạch xuất khẩu với 4,3 tỉ USD (FAO, 2011a) và đóng góp 4% GDP của cả nước - chiếm 19,8% trong cơ cấu GDP nông nghiệp và giải quyết việc làm cho trên 1 triệu lao động - chiếm 4% lực lượng lao động của cả nước (Nguyên Khải, 2011)
Trang 12Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo Dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV, 2005) đánh giá vùng biển Khánh Hòa có khoảng 600 loài cá, trong đó có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao Loài cá nổi chiếm một tỷ trọng cao với khoảng 115.800 tấn và mức sản lượng khai thác bền vững khoảng 38.000 tấn/năm (ALMRV, 2005) Đây là những điều kiện rất tốt cho ngành thủy sản Khánh Hòa phát triển Sản lượng thủy sản khai thác biển tăng bình quân 1,3%/năm từ năm 2001 đến 2009 và chiếm khoảng 73% - 88% tổng sản lượng thủy sản của cả tỉnh (Sở NN&PTNTKH, 2009a) Năm 2009, sản lượng khai thác của Khánh Hòa khoảng 72.301 tấn và tạo việc làm cho hơn 31.000 lao động (Sở NN&PTNTKH, 2009b) Số lượng tàu cá của toàn tỉnh tăng từ 4.812 chiếc lên 12.802 chiếc (15%/năm) trong giai đoạn 2001-2009 và công suất máy tăng khoảng 18%/năm (Chi cục KT&BVNLKH, 2009) Hiện nay, Khánh Hòa có khoảng 44 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản và đứng thứ 4 cả nước với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt hơn 300 triệu USD
Mặc dù có nhiều lợi thế và đạt được những thành quả to lớn, nhưng ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức Sự phát triển thiếu tính bền vững là nguy cơ lớn nhất đối với hoạt động sản xuất
và phân phối sản phẩm thủy sản khai thác ở nước ta trong thời gian qua Nguyên nhân thứ nhất là những bất cập và khó khăn liên quan đến chính sách quản lý, qui hoạch và
tổ chức thực hiện quản lý, kiểm soát nghề cá đã dẫn đến sự phát triển quá mức đội tàu đánh bắt với cường lực khai thác lớn làm cho nguồn lợi biển ngày càng cạn kiệt và sản lượng khai thác ngày càng giảm (Pomeroy, 2010) Thứ hai là các yêu cầu khắt khe từ các nước nhập khẩu về vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc xuất xứ (Duy và ctv, 2012a) Chính những đòi hỏi cao của người tiêu dùng nên nhiều rào cản phi thuế quan liên quan đến các tiêu chuẩn kỹ thuật như quy định về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ đã được đặt ra đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu trên thế giới (Trâm Anh và Thúy Vy, 2010) Thứ ba là giá cả không ổn định và thường phụ thuộc vào những biến động trên thị trường thế giới Cuối cùng là vấn đề bất cân bằng lợi ích giữa các tác nhân và thiếu sự hợp tác chặt chẽ trong toàn chuỗi sản xuất và phân phối sản phẩm thủy sản (Trâm Anh, 2009; Duy và ctv, 2012a)
Xuất phát từ vấn đề đặt ra ở trên, phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản là vấn
đề được lựa chọn nghiên cứu của đề tài này Do sự hạn chế về thời gian và tài chính,
Trang 13nghiên cứu chỉ tập trung cho trường hợp mặt hàng cá ngừ sọc dưa1 ở Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa khi phần lớn tàu đánh bắt xa bờ khai thác loài cá này chủ yếu tập trung ở thành phố Nha Trang (Chi cục KT&BVNLKH, 2009) Đây là mặt hàng thủy sản có giá trị kinh tế cao và có vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất và tiêu dùng sản phẩm thủy sản đánh bắt của thế giới Theo thống kê của FAO (2011a), sản lượng đánh bắt
và tiêu dùng cá ngừ sọc dưa xếp ở vị trí thứ 2 trong danh mục sản lượng cá biển khai thác được của thế giới với 2,6 triệu tấn trong năm 2009 Với sản lượng khai thác được quanh năm phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cá ngừ sọc dưa đem lại nguồn sinh kế chủ yếu cho cộng đồng ngư dân khai thác nguồn lợi biển ở Nha Trang, Khánh Hòa, cũng như nguồn thu nhập quan trọng cho những tác nhân khác tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm này Tuy nhiên, chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang tạo ra giá trị rất thấp và đang ở vị thế cạnh tranh yếu so với các nước phát triển (UNIDO, 2009) Nhận định này cũng không phải là trường hợp ngoại lệ cho chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang (Duy và ctv, 2012a) Thêm vào đó, những thách thức hiện hữu đang làm suy yếu vị thế cạnh tranh chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản này trên toàn chuỗi giá trị sản phẩn toàn cầu Vì vậy, làm thế nào để tạo lập và nâng cao vị thế cạnh tranh lâu dài, có tính bền vững, cho chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang cũng như để tối đa hóa giá trị và lợi ích cho các đối tượng liên quan là câu hỏi không những cho các tác nhân trong chuỗi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn nghiên cứu về chuỗi giá trị và đề xuất phương pháp nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển cho nghiên cứu này
- Xác định cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
- Đánh giá cách thức tổ chức, vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
- Phân tích phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
- Đề xuất giải pháp nâng cao vị thế cạnh tranh cho toàn chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
1
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa bao gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỉ và người bán lẻ
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá ngừ sọc dưa được thực hiện trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn tập trung vào trả lời các mục tiêu nghiên cứu trên
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu:
- Tiếp cận phân tích theo chuỗi giá trị trên cơ sở áp dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance) để nghiên cứu trường hợp chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang
- Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng các mô hình cạnh tranh của Michael Porter để phân tích tình hình cạnh tranh trong ngành và đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành
Phương pháp thu thập số liệu:
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các tác nhân trong chuỗi gồm công ty chế biến, chủ nậu vựa, người bán sỉ, người bán lẻ và ngư dân bằng việc sử dụng bảng câu hỏi Số liệu điều tra cho 3 năm: 2009, 2010 và 2011
5 Kết cấu đề tài
Nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 3: Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam và
Khánh Hòa Chương 4: Kết quả nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
Chương 5: Thảo luận kết quả và khuyến nghị
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm lợi thế cạnh tranh
Porter (1980) cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần trên thị trường và bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang
có Nhưng để giành thắng lợi trên thị trường các chủ thể kinh doanh cần có lợi thế cạnh tranh (Porter, 1985) Theo Porter (1985), lợi thế cạnh tranh là khả năng cung cấp giá trị cao hơn cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp Vì vậy, lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh
Ở phạm vi không gian rộng hơn, trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Porter (1990), lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, là những lợi thế của ngành, của quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Nhưng ngược lại, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế và sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Porter (1985) cũng cho rằng lợi thế cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp không chỉ nằm ở mỗi hoạt động,
mà còn ở mối liên kết giữa các hoạt động với nhau Vì vậy, xây dựng lợi thế cạnh tranh cần dựa trên sự liên kết hợp tác dọc giữa các tác nhân trong chuỗi tạo giá trị cho khách hàng
Porter (1990) khẳng định rằng sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành Lý luận của Porter (1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp trong ngành tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể Do đó, lợi thế cạnh tranh một ngành hàng trên thị trường quốc tế không chỉ cần có sự liên kết hợp tác giữa các
Trang 16tác nhân trong chuỗi giá trị, mà còn cần sự hợp tác hỗ trợ của các bên có liên quan cũng như từ chính phủ
1.1.2 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 2
Porter (1980) đã đề xuất mô hình năm lực lượng cạnh tranh để phân tích cạnh tranh của một ngành Mô hình này được phát triển dựa trên mô hình cạnh tranh trong kinh tế học tổ chức (gọi tắt là IO – Industrial Organization) Tuy nhiên đơn vị phân tích trong lý thuyết IO là ngành Porter (1980) đã phát triển tiếp theo mô hình IO bằng cách chuyển đơn vị phân tích vừa là doanh nghiệp vừa là ngành trong mô hình năm lực lượng cạnh tranh, trong đó cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh Vì vậy, mô hình này được sử dụng rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của ngành cũng như của doanh nghiệp Trong phạm vi nghiên cứu này, mô hình năm lực lượng cạnh tranh được sử dụng để phân tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang, qua đó thấy được những áp lực cạnh tranh của mỗi tác nhân trong chuỗi giá trị
Theo Porter (1980), một ngành kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi năm lực lượng cạnh tranh cơ bản, đó là (i) khách hàng, (ii) nhà cung cấp, (iii) các đối thủ cạnh tranh hiện tại, (iv) các đối thủ tiềm ẩn và (v) các sản phẩm/dịch vụ thay thế (Hình 1.1)
Hình 1.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh
2 Nội dung phần này tham khảo tại Porter (1980)
Nguy cơ đe dọa từ những đối thủ mới
Quyền lực đàm phán của người mua
Nguy cơ đe dọa từ sản phẩm/dịch vụ thay thế
Quyền lực đàm phán của nhà cung cấp
CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN
KHÁCH HÀNG
SẢN PHẨM/DỊCH VỤ THAY THẾ
NHÀ
CUNG ỨNG
NHỮNG ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
Trang 17Khách hàng:
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi tác nhân trong chuỗi giá trị Khách hàng có thể bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ), các nậu vựa, các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu, nhà nhập khẩu
Khách hàng thường tạo ra áp lực về giá cả hoặc những yêu cầu về chất lượng sản phẩm hay dịch vụ Khách hàng có thể điều khiển áp lực cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng của họ Sức ép mặc cả của khách hàng đối với mỗi tác nhân trong ngành tùy thuộc vào (i) số lượng khách hàng, (ii) khối lượng sản phẩm mà khách hàng mua, (iii) mức độ khác biệt hóa về sản phẩm, (iv) khả năng hội nhập dọc ngược chiều của khách hàng và (v) khả năng nắm bắt thông tin thị trường về giá cả, tình hình cung cầu và cạnh tranh trên thị trường
Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào cho mỗi tác nhân trong chuỗi Đối với công ty chế biến thủy sản xuất khẩu, nhà cung ứng nguyên liệu cá đầu vào có thể là ngư dân đánh bắt, các chủ nậu vựa, các nhà bán buôn… Việc các nhà cung cấp đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành, hay doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả Quyền lực của nhà cung cấp phụ thuộc vào: (i) mức độ tập trung của nhà cung cấp thể hiện ở quy mô và số lượng các nhà cung cấp Số lượng nhà cung cấp quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành nói chung và mỗi tác nhân nói riêng; (ii) số lượng sản phẩm mà họ cung ứng, (iii) mức độ khác biệt
về sản phẩm cung ứng, (iv) sự sẵn có của sản phẩm thay thế, (v) chi phí chuyển đổi nhà cung cấp và (vi) khả năng hội nhập dọc thuận chiều của nhà cung cấp
Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại là cơ sở để đánh giá mức độ cạnh tranh trong ngành Cường độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong một ngành nói chung thường phụ thuộc vào các yếu tố: (i) số lượng và quy mô của các đối thủ hoạt động trong ngành; (ii) tốc độ tăng trưởng ngành; (iii) chi phí cố định và chi phí lưu kho; (iv) chi phí chuyển đổi; (v) mức độ khác biệt hóa sản phẩm; (vi) các rào cản gia nhập và rút lui khỏi ngành
Trang 18Khi các đối thủ cạnh tranh lớn chiếm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường và tính chất tập trung của ngành cao thì họ có khả năng thống lĩnh thị trường và có quyền lực trong đàm phán với hệ thống cung cấp hay tạo hệ thống phân phối tập trung.3
Khi chỉ có một số ít đối thủ nhưng chiếm giữ một thị phần lớn thì thị trường trở nên ít cạnh tranh, thị trường tiến gần đến tình trạng độc quyền Trái lại, khi không có đối thủ nào
có được thị phần quan trọng, thị trường sẽ bị phân tán, nhưng mức độ cạnh tranh trong ngành sẽ gay gắt hơn và các đối thủ thường cố gắng gia tăng phần thị phần của mình
Vì vậy, thị trường ở các ngành này thường diễn ra các cuộc chiến cạnh tranh về giá cả
Đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ tiểm ẩn là những cá nhân hoặc tổ chức chưa tham gia vào ngành nhưng
có khả năng cạnh tranh trong tương lai nếu họ quyết định gia nhập ngành và sẽ tác động đến mức độ cạnh tranh trong ngành
Đối thủ tiềm ẩn tạo ra áp lực cạnh tranh cho ngành mạnh hay yếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố sau: (i) sức hấp dẫn của ngành, (ii) nguồn lực và năng lực của họ và (iii) các rào cản gia nhập ngành như: lợi thế theo quy mô, sự khác biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận với kênh phân phối và những bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô
Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của khách hàng Đối với sản phẩm thủy sản, khách hàng có khả năng lựa chọn thay thế giữa các loài thủy sản khác nhau hoặc các sản phẩm thực phẩm thay thế khác
Áp lực cạnh tranh của các sản phẩm thay thế phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó bao gồm chi phí chuyển đổi trong việc sử dụng sản phẩm, xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế của khách hàng, tương quan giữa giá cả và chất lượng của sản phẩm thay thế Khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm thực phẩm mới với giá cả hợp lý và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì các sản phẩm thay thế sẽ tạo nên sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp trong ngành
Tóm lại, trong môi trường cạnh tranh gay gắt của ngành xuất khẩu thủy sản như hiện nay, để nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường thế giới đòi hỏi các
3 Nội dung thảo luận trong đoạn này tham khảo trong Gideon (1955)
Trang 19công ty chế biến thủy sản xuất khẩu cần tìm ra một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, mang lại hiệu quả bền vững mà khó có đối thủ nào có thể thực hiện được Xây dựng một chuỗi giá trị gắn kết bền vững giữa các tác nhân (các nhà cung ứng và khách hàng) được xem là giải pháp lâu dài cho ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Nha Trang, Khánh Hòa nói riêng
1.1.3 Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter 4
Porter (1990) cho rằng khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó Các công ty tạo ra được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách thức mà môi trường quốc gia đó tạo ra Các công ty trong một ngành tạo lập được lợi thế cạnh tranh nhờ vào môi trường trong quốc gia đó tạo ra được áp lực cạnh tranh giữa những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nước, các nhà cung ứng nội địa năng động
và những khách hàng trong nước có nhu cầu và đòi hỏi cao
Hình 1.2 Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết “lợi thế cạnh tranh quốc gia” của Porter (1990) giải thích tại sao một số công ty nhất định tại một số quốc gia cụ thể lại có khả năng cạnh tranh cao hơn các công ty của quốc gia khác khi tham gia kinh doanh quốc tế? Hay tại sao một ngành của quốc gia này có lợi thế cạnh tranh hơn quốc gia khác trên thị trường quốc tế? Porter (1990) cho rằng mỗi quốc gia tạo lập được lợi thế cạnh tranh cho ngành bằng cách thiết lập được bốn thuộc tính quan trọng để tạo ra hình thoi bền vững của lợi thế cạnh tranh quốc gia hay xây dựng được “sân chơi” gắn kết cho các doanh nghiệp trong một
“cụm” ngành hoạt động Bốn thuộc tính này là điều kiện các nhân tố sản xuất, điều
Cơ hội
Trang 20kiện cầu nội địa, các ngành hỗ trợ và liên quan, và chiến lược công ty, cơ cấu và sự cạnh tranh trong ngành (Hình 1.2)
Điều kiện các nhân tố sản xuất:
Porter (1990) cho rằng các nhân tố sản xuất không bao giờ giống nhau giữa các quốc gia nên sự sẵn có của các nhân tố sản xuất đầu vào đóng vai trò quan trọng trong lợi thế cạnh tranh của một quốc gia Porter (1990) phân các nhân tố đầu vào thành hai nhóm: các nhân tố sản xuất cơ bản và các nhân tố sản xuất tiên tiến Các nhân tố sản xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, vốn và các điều kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng Một số quốc gia xuất khẩu sẽ sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban đầu Các nhân tố sản xuất tiên tiến là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yếu tố chuyên môn hóa hóa Các nhân tố tiên tiến có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn
so với các yếu tố cơ bản (Porter, 1990)
Điều kiện về nhu cầu nội địa:
Porter (1990) cho rằng tình trạng hoàn hảo của khách hàng và các kênh phân phối nội địa có một tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho một ngành công nghiệp tại một quốc gia Khi nhu cầu của khách hàng càng phức tạp, càng đặc thù
và đòi khỏi khắt khe về sản phẩm hoặc dịch vụ thì càng thúc đẩy các công ty phải gia tăng cải tiến và đổi mới Nếu khách hàng càng có những phản ảnh về sản phẩm, hệ thống phân phối thì các công ty trong ngành càng có điều kiện nhận dạng những điểm yếu của mình để khắc phục, đồng thời hiểu biết yêu cầu của khách hàng nhiều hơn và
có thể xác định được nhu cầu mới trong tương lai tại thị trường nội địa cũng như nước ngoài Bởi vì áp lực yêu cầu khắt khe của nhu cầu nội địa, thông qua cạnh tranh các doanh nghiệp trong ngành có khả năng xây dựng được năng lực cạnh tranh của mình trước khi tham gia kinh doanh quốc tế
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan:
Năng lực cạnh tranh của các công ty trong nước được gia tăng nhờ vào tình trạng hoàn hảo của các nhà cung cấp nội địa (Porter, 1990) Một công ty có quan hệ cùng phối hợp hoạt động với những nhà cung cấp hàng đầu tại địa phương thì càng có điều kiện và cơ hội thực hiện các cải tiến của mình Ví dụ một công ty chế biến thủy sản xuất khẩu có thể nâng cao được chất lượng sản phẩm của mình bởi vì nó có mối quan
Trang 21hệ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp đầu vào tại địa phương có thể cung ứng nguyên liệu chất lượng tốt, giá rẻ và giao hàng nhanh chóng Bên cạnh những nhà cung cấp (hay các ngành công nghiệp hỗ trợ), sự phát triển của các ngành có liên quan cũng tạo động lực cho việc thực hiện các cải tiến liên tục nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty (Porter, 1990) Sự phát triển mạnh các cơ sở nghiên cứu công nghệ chế biến thủy sản, thiết bị và công nghệ bảo quản, các trung tâm kiểm định chất lượng thủy sản, các dạng dịch vụ hậu cần nghề cá địa phương… là ví dụ cho những ngành có liên quan hỗ trợ các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu Tuy nhiên, Porter (1990) nhấn mạnh đến khả năng đổi mới và nâng cấp năng lực của các ngành hỗ trợ và có liên quan tại địa phương để có khả năng cạnh tranh quốc tế và sự liên kết chặt chẽ và gần gũi giữa chúng với các công ty là cơ sở quan trọng để xây dựng một ngành có lợi thế cạnh tranh
Chiến lược công ty, cấu trúc ngành và cạnh tranh trong ngành:
Porter (1990) cho rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia còn phụ thuộc vào chiến lược của các công ty, cấu trúc và bản chất cạnh tranh của ngành Chiến lược và phương thức quản lý công ty cũng như cấu trúc của ngành tạo ra những lợi thế và bất lợi khác nhau trong cạnh tranh ở những ngành giữa các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ sự phù hợp của các thuộc tính này với điều kiện của mỗi quốc gia và nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh trong mỗi ngành
Tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành tại thị trường nội địa cũng là một động lực thúc đẩy các công ty cải tiến và đổi mới không ngừng Nếu các công ty phải đối phó với áp lực cạnh tranh dài hạn và khốc liệt trong ngành thì đòi hỏi họ phải thực hiện mọi nỗ lực tốt nhất để thực hiện các cải tiến Điều này sẽ tạo dựng hàng rào bảo
vệ trước sự xâm nhập của các công ty nước ngoài, đồng thời tạo lập được lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế
Vai trò của Chính phủ và các cơ hội:
Vai trò của Chính phủ là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn
“mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thương trường quốc tế Chính sách của Chính phủ có thể tăng cường lợi thế
cạnh tranh của quốc gia thông qua việc đầu tư nhằm tạo ra các yếu tố sản xuất có chất lượng ngày càng cao hơn, tác động đến việc tạo ra cấu trúc ngành gắn kết hiệu quả, tác
Trang 22động đến nhu cầu của người mua, đưa ra những chính sách khuyến khích cạnh tranh hay trong việc định hướng phát triển những ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ cho ngành có lợi thế cạnh tranh
Các cơ hội cũng có khả năng làm thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương Những thay đổi có lợi về chi phí đầu vào, tỷ giá hối đoái, quyết định chính trị của các chính phủ nước ngoài hay sự tăng mạnh của cầu trên thế giới có thểtạo ra những lợi thế trong cạnh tranh và có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn mới mạnh mẽ Các cơ hội rất quan trọng vì chúng có khả năng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh một doanh nghiệp hoặc một ngành
Tóm lại: Mô hình kim cương của Porter (1990) đã lý giải những lực lượng thúc
đẩy sự đổi mới và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trên thị trường Bốn nhóm nhân tố quan trọng trong mô hình được phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp trong ngành Sự “cộng hưởng” của chúng cùng với những tác động của Chính phủ và khả năng khai thác cơ hội thúc đẩy doanh nghiệp trong ngành hoạt động hiệu quả hơn và giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế
1.2 Lý thuyết về chuỗi giá trị
1.2.1 Khái niệm chuỗi giá trị
Theo Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi tất cả các hoạt động từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng trong doanh nghiệp mà chúng tạo ra giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ Các hoạt động tạo giá trị bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗtrợ Mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm một giá trị nhất định cho sản phẩm cung ứng cho khách hàng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng, bao gồm: hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần ra ngoài, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng Các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động chính bao gồm các hoạt động thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực,
cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Phân tích mô hình chuỗi giá trị của Porter (1985) giúp nhận dạng những điểm yếu trong mỗi hoạt động cần cải tiến cũng như phát hiện các nguồn lực tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Porter (1985) lập luận rằng
Trang 23nếu bản thân mỗi hoạt động có khả năng tạo ra giá trị và sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động được vận hành một cách hiệu quả sẽ tạo nên một nguồn lực mạnh của lợi thế cạnh tranh
Mô hình phân tích chuỗi giá trị của Porter (1985) bị giới hạn bởi những hoạt động tạo giá trị trong phạm vi một doanh nghiệp tạo ra sản phẩm cho khách hàng Với xu hướng tự do hóa thương mại và kinh doanh, cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị được
mở rộng ở phạm vi ngành, địa phương và quốc gia, đặc biệt là cách tiếp cận chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu Kaplinsky (2000), Kaplinsky và Morris (2001), Gereffi (1994, 1999) and Gereffi and Korzeniewicz (1994) là những người tiên phong ứng dụng mô
hình phân tích chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu Với cách tiếp cận toàn cầu, chuỗi giá
trị được định nghĩa là tập hợp tất cả các hoạt động để tạo ra giá trị của một sản phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua những giai đoạn khác nhau của hoạt động sản xuất, làm tăng giá trị và phân phối (Kaplinsky, 2000;
Kaplinsky và Morris, 2001) Vì vậy, có thể nói rằng chuỗi giá trị là tập hợp những hoạt động phức tạp tạo giá trị của toàn bộ các tác nhân trong chuỗi, xuất phát từ các tác nhân đầu tiên sản xuất nguyên liệu đầu vào, rồi qua các tác nhân sản xuất tạo ra sản phẩm và cuối cùng là những nhà phân phối sản phẩm Trong chuỗi giá trị toàn cầu có thể có sự tham gia của nhiều công ty, nhiều ngành giữa các quốc gia với nhau để thực hiện những công đoạn tạo giá trị khác nhau trước khi chuyển giao sản phẩm hoàn chỉnh đến người tiêu dùng cuối cùng Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa mở rộng theo cách tiếp cận toàn cầu cho việc phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản
Một chuỗi giá trị hình thành và tồn tại khi tất cả các bên có liên quan trong chuỗi vận hành theo mục tiêu tối đa hóa giá trị sinh ra trong chuỗi (Kaplinsky và Morris, 2001; Jacinto và Pomeroy, 2011) Trong bất kỳ chuỗi giá trị nào thì mỗi thành viên của chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích
đó Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào
sự thỏa mãn của khách hàng
Trang 241.2.2 Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng (Ganeshan và Harrison, 1995) Trong chuỗi cung ứng , sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả cũng như giá trị Như vậy, dựa vào định nghĩa ta thấy rằng chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng không có sự khác nhau vì chúng đều là chuỗi của sự nối tiếp nhau các quá trình và các hoạt động giữa các tác nhân liên quan nhằm tạo ra sản phẩm/dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng
Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị đang được các nhà khoa học quan tâm hơn so với chuỗi cung ứng (Feller và ctv, 2006) Mục tiêu chính của phân tích chuỗi giá trị là tối đa hóa giá trị tạo ra cho khách hàng và tối đa hóa lợi ích cho các bên có liên quan cũng như lợi ích trên toàn chuỗi giá trị, và phát triển bền vững qua thời gian (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011) Trong khi đó, chuỗi cung ứng trọng tâm vào chi phí và hiệu quả của các hoạt động hậu cần trên toàn chuỗi Hay nói cách khác, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là tối thiểu hóa chi phí và nguồn lực cung cấp sản phẩm trên cơ sở cắt giảm tới mức có thể các trung gian và các khoản chi phí trong hoạt động phân phối nhằm đáp ứng nhanh nhất, thuận tiện nhất và hiệu quả nhất nhu cầu của người tiêu dùng (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011) Trong chuỗi cung ứng, vấn đề được quan tâm là tính hiệu quả của dòng chảy cung ứng sản phẩm, xuất phát từ hoạt động cung cấp các yếu tố đầu vào, hình thành sản phẩm và phân phối cho người tiêu dùng một cách nhanh nhất, chính xác nhất và chi phí thấp nhất (Feller và ctv, 2006) Đối với chuỗi giá trị sự tập trung bắt đầu từ yêu cầu tối đa hóa giá trị cho người tiêu dùng cuối cùng và lần lượt là các tác nhân trung gian tham gia cung cấp sản phẩm trong chuỗi giá trị (Kaplinsky và Morris, 2001) Tuy vây, De Silva (2011) cho rằng một chuỗi cung ứng tốt là cần thiết để phát triển một chuỗi giá trị bền vững
1.2.3 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị
- Một trong những vai trò lớn nhất của việc xây dựng chuỗi giá trị là nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững (Kaplinsky và Morris, 2001) Với xu hướng toàn cầu hóa trong cung ứng, sản xuất và phân phối cùng với phân công lao động mạnh mẽ, xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu gắn kết giữa các tác
Trang 25nhân là mô hình cạnh tranh nổi bật của nhiều ngành công nghiệp và là chiến lược cạnh tranh sáng tạo của các doanh nghiệp (Feller và ctv, 2006)
- Phân tích chuỗi giá trị xác định được những tác nhân kinh tế tham gia vào sản xuất, phân phối, marketing và bán hàng cho một sản phẩm cụ thể Việc hình thành sơ
đồ chuỗi giá trị cho phép dễ dàng đánh giá đặc điểm hoạt động của các tác nhân, qui
mô và dòng chảy của sản phẩm, cấu trúc chi phí và lợi nhuận, nhận diện xu hướng biến đổi của từng công đoạn, xác định những điểm yếu và khiếm khuyết trong chuỗi
- Phân tích chuỗi giá trị đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự phân phối lợi ích của các tác nhân kinh tế trong chuỗi Điều này có thể nhận dạng được những tác nhân nào cần sự thay đổi hay hỗ trợ cần thiết để nâng cao năng lực và tạo sự cân bằng hợp lý lợi ích giữa các tác nhân Điều này là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng (Jacinto và Pomeroy, 2011)
- Phân tích chuỗi giá trị được sử dụng để xem xét khả năng nâng cấp chuỗi, bao gồm việc nâng cấp sản phẩm liên quan đến chất lượng, sự đa dạng hóa mẫu mã, chủng loại, nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh lâu dài cho chuỗi Khả năng cải tiến chuỗi giá trị dựa vào nhiều yếu tố như sự phân phối lợi ích trong chuỗi, phương cách giao dịch và trao đổi thông tin, rào cản gia nhập ngành, cơ chế quản lý của Nhà nước, những rào cản và tiêu chuẩn trong thương mại, các yếu tố liên quan đến văn hóa và tập quán kinh doanh
- Phân tích chuỗi giá trị cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc thiết lập cấu trúc mối quan hệ giữa các bên có liên quan, cơ chế phối hợp và vận hành trong chuỗi giá trị Điều này là quan trọng cho việc hình thành chính sách quản lý để nâng cao vị thế cạnh tranh của chuỗi, khắc phục các điểm yếu và tạo nhiều giá trị gia tăng cho ngành (Kaplinsky và Morris, 2001)
Với vai trò ưu việt trong cạnh tranh trên toàn cầu từ việc phân tích chuỗi giá trị, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia cho nhiều ngành như: ngành công nghiệp xe hơi (Humphrey và Memedovic, 2003), ngành sản xuất xe đạp (Galvin và Morkel, 2001), ngành công nghệ điện tử (Sturgeon, 2002), ngành trang sức (Gereffi và Memodovic, 2003) Nhóm nghiên cứu VDCWG (Value Chain Dynamics Working Group) ở Trường Đại học Cambridge đã thực hiện nhiều nghiên cứu cho một số ngành
ở Mỹ như: ngành công nghiệp truyền thông, ngành dịch vụ điện thoại di động, thiết bị
Trang 26kỹ thuật số Phân tích chuỗi giá trị cũng được ứng dụng nhiều cho nhiều sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp như: chuỗi giá trị rau sạch (Dolan và Humphrey, 2000, 2004), sản phẩm thịt heo (Lowe và Gereffi, 2008), sản phẩm thịt bò (Lowe và Gereffi, 2009), cà phê và ca cao (Gilbert, 2008), sản phẩm thủy sản (FAO, 2006, 2011b; Hempel, 2010; De Silva, 2011)
1.2.4 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu
FAO (2006) định nghĩa rằng một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình bao gồm hoạt động sản xuất khai thác/nuôi trồng thủy sản, sơ chế, chế biến sản phẩm, phân phối và bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng (Hình 1.3) Theo FAO (2006), có sáu quá trình cơ bản theo trình tự cho một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình bao gồm: (1) hoạt động sản xuất của ngư dân khai thác hoặc nuôi trồng; (2) hoạt động của những tác nhân sơ chế ban đầu; (3) hoạt động của tác nhân chế biến; (4) hoạt động các nhà buôn bán sỉ; (5) những người bán lẻ và (6) người tiêu dùng cuối cùng
Hình 1.3 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình Nguồn: FAO (2006)
Tuy nhiên, trong thực tế một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản có thể có nhiều hoặc
ít số lượng các quá trình tạo ra giá trị và số các tác nhân trong chuỗi nhưng mỗi quá trình như vậy đều tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng FAO (2006) đã sử dụng kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở
4 quốc gia để minh họa cho lập luận này (xem Hình 1.4 và 1.5)
sản phẩm
Sơ chế
Người tiêu dùng
Trang 27Thị trường xuất khẩu Thị trường nội địa
Ngư dân
lưới kéo Nhà chế biến
Công ty xuất khẩu
Người bán buôn
Ngư dân
lưới rê
Nhà hàng/ cửa hàng thực phẩm
Thị trường nước ngoài
Bán lẻ
Bán lẻ
Nhà hàng/ cửa hàng thực phẩm
Ngư
dân
Trung gian thu mua
Nhà chế biến Xuất khẩu/ marketing Bán lẻ
Nhập khẩu Khai thác
Nhập khẩu
nguyên liệu
Sơ chế ban đầu
Chế biến lần 2
Bán lẻ trong nước
Xuất khẩu
Trang 28Hình 1.5 Phân phối giá trị gia tăng giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở 4 quốc gia khác nhau (“Fishing” = “Đánh bắt”; “Processing/Fishmongers” =
“Chế biến/trung gian bán cá”; Wholesale/secondary processing” = “Bán sỉ/chế biến lần
2”; “Retail” = “Bán lẻ”) Nguồn: FAO (2006)
De Silva (2011) đã nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu sản phẩm thủy sản khai thác biển ở nhiều quốc gia Mỗi quốc gia có những chuỗi giá trị khác nhau tùy thuộc vào số lượng các tác nhân tham gia trong chuỗi De Silva (2011) đã trình bày các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển khác nhau trong Hình 1.6, trong đó chuỗi giá trị của một số quốc gia chỉ giới hạn trong thị trường nội địa và không có giao dịch quốc tế, trong khi đó ở những quốc gia khác chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển bao gồm sự mở rộng cho cả thị trường nội địa và quốc tế tạo nên chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu De Silva (2011) kết luận rằng một chuỗi giá trị các mặt hàng sản phẩm này thường có những tác nhân quan trọng đó là người ngư dân, những người mua bán trung gian (thương lái/nậu vựa), người bán sỉ, người bán lẻ, công ty chế biến và người tiêu dùng
Trang 29Nguồn: De Silva (2011)
Vì vậy, có thể định nghĩa rằng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển là tập hợp tất cả các tác nhân trong chuỗi bao gồm ngư dân, nhà mua bán trung gian, nhà chế biến, nhà nhập khẩu, nhà bán buôn, nhà bán lẻ tạo nên sản phẩm thủy sản cuối cùng cho người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, chuỗi giá trị tổng quát sản phẩm thủy sản khai thác biển có thể biểu diễn ở Hình 1.7
Tái xuất khẩu Buôn bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu
dùng
Người buôn bán sỉ Người bán lẻ
Nhà nhập khẩu
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Trang 30Hình 1.7 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển tổng quát
1.2.5 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản
Theo Kaplinsky và Morris (2001), phương pháp luận để phân tích chuỗi giá trị bao gồm những nội dung sau:
- Xác định tác nhân đầu tiên để bắt đầu thực hiện nghiên cứu: Tùy vào lĩnh vực, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu để lựa chọn tác nhân khởi đầu khác nhau cho nghiên cứu chuỗi giá trị (xem Kaplinsky và Morris (2001) để thấy ví dụ minh họa) Mục tiêu của bước này là xác định hướng luân chuyển của dòng sản phẩm và thông tin
- Lập sơ đồ chuỗi giá trị: tiến trình thực hiện bao gồm (i) xác định và vẽ quá trình cốt lõi trong chuỗi giá trị (gồm những hoạt động chính và quan trọng trong chuỗi); (ii) xác định những tác nhân trong mỗi quá trình (tức là những tác nhân thực hiện những chức năng trong mỗi quá trình của chuỗi giá trị); (iii) vẽ dòng luân chuyển sản phẩm giữa các tác nhân dọc theo chuỗi, bao gồm dòng luân chuyển về địa lý; (iv) xác định khối lượng sản phẩm giao dịch luân chuyển giữa các tác nhân; (v) xác định sự thay đổi giá trị qua mỗi quá trình (tức là xác định mức giá trị gia tăng tạo ra từ mỗi tác nhân cho người tiêu dùng cuối cùng trên cơ sở xác định doanh thu và chi phí) và (vi) xác định các phương thức liên kết và giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi
- Xác định những phân đoạn thị trường của sản phẩm và các yếu tố thành công then chốt cho sản phẩm trên thị trường: tức là xác định đặc điểm đa dạng hóa sản phẩm cho từng nhóm khách hàng mục tiêu đa dạng trong những thị trường trọng điểm
Người bán lẻ
Nhà nhập khẩu
Những nhà mua bán trung gian Ngư dân
Người bán sỉ
Nhà chế biến nước ngoài
Người tiêu dùng nước ngoài
Người bán sỉ
Người bán lẻ
Người tiêu dùng nội địa
Trang 31khác nhau, và xác định những yếu tố then chốt tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường (sự khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ kèm theo hay là giá cả sản phẩm)
- Xác định cách thức nhà sản xuất kết nối với thị trường, đánh giá đặc điểm và vai trò của người mua và người bán trên thị trường
- Đánh giá và kiểm tra hiệu quả vận hành chuỗi giá trị: tức là đánh giá khả năng cạnh tranh về chi phí, chất lượng, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng, năng lực thực hiện cải tiến cho sản phẩm cũng như quá trình tạo giá trị
- Quản trị chuỗi giá trị: bắt đầu bằng việc đánh giá sức mạnh của quyền lực chi phối thị trường ở các tác nhân; xác định tác nhân then chốt và quan trọng nhất trong việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững
- Nâng cấp chuỗi giá trị: bao gồm (i) cải tiến trong quá trình (khả năng cải tiến hoặc thay đổi liên kết hiệu quả giữa các tác nhân), (ii) cải tiến trong sản phẩm, (iii) thay đổi vị trí đảm nhiệm chức năng (tức là điều chỉnh việc đảm nhận các chức năng hoạt động giữa các tác nhân để chuỗi vận hành hiệu quả hơn) và (iv) nâng cấp chuỗi (tức là đa dạng hóa chuỗi giá trị bằng cách tạo thêm các chuỗi giá trị mới)
- Các vấn đề liên quan đến phân phối lợi ích, giá trị gia tăng, rủi ro, rào cản gia nhập ngành
Tuy nhiên, Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có một phương pháp chuẩn tắc cho việc phân tích một chuỗi giá trị Xây dựng phương pháp phân tích chuỗi giá trị phụ thuộc vào cách tiếp cận chuỗi và vấn đề nghiên cứu cũng như mục tiêu đặt ra Có nhiều cách tiếp cận trong phân tích chuỗi giá trị, nhưng mỗi cách tiếp cận chuỗi đều có những lợi thế và bất lợi khác nhau Jacinto và Pomeroy (2011) cho rằng phân tích chuỗi giá trị dựa trên mặt hàng thường được lựa chọn để thực hiện ở phạm vi thị trường địa phương, quốc gia và toàn cầu Cách tiếp cận phân tích dựa trên mặt hàng có thể cung cấp sự hiểu biết đầy đủ hơn về cấu trúc ngành của mặt hàng nghiên cứu, các chiến lược kinh doanh của những tác nhân khác nhau trong chuỗi và hiểu rõ hơn bản chất bên trong của sự liên kết kinh tế giữa các quá trình (Jacinto và Pomeroy, 2011) Vì vậy, đề tài cũng sử dụng cách tiếp cận này trong nghiên cứu thực nghiệm
Jacinto và Pomeroy (2011) cho rằng có bốn khía cạnh quan trọng trong phân tích chuỗi giá trị các mặt hàng nông sản mà các nhà nghiên cứu nên tập trung vào, đó là:
Trang 32(i) Thiết lập sơ đồ chuỗi giá trị bao gồm: mối liên kết giữa các tác nhân kinh
tế trong chuỗi và dòng luân chuyển sản phẩm; đánh giá đặc điểm mỗi tác nhân; xác định doanh thu, cấu trúc chi phí, lợi nhuận và rủi ro của mỗi tác nhân
(ii) Xác định,so sánh và đánh giá sự phân phối lợi ích và rủi ro giữa các tác
nhân trong chuỗi giá trị
(iii) Tìm kiếm giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị
(iv) Xây dựng cơ chế hợp tác và quản trị chuỗi giá trị
Tuy nhiên, Jacinto và Pomeroy (2011) đề xuất rằng phân tích chuỗi giá trị cần có một mô hình phân tích kết hợp với lý thuyết Kaplinsky và Morris (2001) nhằm thấy rõ bản chất nguồn gốc của sự vận hành liên kết và cạnh tranh trong chuỗi Xuất phát từ câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp cũng như sự giới hạn về thời gian
và nguồn lực tài chính, nghiên cứu này chỉ tập trung vào 4 nội dung nghiên cứu trên và
sử dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance) để phân tích chuỗi giá trị sản phẩm mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang Phần tiếp theo sẽ trình bày phương pháp phân tích dựa vào mô hình SCP
1.2.6 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP
Mô hình SCP kết hợp cách tiếp cận chuỗi của ngành hàng kinh doanh được sử dụng như là phương pháp phân tích chuỗi giá trị của đề tài nghiên cứu Mô hình SCP (Bain, 1951) chỉ ra mối liên hệ giữa 3 yếu tố cấu trúc thị trường (S), sự vận hành (C)
và kết quả thực hiện thị trường (P) trong chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang Điểm then chốt của mô hình SCP là cho thấy có sự tương tác nhân quả giữa 3 yếu tố này trong phân tích một chuỗi giá trị (Hình 1.8)
Hình 1.8 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP Nguồn: Bain (1951) Cấu trúc thị trường và sự vận hành thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện thị trường/kết quả kinh doanh của ngành Ngược lại, kết quả thị trường sẽ tác động trở lại đến cấu trúc và sự vận hành thị trường trong dài hạn như được chỉ trong
Cấu trúc thị
trường (S)
Vận hành thị trường (C)
Kết quả thực hiện thị trường (P)
Trang 33hình 1.8 Kết quả thị trường phụ thuộc vào sự vận hành thị trường của người bán và người mua thông qua các chính sách định giá, chủng loại sản phẩm, đầu tư phương tiện sản xuất Sự vận hành ảnh hưởng chi phối ngược lại cấu trúc thị trường bao gồm ảnh hưởng đến số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh của những người bán và người mua, các kênh marketing, mức độ khác biệt hóa sản phẩm, sự tồn tại hay không của các rào cản gia nhập và xuất ngành Ứng dụng mô hình SCP cho phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta nhận dạng khả năng cải tiến vị thế cạnh tranh chuỗi giá trị sản phẩm Các nhân tố trong của mô hình SCP được thể hiện trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Các nhân tố của mô hình SCP
Nhân tố cấu trúc (S) Nhân tố vận hành (C) Nhân tố kết quả (P)
-Những trung gian trong
-Phân loại chất lượng
-Phân tích thông tin thị
-Sự thích hợp của sản phẩm liên quan đến thị hiếu của khách hàng -Hiệu quả của dịch vụ cung ứng: +Tỉ lệ lợi nhuận liên quan đến chênh lệch biên tế giữa giá và chi phí marketing
+Phân tích thị trường; thương lượng chi phí giao dịch (tìm kiếm và kí hợp đồng)
+Phân tích khác biệt về giá và giao động về giá theo thời vụ
+Tham gia thị trường -Phân tích sự năng động của thị trường
Nguồn: Đại và ctv (2008)
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và những hạn chế về số liệu nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến các nhân tố chính như trong bảng 1.2:
Trang 34Bảng 1.2 Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa
Cấu trúc thị trường Tổ chức và vận hành thị trường Kết quả thực hiện thị trường
-Qui trình hình thành giá -Tiếp cận thông tin thị trường -Kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc
-Tình hình cạnh tranh trong ngành -Các cơ chế và chính sách liên quan
-Doanh thu -Chi phí sản xuất -Chi phí tăng thêm -Lợi nhuận và giá trị tăng thêm -Tỷ suất lợi nhuận biên trên tổng chi phí
-Tỷ suất lợi nhuận biên trên chi phí tăng thêm
Trong phân tích kết quả thị trường, đề tài tập trung vào việc phân tích phân phối giá trị tăng thêm của mỗi tác nhân tham gia trong chuỗi nhằm xác định giá trị kinh tếtạo ra cho người tiêu dùng của mỗi tác nhân và của toàn chuỗi giá trị Đối với kênh phân phối cá ngừ sọc dưa, việc phân tích giá trị tăng thêm dựa vào chi phí sản xuất, chi phí marketing hoặc chi phí tăng thêm và lợi nhuận của mỗi tác nhân trong chuỗi Qua việc phân tích giá trị tăng thêm nhằm làm rõ mức phân chia lợi nhuận cho từng thành viên trong chuỗi Hai chỉ số được sử dụng trong phân tích đó là: tỷ suất lợi nhuận biên trên tổng chi phí và tỷ suất lợi nhuận biên trên chi phí tăng thêm Hai chỉ số này được
sử dụng nhằm so sánh và xác định mức độ hợp lý của việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí = Lợi nhuận biên
Tổng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí gia tăng = Lợi nhuận biên
Chi phí tăng thêm
Trang 351.3 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài
Có nhiều nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng Năm 2009, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã có báo cáo tổng hợp khá đầy đủ các nghiên cứu về lý thuyết phân tích chuỗi giá trị nhằm thực hiện nghiên cứu ứng dụng cho các sản phẩm nông nghiệp (UNIDO, 2009) Tuy nhiên, lý thuyết chuỗi giá trị của UNIDO (2009) được tổng hợp chủ yếu dựa trên các nghiên cứu trước đó của Kaplinsky và Morris (2001), Gereffi (1994, 1999) and Gereffi and Korzeniewicz (1994) UNIDO đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng về phân tích chuỗi giá trị một số sản phẩm nông nghiệp như các sản phẩm ngũ cốc, các sản phẩm dầu từ thực vật, cà phê, ca cao, đường, sữa, thịt động vật, trái cây, trà, rau, mật ong ở một số quốc gia như Ethiopia, Nicaragua, Ecuador, Ai Cập, Sri Lanka, Indonesia, Việt Nam, một số nước ở Châu Âu (UNIDO, 2009; Folke và ctv, 2010) Phương pháp tiếp cận cho các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các nội dung phân tích chuỗi giá trị được trình bày trong phần 1.2.5 của đề tài này Các nghiên cứu cho thấy cấu trúc thị trường các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là
đa dạng và khác biệt giữa các quốc gia, có sự khác nhau về phân phối lợi ích và đặc biệt là các chuỗi giá trị chịu tác động khác nhau lớn bởi cơ chế và chính sách từ các Chính phủ UNIDO (2009) đã báo cáo rằng 98% sản phẩm nông nghiệp từ các nước phát triển được chế biến công nghiệp và thu được 185 USD giá trị gia tăng trên 1 tấn sản phẩm nông nghiệp chế biến, trong khi đó tỷ lệ này tại các nước đang phát triển là 38% tương ứng với giá trị gia tăng là 40 USD trên 1 tấn sản phẩm nông nghiệp Thêm vào đó, giá trị tổn thất sau thu hoạch ở những nước đang phát triển khoảng 40%, trong khi đó ở các nước công nghiệp phát triển là rất nhỏ UNIDO (2009) kết luận rằng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp ở các nước đang phát triển tạo ra giá trị thấp và nhìn chung đang ở vị thế cạnh tranh bất lợi so với các nước phát triển
Nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản, có một số công trình nghiên cứu của FAO đã được thực hiện Ngoài những kết quả nghiên cứu của FAO (2006) và
De Sival (2011) đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ những dự án của FAO, Bjorndal
và Gordon (2010) đã tiến hành xây dựng mô hình lý thuyết về biến động giá cả và lợi ích biên giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản Nghiên cứu đã trình bày khung mô hình sự thay đổi giá cả từ tác nhân này sang các nhân khác tùy thuộc
Trang 36vào độ co dãn của cầu giữa các quốc gia và đặc điểm cạnh tranh ở mỗi thị trường (cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền) Tuy nhiên hai tác giả này kết luận rằng cần có những nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn để kiểm định cho các mô hình lý thuyết này (Bjorndal và Gordon, 2010) FAO (2011b) đã trình bày nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm những mặt hàng thủy sản khai thác nội địa của Campuchia FAO (2011b) lần lượt phân tích các tác nhân trong chuỗi về đặc điểm sản xuất, phương thức giao dịch trao đổi mua bán, từ đó xây dựng một chuỗi giá trị tổng quát cho chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác Campuchia Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa xác định được sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi vì thiếu dữ liệu điều tra thực tế
Trong khuôn khổ dự án AU/NEPAD ở Châu Phi, Hempel (2010) đã có báo cáo phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác ở một số quốc Châu Phi, bao gồm Tanzania, Maroc, Namibia, Uganda, Kenya, Negieria, Ghana Dựa vào phương pháp phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001), Hempel (2010) đã vận dụng
mô hình phân tích chuỗi giá trị của FAO (2006) như hình 1.3 để xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị cho những sản phẩm được lựa chọn ở các quốc gia này và phân tích mối quan
hệ tương tác giữa các tác nhân trong sự vận hành chuỗi giá trị Nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động của các chính sách vĩ mô đến sự vận hành các chuỗi giá trị và những thách thức từ rào cản thương mại đối với việc tạo lập vị thế cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế
Trung tâm nghiên cứu CGGC (Center on Globalization, Governance and Competitiveness) của Trường Đại học Duck (Mỹ) là một trong những nơi thực hiện khá nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ở các quốc gia Châu Mỹ, ví dụ Lowe và Gereffi (2008, 2009) phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thịt heo và bò, Fernandez-Stark và ctv (2011) nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau và trái cây Năm 2010, Dubay và ctv (2010) đã phân tích chuỗi giá trị sản phẩm tôm biển khai thác của Mexico xuất khẩu vào thị trường Mỹ Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xác định cấu trúc kênh thị trường từ khâu đầu tiên (người đánh bắt) đến người tiêu dùng cuối cùng bao gồm cả sự phân phối tỷ lệ sản lượng mua bán qua các tác nhân đến người tiêu dùng Mexico và Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 90% tôm khai thác của Mexico được xuất khẩu đến thị trường Mỹ Phương thức tổ chức và vận hành chuỗi cũng được chú trọng phân tích và đánh giá, và cuối cùng xác
Trang 37định sự phân phối thu nhập và chi phí giữa các tác nhân trong chuỗi (Dubay và ctv, 2010) Mặc dù nghiên cứu của Dubay và ctv (2010) không đề cập đến mô hình lý thuyết SCP, nhưng qua kết quả nghiên cứu trình bày ta thấy rằng nghiên cứu này đã tiến hành xác định cấu trúc thị trường của chuỗi giá trị, đánh giá sự vận hành và tổ chức hoạt động mua bán trên thị trường và tính toán lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi
1.3.2 Nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm ở Việt Nam Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ) đã phối với các tổ chức và các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện một số nghiên cứu về chuỗi giá trị ở một số tỉnh thành chọn lọc Vì vậy, một số nghiên cứu thực nghiệm được công bố như “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển tiểu ngành dâu tằm tơ tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình” (Thanh, 2006a); “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cao
su ở Quảng Bình” (Thanh, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị bơ Đắc Lắc” (GTZ, 2006a),
“Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên” (GTZ, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị
cá tra và ba sa ở Đồng bằng Sông Cửu Long” (GTZ, 2009) và một số nghiên cứu khác của GTZ có thể tìm thấy tại trang web Chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Đức (http://sme-gtz.org.vn) Phương pháp nghiên cứu phần lớn dựa vào cuốn
“Cẩm nang Liên kết Giá trị: Phương pháp luận thúc đẩy chuỗi giá trị” của GTZ phát hành (GTZ, 2007) Nền tảng phương pháp luận của GTZ chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Kaplinsky và Morris (2001) Hầu hết các nghiên cứu đã cung cấp những kết quả
và khuyến nghị có giá trị cho các bên có liên quan trong chuỗi giá trị Ví dụ kết quả phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên kết luận rằng phần lớn rau cải ngọt ở Hưng Yên được nông dân bán trực tiếp cho người bán sỉ tại Hưng Yên, những người bán sỉ này lại bán trực tiếp tại các chợ đầu mối ở Hà Nội cho người bán lẻ và cho những người bán sỉ đến từ các tỉnh khác (GTZ, 2006b) Việc sản xuất còn phân tán và còn thiếu sự gắn kết giữa người sản xuất với thị trường Giá bán rau cải ngọt không ổn định, khi điều kiện sản xuất thuận lợi thì giá bán thấp Rau cải ngọt Hưng Yên chưa tạo được thương hiệu đối với người bán lẻ và người tiêu dùng Hà Nội mặc dù chiếm thị phần lớn tại thị trường này Nghiên cứu cũng cho thấy tổng thu nhập/năm từ việc sản xuất rau là tương đối cao Tuy nhiên, các tác nhân trong chuỗi gặp rủi ro cao do chưa nắm được thông tin thị trường và phải chịu cạnh tranh gay gắt (GTZ, 2006b)
Trang 38Nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành dâu tằm tơ tại Quảng Bình cho thấy nhu cầu thị trường nội địa và quốc tế cao nhưng chưa được đáp ứng (Thanh, 2006a) Khối lượng kén tằm sản xuất ra chỉ đáp ứng 30% cho công nghiệp ươm tơ trong nước và áp lực cạnh tranh gay gắt trong việc thu mua sản phẩm cho xuất khẩu Kết quả nghiên cứu chỉ rằng nhờ có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các tổ chức hoạt động trên địa bàn nên ngành này có tiềm năng phát triển Trong chuỗi giá trị sản phẩm tơ tằm, những người tham gia vào nghề trồng dâu nuôi tằm có thu nhập ổn định, ngày càng tăng và đóng góp giá trị tăng thêm nhiều nhất trong chuỗi (Thanh, 2006a)
GTZ (2009) tổng kết các kết quả nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam khuyến nghị rằng cần có sự hợp tác tích cực giữa các tác nhân, đặc biệt giữa nông dân với các doanh nghiệp tư nhân nhằm tăng cường khả năng thiết lập kênh phân phối trực tiếp các sản phẩm nông sản Sự hỗ trợ và tích cực tham gia của các ban ngành địa phương đóng vai quan trọng làm nên thành công và sự bền vững của phát triển chuỗi giá trị Chính phủ Việt Nam quan tâm và đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và cần có chính sách hỗ trợ can thiệp tạo lập chuỗi giá trị bền vững Công ty nghiên cứu thị trường Việt Nam (Axis Research) cũng có nhiều nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị ở các tỉnh thành tập trung vào các sản phẩm nông sản như rau củ quả và trái cây Các phân tích tiến hành xác định cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm
và phân tích các đặc điểm hoạt động sản xuất và mua bán của các tác nhân, sau đó tính toán lợi ích và chi phí nhằm xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi Axis Research (2005) báo cáo phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận cho thấy kênh phân phối trong chuỗi giá trị này chủ yếu được cung ứng theo con đường truyền thống đó là: Nông dân → Thương lái → Người bán sỉ → Người bán lẻ → Người tiêu dùng Báo cáo kết luận người nông dân khá thụ động trong khâu thu hoạch và tiêu thụ Hầu như nông dân bán sản phẩm cho thương lái, một số lượng rất ít hộ tự thu hoạch và bán cho các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh Trong tỉnh đa số là các thương lái nhỏ, thu mua bán lại cho thương lái lớn hoặc bán cho người bán sỉ tại các thành phố khác trên cơ sở quen biết và hợp đồng miệng Chỉ có một vài thương lái lớn mua để xuât khẩu hoặc bán cho các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh Nông dân trồng nho thu lợi nhuận khá cao nhưng không ổn định và gặp nhiều rủi ro lớn về thời tiết, sâu bệnh và không nắm được thông tin thị trường Người bán sỉ có quyền lực định giá trong chuỗi giá trị sản phẩm này (Axis Research, 2005)
Trang 39Axis Research (2006) đã phân tích các tác nhân trong chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long nhằm xác định cấu trúc thị trường tiêu thụ, phân tích đặc điểm và mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi để từ đó có sự thay đổi và hướng hỗ trợ phù hợp giúp phát triển chuỗi một cách bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy thương lái là khách hàng quan trọng của nông dân trồng bưởi Tuy nhiên, so với chuỗi giá trị nho Ninh Thuận thì người trồng bưởi Vĩnh Long có ưu thế hơn trong việc quyết định thời điểm bán và giá bán vì bưởi không dễ hư hỏng như nho và người nông dân trồng bưởi có thể neo trái lại trên cây hoặc thu hoạch và bảo quản dễ dàng Đặc biệt, lượng cung bưởi nhỏ hơn nhu cầu nên thương lái phải cạnh tranh cao trong thu mua hàng Đối với những người bán sỉ, họ có thu nhập ổn định và không gặp nhiều rủi ro Các doanh nghiệp chế biến bưởi gặp nhiều khó khăn do đầu ra không ổn định và chất lượng bưởi Việt Nam không cao
Thuận và Hải (2008) đã vận dụng mô hình SCP kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing để nghiên cứu các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm heo ở Đồng bằng Sông Cửu Long Nghiên cứu này tập trung vào cấu trúc thị trường nội địa, mối quan hệ giữa các tác nhân trung gian trên thị trường và đánh giá về tính hiệu quả của thị trường dịch vụ Kết quả nghiên cứu chỉ rằng người nuôi và thương lái chiếm tỷ trọng lớn trong việc tạo giá trị và đạt lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, người nuôi phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất Ngược lại, lò mổ và người bán lẻ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong việc tạo ra giá trị, họ thường cạnh tranh nhau về giá nên khả năng đạt lợi nhuận thấp Trong chuỗi giá trị này, thương lái là tác nhân thu được lợi nhuận cao nhất, kế đến là người nuôi, bán lẻ và lò mổ Sử dụng phương pháp tương tự như Thuận và Hải (2008), Nam và ctv (2008) đã phân tích cấu trúc của kênh phân phối sản phẩm cam và sự hợp tác giữa các tác nhân trong kênh, đồng thời đánh giá kết quả thực hiện thị trường của các kênh phân phối sản phẩm cam, qua đó đề xuất các nghiên cứu tiếp theo và các chương trình hỗ trợ cho việc tăng tính hiệu quả của cả dây chuyền cung ứng cam ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nam và ctv (2008) kết luận lợi nhuận biên của người bán sỉ địa phương và tại chợ đầu mối là thấp nhất, nhưng tác nhân này buôn bán với số lượng lớn và thời gian quay vòng vốn nhanh nên tổng lợi nhuận thu được lớn nhất trong kênh Người bán lẻ tuy có lợi nhuận biên cao nhất trong nhóm nhưng vì lượng cam bán ra mỗi ngày rất thấp nên tổng lợi nhuận thấp hơn người bán sỉ Qua nghiên cứu cũng thấy trong dây chuyền cung cấp cam đang tồn tại nhiều trung gian phân phối
Trang 40với sự bất cân xứng về lợi nhuận và chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi giá trị
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản vẫn còn khiêm tốn và rời rạc Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng thủy sản nuôi trồng như cá tra và tôm như trong báo cáo của GTZ và Dự án nuôi trồng phát triển thủy sản theo chuẩn thương mại (Dự án SEAT - Sustaining Ethical Aquatic Trade) Những nghiên cứu này trọng tâm nghiên cứu các bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị ngành hàng cá tra và tôm để tìm hiểu và nhận diện các vấn đề phát triển bền vững liên quan đến việc sản xuất và thương mại hai ngành hàng này trong phạm vi nội địa và quốc tế Các nghiên cứu cho thấy thiếu sự liên kết người nuôi cá và tôm đang gặp nhiều khó khăn Qua kết quả khảo sát, phân tích trên 3 khía cạnh kinh tế, môi trường,
xã hội/tổ chức, từ nhận thức các nhóm liên quan, về các yếu tố tác động đến hoạt động trong tương lai, trong đó riêng khía cạnh kinh tế hiện đang nổi lên yếu tố khó khăn, ảnh hưởng đến phát triển bền vững (xem SEAT, 2012) Nhóm những người nuôi và nhà máy chế biến thủy sản gặp hạn chế nguồn vốn đầu tư; giá sản phẩm thấp; nhà máy gặp tình trạng nguồn nguyên liệu không ổn định và thách thức từ rào cản kỹ thuật Nhóm sản xuất giống phản ánh khó khăn trong tiếp cận công nghệ Nhóm thương lái thu mua ít gặp những rủi ro từ những biến động trên thị trường (GTZ, 2009; SEAT, 2012)
Đối với sản phẩm thủy sản khai thác biển, Thủy và ctv (2011) đã tiến hành phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cá cơm tại thị trường Khánh Hòa Báo cáo đã sử dụng mô hình SCP phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng thủy sản cá cơm, đánh giá vai trò của các tác nhân, phân tích hoạt động tổ chức và vận hành chuỗi giá trị, và xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân chênh lệch khá lớn Ngư dân là người thu được lợi ích kinh tế thấp nhất, nhưng họ phải chịu nhiều rủi ro Giá bán của ngư dân phụ thuộc hoàn toàn vào giá của nậu vựa đưa ra, nhưng quyền lực định giá trên thị trường
là nhà nhập khẩu Các tác nhân cuối cùng trong chuỗi (cơ sở chế biến thủy sản, cơ sở sản xuất nước mắm) là những người được hưởng lợi nhiều nhất, đặc biệt là cơ sở xuất khẩu Các công ty chế biến tạo ra giá trị nhiều nhất trong chuỗi, tuy nhiên tác nhân này gặp rủi ro trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm Người được lợi ích kinh tế cao thứ hai trong chuỗi là các chủ nậu vựa