1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT Đề tài: XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đã nội luật hóa các Điều ước quốc tế mà mình đã cam kết vào các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hệ thống pháp luật quốc gia hiện nay như Luật bảo vệ môi tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Đề tài:

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG

VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

Họ và tên : Vũ Thị Bé MSSV : 1253801011016 Lớp : 31-HC37.1

TP.HCM - THÁNG 6/2016

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Môi trường hiện đang là một vấn nạn mà cả thế giới quan tâm Bởi nó ảnh hưởng đến sự sống còn, sức khỏe của con người cũng như sinh vật trong thế giới

tự nhiên Một môi trường trong sạch sẽ đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển bền vững Thế nhưng, không phải ai cũng hiểu được tầm ảnh hưởng quan trọng của việc giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp Không ít người chỉ vì cái lợi về mặt kinh tế trước mắt mà ra sức tàn phá, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường Tình trạng ô nhiễm môi trường cứ diễn ra từng ngày, thậm chí là từng giờ từng phút và đang có xu hướng ngày càng trầm trọng; hiện tượng biến đổi khí hậu diễn ra rất phức tạp; chất lượng không khí, nguồn nước, tài nguyên, hệ sinh thái tại nhiều nơi đang ở mức báo động Nguyên nhân dẫn đến việc ô nhiễm môi trường không chỉ xuất phát từ các hoạt động mang tính vĩ mô như chạy đua vũ khí hạt nhân, thử nghiệm tên lửa… của các quốc gia mà còn xuất phát từ ý thức thấp kém trong việc bảo vệ môi trường của từng cá nhân, tổ chức thông qua các hoạt động mang tính vi mô như việc xả rác thải sinh hoạt hằng ngày, xả nước thải và chất độc hại vào môi trường mà không qua xử lý… Trước tình trạng môi trường ngày càng suy thoái trầm trọng, Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển đã được tổ chức tại Jio de Janeiro - Braxin vào tháng 6/1992; Hội nghị Thượng đỉnh Thế Giới về phát triển bền vững tại Joharnesburg - Nam Phi được tổ chức vào tháng 8/2002; Hội nghị thế giới về Khí hậu - Copenhagen diễn ra tại Đan Mạch từ ngày 7 đến 18/12/2009; gần đây nhất là Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu COP21 diễn ra tại Paris bắt đầu từ ngày 12/12/2015 và nhiều Điều ước quốc tế song phương, đa phương về bảo vệ môi trường đã được ký kết Việt Nam đã tham gia một số Điều ước như: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, 1972 (19/10/1987); Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA), 1985 (30/10/1987); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước (RAMSAR), 1971 (20/9/1989); Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC), 1992 (16/11/1994); Công ước Liên Hợp Quốc

về Luật Biển (UNCLOS), 1982 Việt Nam đã nội luật hóa các Điều ước quốc tế

mà mình đã cam kết vào các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hệ thống pháp luật quốc gia hiện nay như Luật bảo vệ môi trường năm

2014, và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành, điển hình như Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vẫn xảy ra tương đối phổ biến, công tác

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng chưa triệt để,

có nhiều vụ vi phạm không được phát hiện kịp thời hoặc được phát hiện nhưng

xử lý chưa thỏa đáng, chưa đủ sức răn đe dẫn đến việc tái phạm nhiều lần

Trang 3

Những bất cập trên đây có nhiều nguyên nhân khác nhau, không chỉ xuất phát từ

ý thức chấp hành của các cá nhân, tổ chức mà còn xuất phát từ chính những bất cập của pháp luật điều chỉnh

Trước tình hình đó, em đã chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn thi hành” làm Tiểu luận tốt nghiệp, với mong muốn góp phần nâng cao hiểu biết của các cá nhân, tổ chức về các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhất là những quy định về vấn đề này trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong vực bảo vệ môi trường Tiểu luận có phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các quy định pháp luật hiện hành như Luật bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, tham khảo một số bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành và phân tích một số vụ việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường xảy ra trong thời gian gần đây Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, những yêu cầu mà đề tài đặt ra đã dần được làm sáng tỏ trong Tiểu luận Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận được kết cấu thành 3 chương: Chương 1 Cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Chương 2 Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn thi hành Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, nhưng với thời gian, điều kiện và khả năng có hạn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và các bạn

Trang 4

Mục lục

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 4

1.1 Khái niệm môi trường và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 4

1.1.1 Khái niệm, vai trò của môi trường đối với cuộc sống 4

a Khái niệm 4

b Vai trò của môi trường đối với cuộc sống 4

1.1.2 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 5 1.2 Đặc điểm các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 6

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 9

2.1 Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 9

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 15

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 20

Trang 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 Khái niệm môi trường và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.1.1 Khái niệm, vai trò của môi trường đối với cuộc sống

Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

b Vai trò của môi trường đối với cuộc sống

Môi trường có các vai trò cơ bản sau:

• Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

• Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người

• Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

• Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất

• Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Trang 6

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi

Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như nắng, gió… Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất

Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo Ví dụ như nước ngọt, đất, sinh vật, v.v là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu

Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo Ví

dụ như tài nguyên khoáng sản, gen di truyền Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian Tài nguyên gen di truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi về môi trường sống Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống

1.1.2 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Xử phạt hành chính là công cụ cưỡng chế Nhà nước có tác dụng to lớn trong việc phòng chống vi phạm hành chính để bảo vệ trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là biện pháp pháp luật nhằm đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, bảo vệ môi trường Tính cưỡng chế thể hiện ở chỗ hoạt động áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường luôn được các cơ quan hoặc cán bộ Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Chỉ có

cơ quan hoặc cán bộ Nhà nước được Nhà nước trao quyền xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường mới có quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Các chủ thể được sử dụng quyền lực

Trang 7

Nhà nước, có quyền lựa chọn các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính phù hợp mang tính trừng phạt, giáo dục; trực tiếp tác động đến tinh thần hay vật chất; buộc các đối tượng bị xử phạt phải gánh chịu những tổn hại về tài sản hoặc bị hạn chế một số quyền

Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được xác định trong chế tài của quy phạm pháp luật và được áp dụng khi có vi phạm hành chính về môi trường Vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Đấu tranh với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được thực hiện thông qua các góc độ khác nhau: tổ chức - chính trị, giáo dục, công nghệ, kinh tế, pháp lý

Quy phạm pháp luật xác định các biện pháp xử phạt hành chính đối với chủ thể thực hiện vi phạm hành chính về môi trường thuộc ngành Luật hành chính

Về nguyên tắc chung, cũng giống như các quy phạm luật khác, cấu trúc gồm ba phần: giả định, quy định, chế tài Thông thường, phần giả định chỉ ra các điều kiện về chủ thể, không gian, thời gian có hiệu lực của quy định Phần quy định xác định nội dung quy tắc hành vi dưới dạng các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật môi trường Còn chế tài ấn định các biện pháp cưỡng chế nhà nước bảo đảm cho các nghĩa vụ trong quy định được thực hiện và luôn liên quan đến nhân tố vi phạm pháp luật Tuy nhiên, không phải lúc nào các phần của quy phạm pháp luật cũng thể hiện đầy đủ trong một Điều luật

1.2 Đặc điểm các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường

Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

là một trong các biện pháp cưỡng chế hành chính Vì vậy, nó mang đầy đủ đặc điểm của cưỡng chế hành chính, đó là:

- Nội dung là sự hạn chế quyền hoặc bổ sung thêm nghĩa vụ đối với đối tượng vi phạm

Khi tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, về nguyên tắc Nhà nước buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định (hạn chế quyền hoặc tài sản) Việc làm này nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật bảo vệ môi trường đã bị xâm hại đồng thời giáo dục cá nhân,

tổ chức vi phạm cũng như toàn thể cộng đồng ý thức tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường

- Mang tính giáo dục và tính trừng phạt

Trang 8

Các biện pháp xử phạt hành chính về môi trường được áp dụng trên cơ sở có

vi phạm hành chính về môi trường thể hiện sự phản ứng của Nhà nước đối với những đối tượng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về môi trường Các biện pháp xử phạt này mang tính giáo dục đồng thời cũng mang tính trừng phạt của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật về môi trường mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Sự trừng phạt biểu hiện ở việc buộc các chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần Đây là ý nghĩa quan trọng của các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn nhằm mục đích cao hơn là giáo dục

ý thức pháp luật của các chủ thể Thông qua việc áp dụng các biện pháp này trong các trường hợp vi phạm cụ thể, Nhà nước tác động đến tâm lý của đối tượng vi phạm và các chủ thể khác; từ đó cho họ ý thức phải tuân thủ pháp luật

về bảo vệ môi trường

Pháp luật về các biện pháp xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cần đảm bảo tính phù hợp giữa tính răn đe giáo dục với tính trừng phạt mới có thể phát huy được hiệu quả Tính trừng phạt trong các biện pháp xử phạt hành chính về môi trường sẽ phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng tiêu cực của hành

vi vi phạm hành chính đối với môi trường

- Các biện pháp xử phạt, mức phạt được pháp luật dự liệu

Các biện pháp này sẽ được áp dụng trong thực tiễn tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của người vi phạm

Cùng một hành vi vi phạm pháp luật nhưng đối với mỗi trường hợp cụ thể lại

có tính chất, mức độ khác nhau nên thiệt hại hay nguy cơ gây thiệt hại cho môi trường có sự khác nhau Do đó, các biện pháp xử phạt được lựa chọn để áp dụng đối với mỗi trường hợp cụ thể là khác nhau Ngoài ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người vi phạm cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các biện pháp xử phạt để áp dụng

- Đối tượng áp dụng là cá nhân và tổ chức

Cưỡng chế hình sự tác động đối với tội phạm, áp dụng nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự nên cưỡng chế này chỉ áp dụng đối với cá nhân mà không áp dụng với tổ chức Cưỡng chế trong dân sự cũng như cưỡng chế trong hành chính được áp dụng cho cả cá nhân và tổ chức nhưng cưỡng chế hành chính thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước, trong khi đó cưỡng chế dân sự thể hiện mối quan hệ giữa bên vi phạm với bên bị vi phạm dưới sự bảo đảm của Nhà nước

- Được áp dụng khi có vi phạm hành chính về môi trường

Trang 9

Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chỉ có thể áp dụng khi có vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Mục đích trừng phạt của các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính có tác dụng tác động đến chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật đã quy định Hơn nữa, vi phạm hành chính xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực quản lý Nhà nước Vi phạm hành chính trong mỗi lĩnh vực lại có các đặc thù riêng nên các biện pháp xử phạt trong mỗi lĩnh vực cũng có những điểm riêng và chỉ được

áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính tương ứng đã được pháp luật quy định trong lĩnh vực đó

Trang 10

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Xử phạt hành chính là hoạt động cưỡng chế của Nhà nước; do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành áp dụng các biện pháp xử phạt đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm gây ra cho xã hội Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường nhằm duy trì pháp chế trong lĩnh vực này, góp phần bảo đảm phát triển bền vững đất nước, khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường

Sau khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được ban hành, Chính phủ

đã ban hành Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14-11-2013 quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Nghị định này đã thực sự tạo hành lang pháp lý cần thiết cho việc xử lý hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường

Những hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP gồm 8 nhóm, liệt kê tương đối đầy đủ, gồm có

41 hành vi vi phạm từ Điều 8 đến Điều 49

Tuy nhiên, những quy định hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, gây khó khăn trong việc áp dụng và ảnh hưởng đến hiệu quả của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Thứ nhất, quy định về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập

• Quy định về hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường còn

có sự trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo nội dung

Cùng một tính chất hành vi nhưng lại được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, thậm chí việc mô tả hành vi có tính chất tương tự nhau nhưng tại các Nghị định về xử lý lại khác nhau dẫn đến lúng túng cho chủ thể có thẩm quyền

xử phạt và ở mức độ nhất định, tạo nên sự tuỳ tiện trong việc lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng xử lý những trường hợp cụ thể Ví dụ: Nghị định

Trang 11

179/2013/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm các quy định về xả nước thải, trong khi Nghị định 142/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản cũng có quy định về hành vi xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép (Điều 5 và Điều 12); và Khoản 2, Điều 24, Nghị định 103/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính về nuôi trồng thuỷ sản cũng quy định về hành vi xả thải chất thải, nước thải bị ô nhiễm ra môi trường tự nhiên

Hoặc ngay trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP cũng có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau Ví dụ, tại Khoản 9, Điều 21, Nghị định này quy định xử phạt đối với hành vi chôn lấp, đổ, thải chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường với mức phạt từ 50 triệu đồng đến 1 tỷ đồng Tuy nhiên, cũng hành vi thải chất thải nguy hại không đúng quy định, thì tại Khoản 2, Điều 19, Nghị định này cũng có quy định xử phạt từ 5 triệu đến 10 triệu đối với hành vi

“xả, thải dầu mỡ, hóa chất độc hại, chất thải nguy hại vào môi trường nước”

Như vậy, việc áp dụng sẽ không được thực hiện một cách thống nhất, khi nào

thì áp dụng theo Khoản 9, Điều 21 và khi nào thì áp dụng theo Khoản 2, Điều 19 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP, gây khó khăn và tạo sự tuỳ tiện cho người thực thi

đã được quy định với hệ thống quy phạm pháp luật của lĩnh vực đó Theo đó, Nghị định 179/2013.NĐ-CP còn thiếu một số quy định sau:

Một là, hành vi vi phạm trong hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua

sử dụng Tại Điều 5, Nghị định 114/2014/NĐ-CP về nhập khẩu, phá dỡ tàu biển

đã qua sử dụng quy định nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, phá dỡ tàu biển nhưng những hành vi vi phạm này chưa được Nghị định trên điều chỉnh Hơn nữa, loại hành vi xâm phạm vào quy định này diễn ra khá phổ biến trong hoạt động nhập khẩu hiện nay Do chưa có biện pháp xử lý hành chính nên đây vẫn là lỗ hổng dẫn đến chưa bảo đảm được nguyên tắc công bằng trong thực hiện pháp chế về bảo vệ môi trường hiện nay

Hai là, các hành vi liên quan đến quản lý chất thải và phế liệu, đánh giá tác

động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường, phương án cải tạo và phục hồi

Trang 12

môi trường và một số hành vi khác trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã có nhiều thay đổi nhưng Nghị định 179/2013/NĐ-CP chưa điều chỉnh kịp thời

• Một số quy định còn mang tính định tính và chưa được lượng hóa

Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 15, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi “thải mùi hôi thối vào môi trường” Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có căn cứ quy định như thế nào là “mùi hôi thối” nên khó khăn cho việc thực thi, từ đó lại dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, không thống nhất

Các hành vi để lẫn chất thải nguy hại khác loại với nhau và hành vi để lẫn chất thải nguy hại với chất thải khác vẫn chưa được lượng hóa con số cụ thể mức

độ để lẫn chất thải nên không công bằng trong xử lý

Thứ hai, quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính chưa đầy đủ, việc phân định thẩm quyền xử lý chưa hợp lý

Trên cơ sở Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định từ Điều 50 đến Điều

53, bao gồm: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Công an, Thanh tra chuyên ngành Ngoài những người có thẩm quyền xử phạt trên, còn có các lực lượng khác có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật này nếu phát hiện ra hành vi

vi phạm hành chính quy định trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP mà thuộc lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì có quyền xử phạt Quy định này vẫn bộc lộ một số hạn chế sau:

• Số lượng chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Trong Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử lý của những chức danh trực tiếp thi hành công vụ (như Chiến sĩ công an, Thanh tra viên chuyên ngành bảo vệ môi trường ) còn ít, phần lớn là các chức danh lãnh đạo Trong khi những người trực tiếp thi hành công vụ là những người nắm bắt, kiểm soát và phát hiện vi phạm hành chính trực tiếp và thường xuyên nhất

Việc quy định theo kiểu liệt kê các chức có thẩm quyền xử phạt đã đạt được mục đích xác định chủ thể có thẩm quyền một cách rõ ràng nhưng việc liệt kê dẫn đến không linh hoạt, không đầy đủ trong huy động các nguồn lực tham gia đấu tranh, phòng chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Chẳng hạn như: ngoài Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Chiến sĩ công an nhân dân, Thanh tra chuyên ngành… thì còn quy định Bộ đội biên phòng, Cảnh sát

Trang 13

biển, Hải quan, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Quản lý thuế, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa có thẩm quyền xử phạt nhưng không quy định thẩm quyền của một số chức danh khác như Cục trưởng Cục kiểm soát hoạt động bảo

vệ môi trường hay Chi cục bảo vệ môi trường, Chi cục an toàn thực phẩm… đã làm giảm đáng kể việc huy động các nguồn lực của một số cơ quan thực thi pháp luật

• Phân định thẩm quyền xử phạt chưa hợp lý

Điều 54, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định: Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý của mình quy định tại Nghị định này, trừ các hành vi vi phạm về thủ tục hành chính và hoạt động quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định tại Nghị định này (các Điều 8, 9, 10, 11 và 12; các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

và 8 Điều 21; các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 22; các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 23; Khoản 1 và Khoản 2, Điều 24; các Điều 26, 27, 28, 34, 37, 38 và 40) đã bộc lộ những bất cập Bởi vì không giao thẩm quyền cho cảnh sát môi trường được xử phạt hành chính nêu trên không chỉ thuần tuý là những hành vi vi phạm

về thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước, mà trong một hành vi

đã bao gồm cả hành vi gây ô nhiễm hoặc đi liền với hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường khác Việc khoanh vùng thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, không giao thẩm quyền kiểm tra, xử lý các vi phạm về thủ tục hành chính, hoạt động quản lý nhà nước có liên quan bảo bệ môi trường cho Cảnh sát môi trường

đã gây khó khăn, cản trở rất lớn đến hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với

vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường nói riêng

• Quy định mâu thuẫn ngay trong điều luật và với các luật chuyên ngành khác

Tại Điểm m, Khoản 1, Điều 54, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền của Công an cấp huyện “Công an cấp huyện có thẩm quyền xử phạt

vi phạm hành chính theo thẩm quyền, thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý của mình đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, được quy định tại các Điều 20, 30, 31, 41, 42, 43, 45, 48 và 49 của Nghị định này” Tuy nhiên, tại Điểm o, Khoản 1, Điều 54, Nghị định này lại quy định:

“Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý của mình quy định tại Nghị định này”

Trang 14

Như vậy, theo Nghị định 179/2013/NĐ-CP thì Đội cảnh sát môi trường ở công an huyện không được xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền của lực lượng cảnh sát môi trường đối với các điều khoản quy định tại Điểm o, Khoản 1, Điều 54 Đây là vấn đề mâu thuẫn giữa các điểm trong trong cùng một điều, khoản của Nghị định

Ngoài ra, tại Khoản 2, Điều 54, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định: Người

có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại điều, khoản nào của Nghị định này thì chỉ được thực hiện các biện pháp nghiệp

vụ, điều tra, kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường trong phạm vi các điều, khoản đó; trường hợp phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của mình thì phải thông báo và phối hợp ngay với cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với hành vi đó để kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật Quy định này chưa phù hợp với các văn bản pháp luật khác như: Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, Luật Công an nhân dân 2014, Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014, vì lực lượng Cảnh sát môi trường thực hiện các biện pháp nghiệp vụ không chỉ để xử lý vi phạm mà còn để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Muốn làm tốt điều đó thì buộc phải thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an Do đó, quy định tại Khoản 2, Điều 54 nêu trên chỉ cho phép Cảnh sát môi trường thực hiện biện pháp nghiệp vụ trong phạm vi các điều khoản quy định tại Điểm o, Khoản

1, Điều 54 là không phù hợp với quy định của các Luật liên quan đến chức năng của lực lượng Cảnh sát môi trường

Thứ ba, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều bất cập dẫn đến việc áp dụng thực tế chưa bảo đảm tính công bằng trong xử lý đối tượng vi phạm hành chính

Về hình thức xử phạt cảnh cáo: tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP, mức phạt

cảnh cáo chưa được đặt ra đối với những lỗi vi phạm các thủ tục hành chính hoặc những lỗi hành vi không dẫn tới ô nhiễm, suy thoái chất lượng các thành phần môi trường Quy định trên là chưa phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm của các hành vi này; mức phạt cần phải mang tính định biến, từ thấp đến cao mới bảo đảm công bằng trong xử phạt đối với những loại hành vi này

Về hình thức phạt tiền: các hình thức xử phạt và mức phạt còn quy định

chung chung cho các hành vi mà không xem xét đến quy mô, mức độ vi phạm của từng doanh nghiệp; chưa đảm bảo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, chưa đảm bảo công bằng trong xử phạt Ví dụ: Không có sự phân định

Ngày đăng: 22/06/2022, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w