Vì tất cả những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: ―Đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh‖, tập trung vào các ẩn dụ ý niệm được sử dụng tron
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÍ THỊ THU TRANG
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG KHẨU HIỆU
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÍ THỊ THU TRANG
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG KHẨU HIỆU
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi thực hiện Các số liệu thống kê, phân tích và tổng hợp trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc công bố trong bất
kì công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phí Thị Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới về khoa học 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
7 Cấu trúc của luận án 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về khẩu hiệu và ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu 17
1.2 Cơ sở lý luận 20
1.2.1 Lý thuyết về ẩn dụ ý niệm 20
1.2.2 Lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu 36
1.2.3 Lý thuyết về khẩu hiệu 38
1.3 Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG KHẨU HIỆU CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 43
2.1 Khái quát về ẩn dụ cấu trúc trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 43
2.2 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG 46
2.2.1 Ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 46
2.2.2 Ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 50
2.2.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 52
Trang 52.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH 53
2.3.1 Ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 54
2.3.2 Ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 58
2.3.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 65
2.4 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH 67
2.4.1 Ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 67
2.4.2 Ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 71
2.4.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 77
2.5 Ẩn dụ cấu trúc đặc trưng chỉ xuất hiện trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt hoặc tiếng Anh 79
2.5.1 Các ẩn dụ cấu trúc đặc trưng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 79
2.5.2 Các ẩn dụ cấu trúc đặc trưng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 83
2.6 Tiểu kết chương 2 88
Chương 3: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG TRONG KHẨU HIỆU CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 90
3.1 Khái quát về ẩn dụ định hướng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 90
3.2 Đối chiếu ẩn dụ định hướng LÊN-XUỐNG 92
3.3 Đối chiếu ẩn dụ định hướng TRƯỚC-SAU 100
3.3.1 Đối chiếu ẩn dụ TỐT Ở PHÍA TRƯỚC-XẤU Ở PHÍA SAU 101
3.3.2 Đối chiếu ẩn dụ TƯƠNG LAI Ở PHÍA TRƯỚC-QUÁ KHỨ Ở PHÍA SAU 104
3.4 Đối chiếu ẩn dụ định hướng TRONG-NGOÀI 106
Trang 63.5 Đối chiếu ẩn dụ định hướng DÍNH LIỀN-TÁCH RỜI 111 3.6 Tiểu kết chương 3 113 Chương 4: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG KHẨU HIỆU CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 115 4.1 Khái quát về ẩn dụ bản thể trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt
và tiếng Anh 115 4.2 Đối chiếu ẩn dụ bản thể có miền nguồn SINH VẬT 117
4.2.1 Ẩn dụ có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội
tiếng Việt 117 4.2.2 Ẩn dụ có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội
tiếng Anh 121 4.2.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 128
4.3 Đối chiếu ẩn dụ bản thể có miền nguồn VẬT THỂ 130
4.3.1 Ẩn dụ có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội
tiếng Việt 130 4.3.2 Ẩn dụ có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 137 4.3.3 Đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 143
4.4 Tiểu kết chương 4 146 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 167
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mô hình ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH 24 Bảng 1.2: Mô hình tri nhận của ẩn dụ bản thể 29 Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 47 Bảng 2.2: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 48 Bảng 2.3: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 50 Bảng 2.4: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 51 Bảng 2.5: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 54 Bảng 2.6: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 56 Bảng 2.7: Thống kê dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 59 Bảng 2.8: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ TRANH CỬ LÀ CHIẾN TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 60 Bảng 2.9: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHỐNG VẤN NẠN XÃ HỘI LÀ MỘT
CUỘC CHIẾN trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 62 Bảng 2.10: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ TRÕ CHƠI trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 63 Bảng 2.11: Thống kê dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 68 Bảng 2.12: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 69 Bảng 2.13: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CUỘC SỐNG LÀ HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 70
Trang 8Bảng 2.14: Thống kê dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 72 Bảng 2.15: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 73 Bảng 2.16: Cấu trúc ánh xạ của ẩn dụ CUỘC SỐNG LÀ HÀNH TRÌNH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 76 Bảng 3.1: Các tiểu loại ẩn dụ LÊN-XUỐNG 94 Bảng 4.1: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 118 Bảng 4.2: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 122 Bảng 4.3: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 131 Bảng 4.4: Thống kê số lƣợng dụ dẫn của ẩn dụ có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 137
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1:Mức độ phổ biến của các loại ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 43 Hình 2.2: Tỉ lệ phân bố ẩn dụ cấu trúc trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 45 Hình 2.3: Mô hình ẩn dụ có miền nguồn ĐẤU TRANH trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 58 Hình 3.1: Tỉ lệ phân bố các loại ẩn dụ định hướng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh 91 Hình 3.2: Lược đồ THỜI GIAN LÀ VẬT CHUYỂN ĐỘNG 105 Hình 4.1: Tỉ lệ phân bố các miền nguồn của ẩn dụ bản thể 116 Hình 4.2: Mô hình ẩn dụ bản thể có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 117 Hình 4.3: Mô hình ẩn dụ bản thể có miền nguồn SINH VẬT trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 121 Hình 4.4: Mô hình ẩn dụ bản thể có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt 132 Hình 4.5: Mô hình ẩn dụ bản thể có miền nguồn VẬT THỂ trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Anh 139
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ẩn dụ, từ thời Aristotle, đã là một hiện tượng thú vị trong nghiên cứu văn chương và ngôn ngữ học, và hiện vẫn là một đối tượng nghiên cứu thu hút sự chú ý của các nhà ngôn ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam Năm 1978, Wayne Booth
đã có một nhận định rất đáng chú ý rằng, xét từ sự bùng nổ các nghiên cứu về ẩn dụ trong thế kỉ 20, có thể dự báo đến năm 2039 ―số người nghiên cứu về ẩn dụ còn nhiều hơn dân thường‖ (there will be more students of metaphor than people‖) [58, tr.49] Nhận định của ông tuy mang tính chất cường điệu nhưng đã cho thấy sự quan tâm ngày càng sâu sắc hơn của giới nghiên cứu ngôn ngữ đối với ẩn dụ, và thực tế đã
và đang chứng minh dự báo này không phải là vô căn cứ vì số lượng nghiên cứu về ẩn
dụ vẫn không ngừng gia tăng, đặc biệt từ sau năm 1980, khi Lakoff và Johnson viết
cuốn sách Metaphors we live by (Chúng ta sống bằng ẩn dụ), xác lập một quan niệm
mới về ẩn dụ
1.2 Lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory) đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học tri nhận nói riêng Trước đây, theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ được coi là một biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu trong văn chương và hùng biện Tuy nhiên, trong nhiều thế kỉ qua, các nhà ngôn ngữ học không ngừng tranh cãi và cố gắng đi tìm bản chất của ẩn
dụ Mãi đến những năm 80 của thế kỉ 20, cùng với sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ mới được nhìn nhận dưới góc độ là một phương thức tư duy Trong
cuốn sách Metaphors We Live By của Lakoff và Johnson (1980) - quan điểm truyền
thống về ẩn dụ đã bị các tác giả xem xét lại, khi đưa ra nhận định rằng ẩn dụ không phải là một hiện tượng ―độc quyền‖ của văn chương, được sử dụng bởi những con người có khả năng đặc biệt về ngôn ngữ, mà xuất hiện phổ biến trong lời nói hàng ngày của những con người bình thường nhất Lakoff và Johnson nhấn mạnh ―ẩn dụ không đơn thuần là vấn đề về ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy và hành động‖ [108, tr.4], là một quá trình tri nhận mà nếu không có nó con người không thể suy nghĩ và lập luận về các kinh nghiệm của mình về thế giới Có thể thấy, ẩn dụ có khả
Trang 11năng tác động, định hướng cách suy nghĩ của con người, giúp con người hiểu rõ hơn
về các ý niệm, đặc biệt là các ý niệm mơ hồ, trừu tượng, qua đó có thể ―ý niệm hoá thế giới‖ và giao tiếp hiệu quả hơn trong cộng đồng Trong những thập niên cuối của thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21, đã có vô số công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên các cứ liệu khác nhau từ báo chí đến diễn thuyết chính trị, từ văn bản khoa học đến thơ ca, thậm chí cả tranh ảnh, biểu tượng, v.v Các nhà khoa học đã và đang nỗ lực tìm ra mối quan hệ giữa ẩn dụ ý niệm và cách quan niệm về thế giới, phong tục tập quán và hoạt động tinh thần của cộng đồng chủ thể văn hoá Do đó xuất hiện ngày càng nhiều các nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong các loại hình diễn ngôn thuộc các ngôn ngữ khác nhau, các nghiên cứu này cho thấy ẩn dụ vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc trưng văn hoá dân tộc Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn khẩu hiệu vẫn còn là một khoảng trống cần khai thác, nhất là ở Việt Nam
1.3 Khẩu hiệu là những câu nói mang tính chất hô hào, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, được sử dụng như là một công cụ thuyết phục hoặc định hướng tư duy Với đặc tính ―nói ít hiểu nhiều‖ và có sức thu hút cao, ẩn dụ được sử dụng trong khẩu hiệu nhằm mục đích tác động vào tư duy của người tiếp nhận, từ đó tạo ra sự biến chuyển trong cả nhận thức và hành động của con người Trong chính trị, khẩu hiệu được dùng trong các chiến dịch tranh cử để tuyên truyền mục tiêu chính trị, chuyển tải thông tin một cách ấn tượng về ứng cử viên, thu hút sự chú ý của công chúng vào một quan điểm chính trị cụ thể, tạo ra mối liên kết giữa ứng cử viên và các lý tưởng chính trị của họ Trong lĩnh vực xã hội, các khẩu hiệu tuyên truyền về văn hoá, lối sống, môi trường, khẩu hiệu phòng chống tệ nạn, khủng bố, v.v có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức của người dân đối với các vấn đề xã hội trong nước và quốc tế Các khẩu hiệu chính trị - xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đối với mọi mặt của cuộc sống vì chúng tác động mạnh mẽ đến tư duy và hành động của con người
Vì tất cả những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: ―Đối chiếu
ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh‖, tập trung vào các ẩn dụ ý
niệm được sử dụng trong khẩu hiệu tuyên truyền về các vấn đề chính trị - xã hội của
Trang 12Việt Nam và các nước bản ngữ tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc (được gọi chung là các nước nói tiếng Anh)
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đối chiếu các mô hình ẩn dụ ý niệm phổ biến được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh để từ đó tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc ánh xạ, biểu thức ngôn ngữ và tần suất xuất hiện của các mô hình ẩn dụ ý niệm đó
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích như trên, nhiệm vụ đặt ra cho luận án là:
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến ẩn dụ ý niệm;
(2) Hệ thống hoá cơ sở lí luận về ẩn dụ ý niệm bao gồm các khái niệm và phương thức nhận diện ẩn dụ ý niệm;
(3) Xác lập và phân loại các mô hình ẩn dụ được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh;
(4) Miêu tả, phân tích, đối chiếu các mô hình ẩn dụ đã được xác lập trên ba bình diện: cấu trúc ánh xạ, biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (trong luận án này được gọi là
dụ dẫn) và tần suất xuất hiện;
(5) Đưa ra kiến giải về những điểm tương đồng và khác biệt được tìm thấy
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
3.1 ối tư ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các mô hình ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong khẩu hiệu tuyên truyền về các vấn đề chính trị - xã hội của Việt Nam và các nước bản ngữ tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc Các ẩn dụ được tiếp cận theo cách phân loại ẩn dụ của Lakoff và Johnson (2003) bao gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng
và ẩn dụ bản thể
Trang 133.3 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu bao gồm 600 khẩu hiệu tiếng Việt và 600 khẩu hiệu tiếng Anh thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội được sưu tầm từ báo chí, văn bản của cơ quan nhà nước, băng rôn khẩu hiệu thực tế, từ điển (Collin Dictionary of Slogan) và mạng Internet Các khẩu hiệu được lựa chọn ngẫu nhiên nhưng chúng tôi cố gắng đảm bảo độ đa dạng về nội dung và ngôn ngữ diễn đạt
Về khẩu hiệu tiếng Việt, chúng tôi sưu tầm được 235 khẩu hiệu tuyên truyền mục tiêu chính trị của Đảng và nhà nước, an ninh, quốc phòng, chủ quyền biển đảo, pháp luật, nghĩa vụ quân sự, phát triển kinh tế, xây dựng văn hoá, v.v 365 khẩu khẩu hiệu còn lại là các khẩu hiệu tuyên truyền về các vấn đề xã hội Ngoài các nội dung mang tính quốc tế như an toàn lao động, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, phụ nữ, trẻ em, dân số, gia đình, tệ nạn xã hội giống khẩu hiệu tiếng Anh, khẩu hiệu tiếng Việt còn có một số nội dung đặc thù như xây dựng nông thôn mới, văn minh - trật tự xã hội, hành động cách mạng (trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ)
Về khẩu hiệu tiếng Anh, 250 khẩu hiệu chính trị là các khẩu hiệu tranh cử của các đảng phái chính trị ở ba nước Anh, Mỹ và Úc 350 khẩu hiệu còn lại tuyên truyền về các vấn đề xã hội như an toàn lao động, an toàn giao thông, bầu cử, nghĩa
vụ với tổ quốc, bảo vệ trẻ em, nữ quyền, dân số/kế hoạch hoá gia đình, giáo dục, sách và văn hoá đọc, y tế, hiến máu nhân đạo, v.v, hoặc phòng chống tệ nạn như thuốc lá/ma tuý, chiến tranh, bạo lực, buôn người, khủng bố, tham nhũng, phân biệt chủng tộc
Về lịch đại, đa số các khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh được khảo sát trong luận án có niên đại giống nhau, thuộc cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, cập nhật các vấn
đề chính trị - xã hội như đã nêu ở trên Chỉ có một số ít khẩu hiệu tranh cử tiếng Anh xuất hiện rất sớm từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 nhưng tính thời sự của chúng vẫn còn vì nội dung khẩu hiệu có liên quan đến các vấn đề chính trị ngày nay như bình đẳng, tự do, nhân quyền, v.v Nhìn chung, mặc dù tư liệu khảo sát có phạm vi khá rộng xét về góc độ thời gian và các lĩnh vực trọng tâm của các khẩu hiệu tiếng
Trang 14Việt và tiếng Anh là có khác nhau (do thể chế chính trị khác nhau, chẳng hạn trong tiếng Việt không có các khẩu hiệu tranh cử của các đảng phải chính trị) nhưng nhìn một cách tổng thể, các khẩu hiệu lĩnh vực chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
mà luận án nghiên cứu đều thể hiện cách tư duy qua ẩn dụ ý niệm của người Việt và người bản ngữ nói tiếng Anh về các vấn đề quan trọng trong thế giới hiện đại và đều
mang tính thời sự
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ cách sử dụng ẩn dụ ý niệm trong ngữ liệu khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Các phương pháp và thủ pháp cụ thể được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp miêu tả kết hợp với thủ pháp phân tích ý niệm được sử dụng
để phân tích, miêu tả các mô hình ẩn dụ ý niệm bao gồm cấu trúc ánh xạ và cơ sở tri nhận của chúng Quá trình phân tích được chia làm hai giai đoạn: 1) nhận diện ẩn
dụ và 2) thuyết giải ẩn dụ Ở giai đoạn nhận diện ẩn dụ chúng tôi áp dụng quy trình MIP và phương pháp nhận diện năm bước của Steen (sẽ được trình bày chi tiết trong phần cơ sở lý thuyết) để xác định dụ dẫn và gọi tên mô hình ẩn dụ ý niệm khái quát Sau đó, dựa trên khung lý thuyết về ẩn dụ ý niệm của Lakoff và Johnson (2003), các ẩn dụ sẽ được thuyết giải trên cơ sở kinh nghiệm nghiệm thân (embodiment), từ đó có thể miêu tả được cấu trúc ánh xạ và nhận diện các ẩn dụ ở cấp độ cụ thể hơn – trong luận án này được gọi là ẩn dụ bậc thấp
- Phương pháp đối chiếu hai chiều (cả tiếng Việt và tiếng Anh đều được coi là ngôn ngữ nguồn và đích) được áp dụng để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh Các nội dung được đối chiếu bao gồm cấu trúc ánh xạ, dụ dẫn và tần suất xuất hiện của ẩn dụ
- Thủ pháp thống kê để xác định tần suất của các nhóm ẩn dụ và số lượt xuất hiện của các dụ dẫn Để tính toán số lượng ẩn dụ, chúng tôi căn cứ vào ba điểm sau: 1) Một dụ dẫn có thể xuất hiện trong các khẩu hiệu khác nhau; 2) Cùng một khẩu hiệu có thể có nhiều dụ dẫn khác nhau, 3) Một dụ dẫn có thể là sự thể hiện của nhiều hơn một ẩn dụ ý niệm Các số liệu thống kê giúp luận án xác định mức độ phổ biến của một mô hình ẩn dụ, làm cơ sở cho việc đối chiếu định lượng
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng cố lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận và các khái niệm cơ bản về ẩn dụ ý niệm, làm rõ mối quan hệ giữa ẩn dụ, ngôn ngữ và văn hoá, giúp khẳng định thêm các luận điểm về ẩn dụ ý niệm đã được nhiều công trình nghiên cứu đi trước xác lập Luận án đóng góp thêm vào danh sách các mô hình ẩn dụ phổ quát vốn đã và đang chi phối tư duy và hành động của con người, đồng thời bổ sung các ẩn dụ bậc thấp phản ánh đặc trưng văn hoá của người bản ngữ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có ý nghĩa về mặt thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ và ứng dụng ở Việt Nam Với các mô hình ẩn dụ được xác lập trên nguồn ngữ liệu là khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh cùng các kết quả đối chiếu chi tiết, luận án giúp những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ hiểu sâu hơn về ẩn dụ theo quan điểm tri nhận nói chung và về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn khẩu hiệu nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là điểm khởi đầu cho nhiều nghiên cứu sâu hơn về ẩn dụ và diễn ngôn khẩu hiệu sau này
Các kết luận của nghiên cứu được kỳ vọng là có giá trị tham khảo, có khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực như công tác biên dịch tài liệu chính trị, thiết kế khẩu hiệu, giảng dạy ngoại ngữ, v.v góp phần nâng cao chất lượng tài liệu giảng dạy, nghiên cứu và hiệu quả của khẩu hiệu chính trị - xã hội ở Việt Nam
Trang 167 Cấu trúc của luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, bốn chương chính văn, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu ẩn dụ ý niệm nói chung và
ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu nói riêng, đồng thời khái quát cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm và diễn ngôn khẩu hiệu làm khung tham chiếu cho luận án Chương 1 cũng phân tích các phương pháp nhận diện ẩn dụ và mô hình đối chiếu ẩn dụ ý niệm
Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt
và tiếng Anh
Chương 2 phân tích, so sánh, đối chiếu các mô hình ẩn dụ cấu trúc cùng các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ cụ thể trong khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ định hướng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 3 phân tích, so sánh, đối chiếu ẩn dụ có miền nguồn là các ý niệm không gian đối xứng cùng các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ cụ thể trong
khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 4: Đối chiếu ẩn dụ bản thể trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trên thế giới
Trên thế giới những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự hình thành của Ngôn ngữ học tri nhận những năm 70 của thế kỉ XX Gibbs (1994) cho rằng quan điểm ẩn dụ là một bộ phận của tư duy thực chất đã có lịch sử hàng trăm
năm [84], nhưng mãi đến năm 1980, với sự ra đời của cuốn sách Metaphors We
Live By của G Lakoff và M Johnson, khái niệm ―ẩn dụ ý niệm‖ lần đầu tiên được
chính thức đưa ra Các tác giả mô tả chi tiết phương pháp có tính kinh nghiệm để lý giải ẩn dụ từ việc phân tích các biểu thức ngôn ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày Kể từ đó, lý thuyết về ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory) bắt đầu phát triển với hàng loạt các công trình nghiên cứu ghi danh tên tuổi của các nhà ngôn ngữ học thế giới như G Lakoff, M Johnson, Z Kovecses, G Fauconnier, M Turner, R Gibbs, J.E Grady, M Green, v.v Theo Lakoff và Johnson (2003), ẩn dụ không chỉ thuộc về ngôn ngữ, mà còn là vấn đề của tư duy và hành động, do đó hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta về cơ bản đều mang tính ẩn dụ [108, tr 5] Các tác giả đã không chỉ khái quát hoá được hệ thống ẩn dụ ý niệm mà còn gọi tên từng ẩn dụ riêng biệt như: ARGUMENT IS WAR (TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH), hay HAPPY IS UP, SAD IS DOWN (VUI LÀ LÊN, BUỒN LÀ
XUỐNG) v.v Cuốn sách Metaphors We Live By đã giúp ẩn dụ vượt qua ranh giới
ngôn ngữ học thuần tuý, trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn của nhiều ngành khoa học khác như triết học, logic học, tâm lý học, thần kinh học, toán học, khoa học máy tính, v.v
Sau khi ra đời, lý thuyết về ẩn dụ ý niệm tiếp tục được phát triển mạnh mẽ và
sâu rộng Công trình tiếp theo của Mark Johnson: The Body in the Mind (Thân thể
Trang 18trong Tâm trí) (1987), và George Lakoff: Woman, Fire and Dangerous Things (Phụ
nữ, Lửa và Những thứ nguy hiểm) (1987) là những nghiên cứu nền tảng về ẩn dụ tri
nhận với quan điểm nổi trội cho rằng cơ sở của ẩn dụ ý niệm là dựa trên kinh nghiệm thân thể Ban đầu Johnson (1987) đưa ra các trường hợp trong đó cả ngữ nghĩa và lý trí cần được giải thích bằng sự hiểu biết nghiệm thân và tưởng tượng Ông cũng bàn luận về các hiện tượng như phạm trù hoá, khung ý niệm, ẩn dụ, tính
đa nghĩa, sự thay đổi ngữ nghĩa theo lịch sử, hệ thống ý niệm phi Tây phương và sự phát triển của tri thức khoa học Johnson là người tiên phong đưa ra khái niệm
―lược đồ hình ảnh‖ (image schema), và định nghĩa nó là ―một mô hình linh hoạt có chức năng như một cấu trúc trừu tượng của một hình ảnh, kết nối một loạt các kinh nghiệm rộng rãi khác nhau biểu thị cùng một cấu trúc lặp đi lặp lại này‖ [101, tr.2]
Sơ đồ này là những cấu trúc tương đối đơn giản liên tục xảy ra lặp đi lặp lại trong trải nghiệm cơ thể hàng ngày của chúng ta Và nhờ đó, sự mở rộng hoặc phái sinh
ẩn dụ cung cấp các mô hình đem lại ngữ nghĩa và cấu trúc cho cả hành động và tư duy của chúng ta Lakoff (1987) chia sẻ quan điểm với Johnson (1987) ở chỗ ông cho rằng lý trí có tính nghiệm thân (có cơ sở trên trải nghiệm sinh lý) và tính tưởng tượng (những ý niệm được thể hiện qua ẩn dụ, hoán dụ và hình ảnh tâm trí, mà nhờ
đó chúng ta hiểu được những thứ trừu tượng và giúp tâm trí vượt lên trên những gì chúng ta có thể cảm thấy hoặc nhìn thấy) [110]
Trong giai đoạn tiếp theo, các nhà ngôn ngữ học tiếp tục nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau để phát triển thêm khung lý thuyết đã được định
hình vào cuối thế kỉ 20 Cuốn sách The Cambridge Handbook of Metaphor and
Thought (Sổ tay Cambrige về Ẩn dụ và Tư duy) do R Gibbs làm chủ biên (2008)
trình bày sự phát triển quan trọng trong các nghiên cứu về ẩn dụ đương đại được thể hiện qua các bài viết về ẩn dụ ý niệm từ nhiều góc độ, từ ngôn ngữ và văn hoá cho đến lý trí và cảm xúc, về ảnh hưởng của ẩn dụ đến nhận thức, giao tiếp và văn hoá của loài người [85] Trong cuốn sách này, M Fauconnier và M Turner đưa ra quan điểm mới về lý thuyết ẩn dụ thông qua sự phân tích chi tiết ẩn dụ THỜI GIAN LÀ
KHÔNG GIAN (TIME IS SPACE) với bài viết “Rethinking Metaphor” (Suy nghĩ
Trang 19lại về ẩn dụ) Các tác giả chứng minh rằng việc lý giải được ẩn dụ đòi hỏi các mạng
lưới phối hợp chi tiết và nhiều kĩ thuật phức tạp chứ ẩn dụ không bao giờ là kết quả của một sự ánh xạ đơn lẻ (single mapping) Các tiến bộ về khoa học não bộ và tính toán thần kinh cũng giúp lý giải cách thức hoạt động của ẩn dụ ý niệm Trong bài
viết “The Neural Theory of Metaphor” (Ẩn dụ theo lý thuyết thần kinh), Lakoff cho
rằng tư duy có tính vật chất, các ý niệm được xử lý bởi cấu trúc của bộ não, và ẩn
dụ cũng không phải là ngoại lệ The Handbook of Metaphor and Thought còn dành
hẳn một phần để trình bày các lý thuyết khác nhau về cách con người hiểu ẩn dụ dựa trên các nghiên cứu điện toán, hành vi và thần kinh Chẳng hạn, Dedre Gentner
và Brian Bowdle cho rằng ẩn dụ và so sánh đều dựa trên sự tương tự (trong bài
“Metaphor as Structure-mapping” (Ẩn dụ là sơ đồ ánh xạ cấu trúc)), hay Rachel
Giora trong bài viết “Is Metaphor Unique?” (Ẩn dụ có phải là duy nhất?) nghiên
cứu việc con người dùng các quá trình tâm lý khác nhau trong việc hiểu nghĩa đen
và nghĩa bóng của lời nói Các nhà khoa học bắt đầu quan tâm hơn đến việc bối cảnh (context) có ảnh hưởng như thế nào đến cách hiểu và sử dụng ẩn dụ Các nghiên cứu không còn chỉ dựa trên các ví dụ đơn lẻ, (đôi khi còn được cố ý tạo dựng), mà đặt ẩn dụ vào bối cảnh thực tiễn với ngữ liệu là ngôn ngữ tự nhiên Tóm lại hàng loạt bài viết khác nhau về mối quan hệ giữa ẩn dụ và tư duy, và cách ẩn dụ được thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học nghệ thuật, âm nhạc, phân tâm học, trí tuệ nhân tạo, v.v chứng tỏ lý thuyết về ẩn dụ đã phát triển lên một tầm mới, đồng thời các lý thuyết về phạm trù, nghiệm thân hay lược đồ hình ảnh còn được giải thích cặn kẽ, được ủng hộ bằng kiến thức và bằng chứng của khoa học tự nhiên
Sang đầu thế kỉ thứ 21, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm phát triển mạnh mẽ, bao gồm nhiều quan điểm mới xuất hiện bổ sung luận cứ cho các các nghiên cứu trước đây và cả những luận điểm trái chiều chống lại lý thuyết về ẩn dụ ý niệm Cuốn
sách Conceptual Metaphor Theory: Thirty Years After (Lý thuyết ẩn dụ ý niệm: Ba
mươi năm sau) (2011) đăng tải các bài viết đánh giá, phê phán mang tính xây dựng
về lý thuyết ẩn dụ ý niệm 30 năm sau khi nó ra đời Nhờ đó, lý thuyết về ẩn dụ ý
Trang 20niệm được phác hoạ với một cái nhìn đa chiều và biện chứng hơn [61] Gibbs trong
bài “Why do some people dislike conceptual metaphor theory?” (Tại sao một số
người không thích lí thuyết ẩn dụ ý niệm?) đã tóm tắt các ảnh hưởng chính của lý
thuyết ẩn dụ ý niệm đến khoa học tri nhận và khoa học nhân văn, sau đó lý giải một
số quan điểm phản đối lý thuyết này cho rằng ẩn dụ không phải hoàn toàn dựa trên các ý niệm và ẩn dụ không có tính nghiệm thân Gibbs cho rằng lý thuyết ẩn dụ ý niệm không phải là lý thuyết độc tôn vì không có một lí thuyết ngôn ngữ nào tự thân nó có thể giải quyết mọi vấn đề của ngôn ngữ và tư duy Hơn nữa, lý thuyết ẩn
dụ ý niệm bị chỉ trích là không xem xét đến các mặt giao văn hoá và vai trò của mô hình văn hoá trong việc hình thành tư duy, thậm chí loại trừ cả bối cảnh Quinn (1991) phản bác ý kiến của Lakoff và Johnson rằng ẩn dụ cấu thành hiểu biết của con người Luận điểm chính của Quinn là chính các mô hình văn hoá mới hình thành nên cách thức chúng ta ý niệm hoá và hiểu biết thế giới, và ẩn dụ chỉ đơn giản
là được chọn để phù hợp với các mô hình có sẵn trong trí óc chúng ta [129] Mối quan hệ giữa ẩn dụ và văn hoá là mối quan hệ biện chứng: ẩn dụ được hình thành từ các mô hình văn hoá và đồng thời chúng có tác dụng tái sinh và biến đổi các mô hình này Các nghiên cứu của Kovecses về văn hoá và ẩn dụ như [104] hay [105] thể hiện rất rõ điều này
Trong khoảng mười năm trở lại đây, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm bắt đầu
đi theo hướng ứng dụng Cuốn sách Researching and Applying Metaphor in the
Real World (Nghiên cứu và ứng dụng ẩn dụ trong đời sống) (2010) do Low chủ
biên là tập hợp các bài viết về ứng dụng ẩn dụ ý niệm trong các bối cảnh và ngôn ngữ khác nhau [113] Theo các tác giả, ẩn dụ được hình thành khi nó được sử dụng trong bối cảnh giao tiếp, với những mục đích cụ thể, chịu ảnh hưởng của các yếu tố
xã hội Do đó các nghiên cứu về ẩn dụ trong thực tiễn thường có đối tượng nghiên cứu là các vấn đề có thể đem lại sự thay đổi tích cực trong bối cảnh sử dụng Trong
chương mở đầu cuốn sách, Raymond Gibbs dùng các từ như ―tuyệt vời, rối loạn,
sáng tạo, anh hùng, thách thức‖ (wonderful, chaotic, creative, heroic and
challenging) để miêu tả toàn cảnh nghiên cứu và ứng dụng ẩn dụ trong giai đoạn hiện nay Tác giả tổng quan các thành tựu trí tuệ của các học giả nghiên cứu về ẩn
Trang 21dụ trong mười năm qua, từ đó đưa ra cái nhìn về tương lai của nghiên cứu ứng dụng
về ẩn dụ Các tác giả trong tập sách này là các nhà nghiên cứu làm việc trong nhiều môi trường khác nhau nên đã giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn, trong các lĩnh vực nghiên cứu của mình như giảng dạy ngôn ngữ, ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học tâm lý, nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học máy tính Cuốn sách cũng khắc họa một số nghiên cứu tiêu biểu về ẩn dụ trong các loại hình diễn ngôn cụ thể, như diễn ngôn là các bài giảng ở đại học (Graham Low), tạp chí kinh tế (Hanna Skorczynska Sznajder), diễn thuyết chính trị (Ralph Mueller), v.v Các nghiên cứu cũng chú ý đến tính tin cậy của kết quả phân tích định lượng và các vấn đề về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phức tạp của việc phân giới cơ thể, trí não, ngôn ngữ và văn hoá
Ngoài những chuyên luận nổi tiếng kể trên, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên thế giới còn rất phong phú về cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu Nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong một lĩnh vực cụ thể như chính trị [52], [60], [65], [68], [119], [121], [123], [125], kinh tế [54], [96], giáo dục [63], [78], quảng cáo [114], [115], [152], quyền phụ nữ [137], giao tiếp kỹ thuật [136], báo chí [82], [143], tài chính [86], giảng dạy ngoại ngữ [98], [126] v.v.; về các đối tượng tri nhận như cảm xúc [51], [131], [149], cuộc đời [55], cơ thể người [62], [71], người phụ nữ [142], hạnh phúc [69], v.v với dữ liệu nghiên cứu là các ngôn bản, diễn ngôn thuộc nhiều thể loại Kết luận của các tác phẩm này đều cho thấy tác động mạnh mẽ của ẩn dụ ý niệm đến tư duy, hành động và hành vi ngôn ngữ của con người Chẳng hạn, Charteris-Black (2004) cho rằng vào đầu thế kỉ 20,
sự hiện đại hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra trên thế giới một mặt đã đem lại một thế giới giàu có, tốt đẹp hơn nhưng mặt khác lại đang chia rẽ con người, phá hoại môi trường và làm cho bạo lực leo thang Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và tư duy có thể giúp chúng ta kiểm soát các nguồn lực đang bị khai thác quá mức của sự hiện đại Với sức mạnh của mình, ẩn dụ được những người nắm quyền lực trong xã hội như chính trị gia, truyền thông, lãnh tụ tôn giáo và giới quản lý trong lĩnh vực kinh tế sử dụng để gây ảnh hưởng đến chúng ta, thuyết phục chúng ta nhìn nhận thế giới theo cách họ muốn [67]
Trang 22Các công trình nghiên cứu kể trên cho thấy xu hướng nghiên cứu ứng dụng
ẩn dụ vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống đang diễn ra mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục trong tương lai [106] Nhiều lý thuyết đã có tiếp tục được củng cố, nhiều nhận xét mới mẻ được đưa ra đã tạo một nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về ẩn dụ ý niệm nói riêng và khoa học tri nhận nói chung trong chặng đường sắp tới
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng mới bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỉ thứ 21 Lý Toàn Thắng (2005)
có thể được coi là người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận vào Việt Nam với
tác phẩm Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
[43] Tác giả chính thức đề cập đến các khái niệm và khung lý thuyết cơ bản của ngành như tri nhận, ý niệm, hình – nền, nguyên lý ―dĩ nhân vi trung‖, v.v Tuy nhiên, tác giả không đi sâu nghiên cứu ẩn dụ ý niệm mà tập trung trình bày về đặc điểm tri nhận không gian của người Việt Đây là một công trình quan trọng của Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, vừa có ý nghĩa lý luận khi giới thiệu một xu hướng nghiên cứu mới, vừa có giá trị thực tiễn khi áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt Tuy nhiên, phải đến năm 2015, các vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận mới được
trình bày một cách có hệ thống trong giáo trình Ngôn ngữ học Tri nhận: Những nội
dung quan yếu [44], trong đó tác giả đi từ tổng quan về tri nhận luận đến những
nghiên cứu trường hợp cụ thể về một số ý niệm như trên-dưới, ý niệm lòng, và sự ý niệm hoá
Sau đó, các nghiên cứu trong nước về ẩn dụ theo quan điểm tri nhận được chia thành hai hướng chính: nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng Trong số các nghiên cứu hàn lâm về ẩn dụ ý niệm không thể không nhắc đến Trần Văn Cơ
với Ngôn ngữ học tri nhận – Ghi chép và suy nghĩ (2007) [4] và Khảo luận ẩn dụ tri
nhận (2009) [5] Ngoài phần giới thiệu tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận, tác giả
tổng thuật lại toàn bộ các vấn đề cốt lõi của lý thuyết ẩn dụ ý niệm dựa trên hai tác
phẩm Metaphors We Live By (Lakoff và Johnson, 1980), và Women, Fire and the
Trang 23Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind (Lakoff, 1987) Các
khái niệm chính được đề cập đến bao gồm ý niệm và ẩn dụ ý niệm, hoạt động sáng tạo của ẩn dụ ý niệm, kinh nghiệm luận – phương pháp luận của lý thuyết ẩn dụ ý niệm và phạm trù hoá thế giới Một trong những tác giả nghiên cứu ở giai đoạn sơ khởi về ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam, Phan Thế Hưng (2007) cũng cho rằng ―Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh Thay vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại.‖ [21, tr.12] Theo tác giả, so sánh ẩn dụ bao hàm sự so sánh tầng bậc của loại theo hệ thống tôn
ti, do đó mối quan hệ giữa hai sự vật trong ẩn dụ không thể đảo ngược Như vậy, có thể thấy trong những năm đầu thế kỉ 21, các nhà nghiên cứu trong nước đã cố gắng tìm hiểu bản chất của ẩn dụ và dần dần đi đến sự phủ nhận những quan điểm truyền thống về ẩn dụ như coi ẩn dụ chỉ là cách dùng từ, một phương thức chuyển nghĩa hoặc một cách nói văn chương hoa mĩ
Sau khi khung lý thuyết về ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam được xác lập, nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu ứng dụng dưới các góc độ và trong các lĩnh vực khác nhau Trong hơn mười năm qua, ngoài các công trình chuyên khảo và bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành còn có rất nhiều các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài viết của các tác giả về những ứng dụng cụ thể của lý thuyết ẩn dụ
ý niệm trên cơ sở thực tiễn tiếng Việt Có thể chia các công trình nghiên cứu liên quan đến ẩn dụ ý niệm thành hai loại: 1) Các nghiên cứu về một nội dung nhất định dưới góc độ tri nhận có liên quan đến ẩn dụ và 2) Các nghiên cứu thuần tuý về ẩn
dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau
Nghiên cứu dưới góc độ tri nhận, điển hình nhất phải kể đến là các nghiên cứu về ý niệm không gian, thời gian, trong đó các tác giả chỉ ra được mối quan hệ giữa không gian và thời gian trong cơ sở tri nhận của con người, có liên quan đến các loại ẩn dụ ý niệm Chẳng hạn, năm 2009, Nguyễn Đức Dân nghiên cứu sự
chuyển nghĩa và ẩn dụ qua các cặp từ chỉ không gian trong tiếng Việt như
trên-dưới, trước-sau, trong-ngoài và đã chứng minh rằng sự chuyển nghĩa của các từ
vựng này mang đậm đặc trưng tư duy và văn hoá Việt [7] Nguyễn Văn Hiệp (2013)
Trang 24lấy thuyết nghiệm thân (embodiment) làm cơ sở giải thích cho sự phát triển ngữ
nghĩa của từ ra và vào trong tiếng Việt Tác giả tìm thấy bảy lớp nghĩa khác nhau
của cặp từ này và việc chuyển nghĩa không chỉ dựa trên sự chuyển động trong không gian vật lý mà còn cả không gian tâm lí [16] Nguyễn Văn Hán (2012) nghiên cứu cách định vị thời gian trong tiếng Việt và kết luận rằng tư duy về thời gian của con người gắn liền với sự chuyển động của không gian và người Việt có nhiều cách định vị thời gian khác nhau theo mức độ chuyển dịch vật lý, hay trong chuỗi sự kiện không có người quan sát tham gia [12]
Về các nghiên cứu thuần tuý về ẩn dụ ý niệm, những công trình tiêu biểu nhất có thể kể đến bao gồm nghiên cứu về một phạm trù cụ thể như cuộc sống [27], [36], [37], thực vật [28], miền đồ ăn [18], [19], quê hương đất nước [49], nước, lửa [45], vàng [40], phạm trù ăn uống [23], cảm xúc [25], [26], v.v Trong các công trình này, các tác giả tìm cách lý giải cấu trúc tri nhận của ẩn dụ ý niệm thông qua
cơ sở nghiệm thân và đặc trưng văn hoá dân tộc Hướng nghiên cứu tiếp theo là về
ẩn dụ ý niệm trong thơ ca hoặc các tác phẩm nghệ thuật, với mục đích phân tích, lý giải các mô hình ẩn dụ đặc trưng của các tác gia lớn như Trịnh Công Sơn [13], [14], Xuân Quỳnh [38], Lưu Quang Vũ [1], Huy Cận [42], Nguyễn Du [39] v.v., tìm hiểu
cơ sở tri nhận dựa trên kiến thức, tư duy và cả tư tưởng của các nghệ sĩ, chứng minh được sức mạnh của ẩn dụ trong nghệ thuật Tuy nhiên đối với hướng nghiên cứu về các mô hình ẩn dụ ý niệm, một số công trình mới chỉ nêu ra mô hình mà chưa lý giải được cấu trúc ánh xạ, một số khác chưa đưa ra được cấu trúc tầng bậc của ẩn
dụ Công trình tiêu biểu làm được cả hai điều này là chuyên khảo Ẩn dụ tri nhận
trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015), trong đó tác giả đi sâu
khai thác và giải mã các mô hình ẩn dụ tri nhận như CON NGƯỜI LÀ CÂY CỎ, ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NGÀY, CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH, v.v Tác giả đã mô hình hoá khung tri nhận của các ẩn dụ tìm thấy trong ca từ Trịnh Công Sơn, chỉ ra các tương đồng ánh xạ và tính tầng bậc của ẩn dụ bằng cách phân tích các ẩn dụ bậc sâu, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong kết quả nghiên cứu [14]
Trang 25Cuối cùng, có thể kể đến hướng nghiên cứu tương đối mới mẻ: tìm hiểu ẩn
dụ thông qua các thể loại diễn ngôn Các tác giả so sánh, đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong các loại diễn ngôn khác nhau như báo chí [11], [15], [41], diễn ngôn chính trị [9], [30], [31], diễn ngôn quảng cáo [34], [35], diễn ngôn sư phạm [24], thơ ca [37], thành ngữ [33], [50], v.v trong tiếng Việt và các loại ngôn ngữ khác như tiếng Anh (phổ biến nhất), tiếng Pháp, tiếng Hán, v.v Chẳng hạn, năm 2011, Hà Thanh Hải
với luận án Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận
trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt đã chỉ ra rằng ẩn dụ xuất hiện với tần suất rất
cao trong diễn ngôn kinh tế; đồng thời cho thấy các hiện tượng kinh tế cũng như các
tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động kinh tế được ý niệm hoá khác nhau như thế nào trong tiếng Việt và tiếng Anh [11] Điểm khác biệt là tác giả xem xét ẩn dụ dưới ba bình diện nghĩa học, dụng học và tri nhận luận, đem lại cái nhìn đa chiều hơn về tác động của ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế Cũng đi theo hướng đối chiếu ẩn
dụ trong một loại hình diễn ngôn nhưng Nguyễn Thị Như Ngọc (2015) lại tập trung nghiên cứu cách nhận diện ẩn dụ, phân tích đặc trưng ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ để từ đó xác lập quy trình dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt Tác giả tiến hành ba điển cứu về các chủ đề chính trị cơ bản trong phạm trù Giấc mơ Mỹ, và đưa ra kết luận ―tính ước lệ của ẩn dụ được sử dụng rất sáng tạo, các chức năng tri nhận của ẩn dụ được vận dụng hiệu quả, bản chất của ẩn dụ được khai thác để xây dựng những hình ẩn giàu hình tượng, và ẩn dụ ở cấp độ khái quát
và cấp độ cụ thể được sử dụng linh hoạt‖ [30, tr 179-180] Dựa trên các kết quả nghiên cứu, luận án của Nguyễn Thị Như Ngọc đã đề xuất các phương thức dịch ẩn
dụ hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn trong quá trình dạy và học dịch
Nhìn chung, các nghiên cứu kể trên tập trung so sánh, đối chiếu để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong các mô hình ẩn dụ, cơ chế hình thành ẩn dụ, biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ và lý giải cho các sự khác biệt dựa vào đặc trưng văn hoá dân tộc qua cách tiếp cận liên ngành Do điều kiện nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm dàn trải ở các trung tâm nghiên cứu và đào tạo ở cả ba miền đất nước, chúng tôi chắc rằng vẫn còn một số công trình nghiên cứu về ẩn dụ chưa được đề cập đến Tuy
Trang 26nhiên, có thể đánh giá tích cực rằng tất cả các nghiên cứu đó đều góp phần củng cố, làm sáng rõ và phong phú thêm lý thuyết về ẩn dụ ý niệm, thúc đẩy các nghiên cứu ứng dụng ẩn dụ ý niệm trong thực tiễn
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về khẩu hiệu và ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu
1.1.2.1 Nghiên cứu về khẩu hiệu
Trên thế giới, nghiên cứu về khẩu hiệu có từ rất sớm từ những năm 30 của thế kỷ XX Về khẩu hiệu chính trị - xã hội, Bernstein (1928) đã khảo sát nhiều bài diễn văn của các chính trị gia Mỹ và đi đến kết luận khẩu hiệu chính trị xã hội có mục đích kêu gọi và thuyết phục công chúng bằng ngôn ngữ đặc biệt (dẫn theo [8]) Young (2006) đã có bài báo phân tích các khẩu hiệu bầu cử của Úc từ năm 1949 đến 2004, trong đó tác giả chỉ ra các hạn chế ban đầu của những khẩu hiệu mang tính nhỏ lẻ, địa phương trong những năm 1940-1950, sau đó là quá trình phát triển
và chuyên nghiệp hoá của các khẩu hiệu tranh cử tại Úc – cho đến nay đã trở thành một công cụ truyền thông mạnh mẽ trong các cuộc bầu cử tại đất nước này [147] Năm 2007, Fukunaga và Zhang đã sử dụng cách tiếp cận phân tích diễn ngôn phê phán để so sánh các đặc điểm của khẩu hiệu chính trị Mỹ và Trung Quốc và đi đến kết luận rằng việc lựa chọn cấu trúc ngôn ngữ trong khẩu hiệu không hề võ đoán mà bắt nguồn từ các hệ tư tưởng ẩn sâu trong hai hệ thống chính trị Trong khi khẩu hiệu chính trị Trung Quốc hướng đến nội dung nhiều hơn, thì khẩu hiệu chính trị
Mỹ lại tập trung vào hình thức và phương pháp để thu hút sự chú ý của công chúng Các tác giả cho rằng khẩu hiệu phản ánh (trực tiếp hoặc không trực tiếp) một nền văn hoá, một hệ tư tưởng, một triết lý, thậm chí cả một hệ thống chính trị [80] Duffy (2013), với sự quan tâm sâu sắc đến vai trò của khẩu hiệu, đã nhận thấy rằng những câu khẩu hiệu tuyên truyền ngắn gọn, được đưa ra trong các chiến dịch chớp nhoáng, thường được tiếp nhận một cách thiếu phê phán và do đó sẽ dẫn đến những nhận thức sai lầm và các quyết định không tốt Tác giả thực hiện một nghiên cứu khám phá (heuristic investigation) về khẩu hiệu và đã củng cố được nhận định của mình qua việc điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu Ngoài ra tác giả còn cho rằng cơ chế tiếp nhận và tuyên truyền khẩu hiệu về cơ bản là vô thức, nhưng nếu được ―huấn luyện‖ cách nhận diện, đánh giá và phân tích phê phán, chúng ta sẽ nhận thức đúng hơn về môi trường và từ đó có thể đưa ra các quyết định tốt hơn
Trang 27[77] Năm 2014, Adam Hodges thực hiện nghiên cứu trường hợp về khẩu hiệu Yes,
We Can trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2008 của Barack Obama Tác giả
đã miêu tả chi tiết ―đời sống xã hội‖ của một khẩu hiệu chính trị và sức lan toả của
nó, đồng thời kết luận rằng sự thành công của một khẩu hiệu được thể hiện ở sức ảnh hưởng mạnh mẽ của nó đến đối tượng mục tiêu, và để làm được điều đó thông tin bao chứa trong khẩu hiệu cần phải chạm đến nhiều người thông qua một cách thức thuyết phục: mang lại cho nó một ―đời sống xã hội‖ [97]
Ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ của Trương Thành Khải (2011) và đặc biệt luận
án tiến sĩ của Đỗ Thị Xuân Dung (2014) với lí thuyết phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) có thể coi là những công trình hiếm hoi nghiên cứu về diễn ngôn khẩu hiệu chính trị - xã hội Hai công trình cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá tổng quan về các đặc điểm ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng) của khẩu hiệu tiếng Việt, đồng thời chỉ ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh [8], [144] Ngoài ra, Đinh Kiều Châu (2016) có đề cập đến khẩu hiệu (còn được gọi là biểu ngữ) và tác động của nó đối với truyền thông trong
chuyên khảo Ngôn ngữ truyền thông và tiếp thị - góc nhìn từ lí luận đến thực tiễn
tiếng Việt [3]
Như vậy, có thể thấy hầu hết các nghiên cứu về khẩu hiệu trên thế giới và ở Việt Nam đều thiên về phân tích các đặc điểm ngôn ngữ theo khung lý thuyết ngôn ngữ truyền thống, phân tích diễn ngôn phê phán, hoặc từ góc độ tâm lí nghiên cứu tác động của khẩu hiệu lên nhận thức và hành vi của con người Các công trình nghiên cứu cho thấy vai trò rất lớn của ngôn ngữ đối với khẩu hiệu và tác động mạnh mẽ của khẩu hiệu đến mục tiêu trong các lĩnh vực chủ yếu là quảng cáo và chính trị - xã hội
1.1.2.2 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về khẩu hiệu với tư cách là một loại hình diễn ngôn và những tác động của khẩu hiệu đến nhiều lĩnh vực khác nhau, ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu dường như vẫn là một khoảng trống cần khai thác
Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu sử dụng khung tri nhận và lý thuyết ẩn dụ ý niệm để nghiên cứu về khẩu hiệu quảng cáo Các kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ quảng cáo nói chung và
Trang 28khẩu hiệu quảng cáo nói riêng trong việc thúc đẩy nhận diện thương hiệu, ý thức về sản phẩm và hành vi mua sắm Yu (2009) nghiên cứu về ẩn dụ trong khẩu hiệu quảng cáo đồ ăn, miêu tả khá chi tiết các mô hình ẩn dụ bản thể cơ bản như CUỘC SỐNG LÀ THỰC THỂ/VẬT CHẤT, CẢM GIÁC/MONG MUỐN LÀ VẬT CHẤT và SẢN PHẨM LÀ THỰC THỂ/VẬT CHẤT Tuy nhiên tác giả lại chưa lý giải được cơ chế hình thành các ẩn dụ được tìm thấy trong các khẩu hiệu quảng cáo
đồ ăn nói trên [148] Nghiên cứu về đặc điểm phong cách học của khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh của Dubovi ien và Skorupa (2014) cũng có nhắc đến ẩn dụ với tư cách là một biện pháp tu từ, bên cạnh so sánh và nhân hoá Tuy nhiên nghiên cứu này tiếp cận ẩn dụ theo cách truyền thống chứ không theo quan điểm tri nhận, với kết luận ẩn dụ có giá trị rất lớn trong ngôn ngữ quảng cáo vì chúng khơi gợi cảm xúc gắn liền với sản phẩm [76] Ở Việt Nam, chỉ có một vài công trình nghiên cứu
về ẩn dụ trong khẩu hiệu quảng cáo như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Chi Mai (2010) hay Phạm Thị Hằng (2012) Nguyễn Thị Chi Mai nghiên cứu các biểu thức
ẩn dụ trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh từ cách tiếp cận ngữ nghĩa [118] Phạm Thị Hằng, khi tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu quảng cáo của các nhãn hàng điện thoại di động như Nokia, Samsung, Apple, Blackberry, Sony Ericsson, đã nhận xét rằng ẩn dụ ý niệm xuất hiện với tần số rất cao (chiếm đến 78% các khẩu hiệu được khảo sát), trong đó ẩn dụ bản thể được sử dụng nhiều nhất Tác giả cũng cho rằng có sự trùng lặp giữa ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể [95] Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, hai loại ẩn dụ này có bản chất và chức năng khác nhau không thể trùng lặp, chẳng qua là cùng một biểu thức ngôn ngữ, có thể phân tích theo góc
độ ẩn dụ cấu trúc hay ẩn dụ bản thể
Về ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu chính trị - xã hội, trong các công trình nghiên cứu hiện có, khẩu hiệu chỉ được nhắc đến như là một phần của diễn ngôn chính trị, dưới dạng các catchphrases (câu nói nổi tiếng) của các chính trị gia Chẳng hạn, Penninck (2014) nghiên cứu lời phát biểu của một số chính khách của Anh và Mỹ về cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 và 2008 Nghiên cứu cho thấy
ẩn dụ ý niệm được sử dụng với tần suất cao với một số miền nguồn phổ biến như CHIẾN TRƯỜNG, CỖ MÁY, CÔNG TRÌNH, HÀNH TRÌNH, SỨC KHOẺ, v.v Tác giả kết luận các chính trị gia dùng các biểu thức ẩn dụ ―đơn giản hoá quá mức‖
Trang 29(oversimplified) khi nói về cuộc khủng hoảng tài chính, một mặt giúp cho các vấn
đề phức tạp trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn với công chúng, mặt khác đem lại tâm lý tích cực và sự tin tưởng cho họ khi đối mặt với khủng hoảng [125] Ở Việt Nam, trong luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Xuân Dung (2014) (đối chiếu đặc điểm diễn ngôn của khẩu hiệu chính trị - xã hội trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ phân tích diễn ngôn phê phán), tác giả có một phần đề cập đến ẩn dụ nói chung với kết luận
ẩn dụ ―giúp người phát ngôn bao hàm những yếu tố thể hiện tư tưởng của mình trong đó, mà không cần phải dùng quá nhiều lời nói để giải thích‖ [8, tr.95-96] Tác giả không đi sâu phân tích về ẩn dụ mà chỉ khảo sát tần suất xuất hiện của ẩn dụ trong các khẩu hiệu; kết quả tư liệu của tác giả cho thấy đa số ẩn dụ xuất hiện trong các khẩu hiệu vận động, thuyết phục còn các khẩu hiệu giáo dục, tuyên truyền thường không có nhiều ẩn dụ [8] Kết quả này không làm chúng tôi ngạc nhiên, bởi
lẽ ẩn dụ mà tác giả đề cập đến là ẩn dụ theo cách hiểu truyền thống, không phải là
ẩn dụ ý niệm
Như vậy, có thể thấy trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn khẩu hiệu chính trị - xã hội Do đó việc lựa chọn đề tài nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu, lấy khẩu hiệu chính trị - xã hội trong tiếng Việt và tiếng Anh làm tư liệu nghiên cứu
là cần thiết và có ý nghĩa khoa học
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Lý thuyết về ẩn dụ ý niệm
1.2.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận
Nhìn lại các nghiên cứu đã có về ẩn dụ, chúng tôi cho rằng về cơ bản có hai cách tiếp cận chính trong nghiên cứu về ẩn dụ: (1) Theo cách tiếp cận truyền thống, tuy có nhiều lý thuyết khác nhau nhưng đều dựa trên các giả định cơ bản về ẩn dụ như một phép chuyển đổi ngữ nghĩa và tên gọi dựa trên sự tương đồng, và (2) theo cách tiếp cận tri nhận, mặc dù mới được phát triển cuối thế kỉ 20, nhưng đã trở thành lý thuyết có ảnh hưởng lớn nhất [132, tr.19]
Theo cách tiếp cận truyền thống về ẩn dụ, ẩn dụ được định nghĩa là hiện tượng gọi tên một sự vật, hiện tượng này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng về màu sắc, hình dạng, tính chất, v.v Ẩn dụ được coi là cơ
Trang 30chế của lời nói thể hiện trong cách dùng từ, là một phương thức chuyển nghĩa để tạo nghĩa mới cho từ (ẩn dụ từ vựng), hoặc phản ánh cách tư duy của một cá nhân, mang tính sáng tạo, tạo ra các ―nghĩa bóng‖ cho từ (ẩn dụ tu từ) [46] Như vậy, ẩn
dụ được nhấn mạnh là một cách dùng ngôn ngữ đặc biệt, là một yếu tố trang trí chứ không đóng vai trò quan trọng đối với tri nhận của con người
Khác với quan điểm truyền thống, Lakoff & Johnson (1980) cho rằng ẩn dụ không đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ mà những biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ chúng ta bắt gặp trong đời sống hàng ngày là sự phản ánh ẩn dụ tồn tại ở bậc ý niệm Nhiều học giả như Lakoff và Turner (1989), Gibbs (1994), Kovecses (2005) cũng khẳng định rằng ẩn dụ là một hình thái tư duy quan trọng tồn tại ở khắp mọi nơi trong mọi ngành khoa học vì ẩn dụ là một đặc tính của tất cả các ngôn ngữ
và là một phần không thể thiếu trong tri nhận của loài người [85], [104], [109] Ẩn
dụ có vai trò cấu trúc và tổ chức các kinh nghiệm về thế giới, qua đó chúng ta có thể hiểu được các vấn đề tương đối trừu tượng hoặc không có cấu trúc vốn có thông qua một khái niệm cụ thể hơn hoặc ít ra là có cấu trúc cao hơn [111, tr 245] Theo quan điểm tri nhận, ẩn dụ không chỉ giới hạn ở ngôn ngữ, mà cao hơn, nó thể hiện tư duy
và lập luận của con người, và như Geary (2012) đã nói, ẩn dụ có nguồn gốc trong tâm trí con người ta trước khi chúng được hợp nhất bằng ngôn từ [89]
Hơn nữa, ẩn dụ có chức năng dụng học quan trọng, liên quan đến thuyết phục, dạy dỗ, giải thích cho sự phức tạp của các khái niệm hoặc thuật ngữ khoa học
Ẩn dụ là một quá trình tư duy, một cơ chế để cấu trúc các đặc điểm ý niệm mà nhờ
đó những khái niệm không quen thuộc có thể hiểu được [120] Những nghiên cứu sớm nhất về ẩn dụ theo quan điểm truyền thống đã cho thấy mối liên hệ giữa ẩn dụ với khả năng hùng biện, theo đó ẩn dụ luôn được coi là một công cụ hùng biện hiệu quả Kết quả của những ngiên cứu quan trọng về ẩn dụ từ năm 1980s đến 1990s theo cách tiếp cận tri nhận cũng chỉ ra rằng ngôn ngữ mang tính ẩn dụ có tính thuyết phục hơn ngôn ngữ bình thường
Như vậy, cách tiếp cận tri nhận đối với ẩn dụ đã đề cao chức năng tri nhận cho ẩn dụ, chỉ ra cách ẩn dụ chi phối tư duy và hành động của con người ra sao Theo quan điểm tri nhận, ẩn dụ được coi là vấn đề của tư duy hơn là vấn đề về ngôn ngữ Ẩn dụ không thể hiện sự tương đồng vốn có mà tạo ra chúng bằng cách ánh xạ
Trang 31(mapping) các đặc điểm của miền nguồn lên miền đích Ẩn dụ có mặt ở khắp mọi nơi, ai cũng có thể sử dụng, mang tính quy ước và không thể thay thế được [108]
Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm trái chiều về cách nhìn ẩn dụ theo tri nhận luận, chủ yếu liên quan đến việc các tác giả tiên phong phát triển lý thuyết này không dựa trên bằng chứng mang tính kinh nghiệm dưới hình thức nghiên cứu khối liệu mà dựa trên các ví dụ độc lập và có chọn lọc Các ví dụ ngôn ngữ được đưa ra trong lý thuyết về ẩn dụ tri nhận hầu hết được sản sinh một cách trực giác Ban đầu các ví dụ nghe rất thuyết phục, nhưng đến năm 1999, Steen chỉ ra rằng các ví dụ đó chỉ phục vụ mục đích minh hoạ, chúng không được lựa chọn một cách hệ thống và thấu đáo từ các khoảng diễn ngôn lớn [139, tr.57] Để giải quyết vấn đề này, nhiều nhà ngôn ngữ đã lựa chọn nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ tự nhiên, bao gồm hai loại lớn là dữ liệu khối liệu (corpus) hoặc dữ liệu diễn ngôn (discourse) [72], [73] Nghiên cứu khối liệu tìm cách giải mã các mô hình chung về nghĩa, miền ngữ nghĩa
và các hình thức của ẩn dụ ngôn ngữ, nghĩa là, lấy quan điểm về ngôn ngữ để tìm và thử nghiệm các ẩn dụ ý niệm Còn cách tiếp cận theo hướng phân tích diễn ngôn có
xu hướng tập trung vào việc con người sử dụng ẩn dụ để đạt mục tiêu giao tiếp, tức
là đứng trên quan điểm của người nói Kết quả phân tích ẩn dụ ngôn ngữ thường có
cơ sở vững chắc hơn, nhưng nhà nghiên cứu lại ít có khả năng khái quát hoá trên bình diện ngôn ngữ Do việc tiếp cận dữ liệu khối liệu rất khó khăn, luận án của chúng tôi lựa chọn nghiên cứu ẩn dụ theo hướng phân tích diễn ngôn, lấy khẩu hiệu chính trị - xã hội làm tư liệu nghiên cứu
1.2.1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor)
Ẩn dụ ý niệm là một cơ chế của tư duy, là quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới Ẩn dụ ý niệm chính là sự ý niệm hoá một miền tinh thần này qua một miền tinh thần khác thông qua quá trình ánh xạ để tạo nên một mô hình ý niệm, mà nếu không có quá trình này thì con người không thể hiểu biết và hình thành tri thức về thế giới [102], [108] Nói cách khác, ẩn dụ ý niệm là việc hiểu một miền ý niệm (A) thông qua một miền ý niệm khác (B) trong
đó A thường là những ý niệm trừu tượng hoặc xa lạ còn B là các ý niệm cụ thể gần gũi, do đó sự lĩnh hội tri thức trở nên hiệu quả và dễ dàng hơn Một ví dụ điển hình
Trang 32được Lakoff và Johnson (2003) đưa ra trong cuốn Metaphors We Live By là ẩn dụ
TIME IS MONEY (THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC) Việc ý niệm hoá thời gian qua
tiền bạc không chỉ cho phép chúng ta nói những câu như ―That flat tire cost me an
hour‖ (Cái lốp xịt làm tôi mất tôi một tiếng đồng hồ) [108, tr 8] mà còn chi phối
cách chúng ta đối xử với thời gian như một thứ gì đó rất quý giá, không nên lãng
phí, hoặc ít nhất nên được tiêu xài hoặc đầu tư một cách khôn ngoan Như vậy ẩn
dụ không chỉ chi phối cách chúng ta nghĩ về thế giới mà còn cả cách chúng ta tương tác với nó như thế nào [108]
Miền (domain), miền nguồn (source domain), miền đích (target domain)
Thuật ngữ đầy đủ của miền là ―conceptual domain‖ (miền ý niệm) được Kovecses định nghĩa là ―bất kì một tổ chức kinh nghiệm nào có mối liên hệ chặt chẽ với nhau‖ [102, tr 4] Nói cách khác miền chính là một cấu trúc cung cấp tri thức nền về một ý niệm nào đó Đây là khái niệm cơ bản trong mô hình ẩn dụ ý niệm MIỀN Ý NIỆM A LÀ MIỀN Ý NIỆM B, trong đó miền ý niệm A được hiểu thông qua miền ý niệm B Miền ý niệm B được gọi là miền nguồn, mà các hiểu biết về nó
sẽ cung cấp các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ (metaphorical linguistic expressions) để chúng ta hiểu được miền ý niệm A (miền đích) Theo Kovecses (2002), miền nguồn thường là các ý niệm cụ thể, mang tính vật chất, có thể được phác hoạ một cách rõ ràng, trong khi đó miền đích thường trừu tượng và khó xác định hơn [102] Do đó, ẩn dụ ý niệm có vai trò kết nối hai miền, việc ánh xạ các đặc điểm của miền nguồn lên miền đích giúp xây dựng các lược đồ hình ảnh để giúp cho nhận thức về các ý niệm trừu tượng, mơ hồ hoặc mới mẻ trở nên dễ dàng hơn
Theo Kovecses (2002), có 13 miền nguồn phổ biến được sử dụng trong tiếng Anh bao gồm cơ thể con người, sức khoẻ và bệnh tật, động vật, thực vật, công trình
và xây dựng, máy móc và công cụ, trò chơi và thể thao, tiền bạc và giao dịch kinh tế (kinh doanh), nấu nướng và thực phẩm, sức nóng và cái lạnh, ánh sáng và bóng tối, các lực, sự chuyển động và phương hướng Đây là các ý niệm gần gũi với trải nghiệm của con người, có cấu trúc rõ ràng hoặc mang tính vật lý Tương tự, 13 miền đích phổ biến thường được ý niệm hoá, bao gồm cảm xúc, ham muốn, đạo đức, ý nghĩ, xã hội/ quốc gia, chính trị, kinh tế, các mối quan hệ của con người, giao tiếp, thời gian, sự sống và cái chết, tôn giáo, các sự kiện và hành động [102] Có thể
Trang 33thấy các miền đích chủ yếu xoay quanh trạng thái tinh thần, kinh nghiệm cá nhân,
sự kiện và quá trình, và các nhóm xã hội – là các lĩnh vực trừu tượng, khó nắm bắt
Ánh xạ (mapping)
Trong toán học, ánh xạ biểu diễn một tương quan giữa các phần tử của hai tập hợp Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cũng sử dụng khái niệm này để mô tả quá trình chuyển di ―transfer‖ nghĩa của miền ý niệm này sang miền ý niệm khác Theo đó ánh xạ được hiểu là sự phóng chiếu các yếu tố của một miền ý niệm vào không gian tinh thần (Fauconnier, 1997), giúp con người nói và nghĩ về một miền ý niệm bằng cấu trúc kinh nghiệm và ngôn ngữ tương ứng về một miền ý niệm khác [79] Ánh xạ trong
ẩn dụ được hiểu theo nghĩa toán học: nó dựa trên các điểm tương ứng giữa hai miền không gian, do đó muốn hiểu được một ẩn dụ ý niệm cần mô hình hoá cấu trúc ánh xạ giữa hai miền nguồn và đích của ẩn đụ đó Bảng sau đây thể hiện cấu trúc ánh xạ của
ẩn dụ nổi tiếng TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH (Trật tự của ẩn dụ ĐÍCH LÀ NGUỒN được đảo lại thành NGUỒN LÀ ĐÍCH để nhấn mạnh rằng việc hiểu một ẩn
dụ phải đi từ ý niệm cụ thể hơn đến ý niệm trừu tượng hơn):
Bảng 1.1 Mô hình ánh xạ của ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH
(Nguồn: [102, tr 7])
NGUỒN (HÀNH TRÌNH)
Ánh
xạ
ĐÍCH (TÌNH YÊU)
Người đi Người yêu nhau
Phương tiện đi lại Mối quan hệ tình yêu
Chuyến đi Các sự kiện trong mối quan hệ Khoảng cách đi được Tiến triển trong tình yêu
Chướng ngại vật trên đường đi Khó khăn được trải nghiệm
Quyết định chọn lối đi Lựa chọn trong tình yêu
Điểm đến của hành trình Mục tiêu của mối quan hệ
Mặc dù quá trình ánh xạ được thực hiện trong vô thức, nhưng các ánh xạ ẩn
dụ vẫn có một số đặc trưng mang tính quy luật như sau Thứ nhất, ánh xạ có tính hệ
thống, nghĩa là nhiều mặt của miền nguồn (bao gồm cả bề ngoài, chức năng và quan
hệ) phù hợp với miền đích được phóng chiếu lên miền đích Thứ hai, ánh xạ mang
tính bộ phận, tức là chỉ một bộ phận của ý niệm thuộc miền nguồn được ánh xạ lên
Trang 34ý niệm thuộc miền đích Lakoff và Johnson dùng hai khái niệm ―highlighting‖ (làm nổi bật) và ―hiding‖ (che giấu) để mô tả thuộc tích này của ánh xạ ẩn dụ Trong khi một số đặc điểm của miền nguồn được làm nổi bật, được kích hoạt và phóng chiếu lên miền đích thì một số phương diện khác sẽ bị che dấu đi [108] Điều này có
nghĩa hai miền đích và nguồn trong ẩn dụ ý niệm không đồng nhất hoàn toàn Thứ
ba, ánh xạ có tính đơn tuyến: ánh xạ được cấu trúc từ miền nguồn sang miền đích
chứ không có chiều ngược lại, lý do là vì các ẩn dụ thường đi từ cái cụ thể đến cái
trừu tượng hơn [102] Cuối cùng, các ánh xạ ẩn dụ không mang tính quy ước mà do
bản chất của tính nghiệm thân (embodiment) quy định Theo quan điểm tri nhận
luận, trải nghiệm tương tác của con người với thế giới khách quan là cơ sở lý tính của ẩn dụ ý niệm; chúng ta dựa trên các tương tác đó để ý niệm hoá thế giới, từ đó hình thành tri thức mới [108]
Tính nghiệm thân (embodiment)
Theo các nhà tri nhận, kinh nghiệm thân thể và các trải nghiệm của con người về thế giới xung quanh là cơ sở hình thành sự hiểu biết của con người với thế giới, và là cơ sở cho sự phát triển ngữ nghĩa trong ngôn ngữ Nghiệm thân có nghĩa
là trải nghiệm thân thể của con người mà nhờ đó hình thành nên hệ thống ý niệm vì
―những cấu trúc dùng để kết nối hệ thống ý niệm của chúng ta đều nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể‖ [110, tr xiv] Những cấu trúc đó chính là các lược đồ hình ảnh cơ bản (image-schemas), có thể được dùng như các miền nguồn cho các ánh xạ ẩn dụ, chẳng hạn như TIỄP XÚC (CONTACT), VẬT CHỨA (CONTAINER), CÂN BẰNG (BALANCE), v.v [102]
Nghiệm thân bao gồm hai yếu tố: sự tương tác của cơ thể con người với thế giới khách quan và ngôn ngữ là công cụ để phản ánh cách thức mà con người tư duy
về thế giới mà họ trải nghiệm Tuy nhiên, nhiều kinh nghiệm nghiệm thân của con người chịu ảnh hưởng của bối cảnh văn hoá xã hội cụ thể như chính trị, xã hội, kinh
tế, giáo dục, v.v Do đó, nghiệm thân không chỉ là các trải nghiệm sinh lý đơn thuần
mà còn bao hàm cả các trải nghiệm về văn hoá trong cộng đồng người nói cùng ngôn ngữ [105], [110]
Trang 351.2.1.3 Cấu trúc của một ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm thể hiện mối liên hệ giữa hai miền ý niệm chứ không phải chỉ
là cách sử dụng từ này thay cho từ kia, do đó cấu trúc của một ẩn dụ ý niệm rất phức tạp Kovecses liệt kê mười yếu tố tương tác tạo nên một ẩn dụ ý niệm [103, tr 311-312], bao gồm:
1 Cơ sở kinh nghiệm – đây chính là nguyên do (motivation) quyết định miền nguồn nào đi với miền đích nào
2 Miền nguồn – miền nguồn phải khác miền đích đủ lớn để nghĩa mới được tạo ra, nhưng đồng thời hai miền lại phải có chung một số điểm quan trọng
3 Miền đích – thường là các ý niệm trừu tượng hoặc xa lạ
4 Quan hệ giữa miền nguồn và miền đích – một miền nguồn có thể đồ chiếu lên nhiều miền đích và một miền đích có thể gắn với nhiều miền nguồn
5 Các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ (dụ dẫn) – là kết quả của các ánh xạ từ miền nguồn lên miền đích
6 Ánh xạ – sự tương liên về ý niệm cơ bản giữa miền nguồn và miền đích
7 Sự kế thừa – các ánh xạ bổ sung ngoài các tương liên cơ bản Chúng còn được gọi là sự suy diễn (inferences)
8 Pha trộn – thông tin mới trong mối tương quan với cả miền nguồn và miền đích
9 Sự hiện thực hoá phi ngôn ngữ (nonlinguistic realization) – ẩn dụ ý niệm không chỉ được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ và tư duy mà còn bằng hiện thực xã hội Ví
dụ cách chúng ta đối xử với thời gian như là tiền bạc
10 Mô hình văn hoá – là các đơn vị ý niệm lớn hơn ẩn dụ ý niệm Đây là các tiêu chuẩn xã hội chung và kiến thức ẩn tàng về thế giới [132, tr 48]
Mười yếu tố này đều đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích một ẩn dụ
ý niệm Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sáu yếu tố đầu tiên, các yếu tố từ 7-10 đòi hỏi một nghiên cứu sâu rộng với nguồn ngữ liệu đa dạng hơn rất nhiều
1.2.1.4 Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm
Với tư cách là một phương thức kiến tạo nên tri thức mới, ẩn dụ có bốn đặc điểm điển hình bao gồm: tính phổ biến (conventionality), tính hệ thống (symtematicity), tính bất đối xứng (asymmetry) và tính khái quát (abstraction)
Trang 36Tính phổ biến của ẩn dụ được nhiều nhà nghiên cứu chú ý như Gibbs (1994),
Lakoff và Johnson (2003) và Kovecses (2002) Họ đã đưa ra các bằng chứng chứng
tỏ tính phổ biến của ẩn dụ không phải là đặc quyền của một vài nhóm mà xuất hiện
ở tất cả các loại hình diễn ngôn, cả ngôn bản (diễn ngôn nói) lẫn văn bản (diễn ngôn
viết) [84], [102], [108] Thứ hai, tính hệ thống có nghĩa là ẩn dụ không thiết lập một
góc so sánh đơn lẻ: các đặc điểm của miền nguồn và miền đích kết hợp với nhau để
ẩn dụ có thể mở rộng hoặc tự thân có logic riêng của nó [133] Khi nghiên cứu tất
cả các loại diễn ngôn người ta nhận thấy các ẩn dụ ý niệm không xuất hiện riêng lẻ Trái lại, chúng liên quan mật thiết với nhau và ―các ẩn dụ kéo theo (entailments) chính là đặc điểm của một hệ thống chặt chẽ các ý niệm mang tính ẩn dụ và một hệ thống các biểu thức ngôn ngữ thể hiện các ẩn dụ đó cũng chặt chẽ không kém‖ [108, tr 10] Điều này phân biệt ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ tu từ truyền thống, vốn mang tính sáng tạo của cá nhân, riêng biệt, độc đáo Do đó, hàng loạt ẩn dụ ý niệm
có chung cơ sở kinh nghiệm, hoặc lược đồ hình ảnh, có thể kết nối toàn bộ một diễn
ngôn để người đọc có thể hiểu được nó một cách sáng rõ Đặc điểm thứ ba, tính bất
đối xứng, theo Saeed (2000), chỉ rõ xu hướng một chiều của ẩn dụ Sự so sánh giữa
hai miền ý niệm không đối xứng, trái lại chúng chỉ chuyển di đặc điểm của miền
nguồn lên miền đích mà thôi [133] Cuối cùng, tính trừu tượng cũng có liên quan
đến tính bất đối xứng Thông thường một ẩn dụ thường sử dụng miền nguồn cụ thể
để miêu tả một miền đích trừu tượng [102], [133] Tuy nhiên Saeed cũng chỉ ra rằng đây không phải là đặc điểm tuyệt đối của ẩn dụ Miền đích và miền nguồn có thể cụ thể hoặc trừu tượng tương đương nhau [133]
1.2.1.5 Phân loại ẩn dụ ý niệm
Theo lý thuyết ẩn dụ ý niệm, ẩn dụ có thể được phân loại theo tính quy ước, chức năng tri nhận, bản chất hoặc mức độ khái quát Ngoài ra ẩn dụ ý niệm còn được phân loại theo miền nguồn hoặc sự khác biệt với các loại ngôn ngữ tu từ khác (figurative language) Luận án của chúng tôi áp dụng cách phân loại theo chức năng tri nhận do Lakoff và Johnson khởi xướng năm 1980 và sau đó đã được Kovecses (2002)
hệ thống hoá và xác định tiêu chí rõ ràng hơn vì theo cách phân loại này, cấu trúc ánh
Trang 37xạ của các ẩn dụ ý niệm có thể được mô hình hoá rõ ràng hơn, việc xác định dụ dẫn và phân tích, đối chiếu các đặc điểm của ẩn dụ ý niệm cũng thuận tiện hơn
Theo chức năng tri nhận, ẩn dụ ý niệm được chia thành ba loại bao gồm ẩn
dụ định hướng (orientational metaphor), ẩn dụ bản thể (ontological metaphor) và ẩn
dụ cấu trúc (structural metaphor)
Ẩn dụ định hướng
Ẩn dụ định hướng là loại ẩn dụ thể hiện mối quan hệ giữa các kinh nghiệm thân thể và môi trường xung quanh, hầu hết đều mang tính không gian Chức năng của ẩn dụ định hướng là gắn kết các ý niệm đích thành một hệ thống ý niệm chặt chẽ, thông qua sự định vị không gian với các cặp ý niệm đối lập như trên – dưới, trước – sau, trong – ngoài, trung tâm – ngoại vi, v.v Nhờ đó, kinh nghiệm của con người được ý niệm hoá theo một cách thức thống nhất và mạch lạc Nếu như các ý niệm tích cực được định hướng lên trên, phía trước, bên trong, trung tâm thì các
―thể đối lập‖ của chúng được định hướng ngược lại: xuống dưới, phía sau, bên ngoài, ngoại vi Các ví dụ điển hình được Lakoff và Johnson (2003) đưa ra bao gồm VUI LÀ LÊN-BUỒN LÀ XUỐNG (HAPPY IS UP-SAD IS DOWN), KHOẺ MẠNH VÀ SỐNG LÀ LÊN-ỐM ĐAU VÀ CHẾT LÀ XUỐNG (HEALTH AND LIFE ARE UP-SICKNESS AND DEATH ARE DOWN) [108] Theo các tác giả, mặc dù ẩn dụ định hướng có cơ sở từ kinh nghiệm thân thể vốn phổ biến với toàn nhân loại nhưng chúng đồng thời cũng bị chi phối bởi văn hoá Thí dụ, ở một số nền văn hoá thì tương lai ở phía trước và ngược lại, ở một số nền văn hoá khác thì tương lai lại ở phía sau [108, tr 14]
Ẩn dụ bản thể
Ẩn dụ bản thể là các ẩn dụ có cơ sở từ kinh nghiệm của con người đối với các vật thể và chất liệu Chức năng tri nhận của loại ẩn dụ này là ―gắn‖ cho những ý niệm trừu tượng một ―bản thể‖, tức là nhận thức kinh nghiệm thông qua các thực thể hữu hình như
đồ vật, vật chất, vật chứa mà không cần cụ thể hoá các thực thể đó là gì Đối với những kinh nghiệm vốn mơ hồ, trừu tượng, ẩn dụ bản thể giúp con người dễ hình dung về chúng hơn, việc nhận diện, đong đếm hay quy chiếu trở nên dễ dàng và sáng tỏ hơn Một
Trang 38số ẩn dụ bản thể quan trọng bao gồm vật thể (physical objects), vật chất (substance), và vật chứa (containers) được Kovecses (2002) minh hoạ như sau:
Bảng 1.2: Mô hình tri nhận của ẩn dụ bản thể [102, tr.35]
(SUBSTANCE) CÁC HOẠT ĐỘNG (ACTIVITIES)
- TRẠNG THÁI (STATES)
Nếu như ý niệm hoá bằng vật thể hoặc vật chất là coi các ý niệm trừu tượng,
sự kiện hay hành động như một đồ vật hoặc chất liệu mà có thể cầm, nắm, đong, đếm, trải nghiệm, v.v được thì vật chứa giúp cấu trúc thế giới bằng khái niệm trong-ngoài [108, tr 33] Kovecses (2002) coi nhân hoá (personification) là một dạng đặc biệt của ẩn dụ bản thể, theo đó các đặc điểm, tính chất của con người được gán cho những thực thể không phải là con người, giúp chúng ta hiểu được các thực thể đó một cách rõ ràng hơn vì không có gì rõ ràng hơn khi chúng ta dùng chính bản thể chúng ta làm miền nguồn [102]
Nhìn chung, ẩn dụ bản thể cho phép con người tư duy qua các tổ chức, cấu trúc có đường nét, ranh giới rõ ràng khi nói đến các ý niệm không có hoặc có rất ít ranh giới phân định Nhờ trạng thái bản thể mà con người có thể quy chiếu, định lượng, nhận diện, phân loại, thậm chí có thể suy luận về các khái niệm trừu tượng
Ẩn dụ cấu trúc
Ẩn dụ cấu trúc là ẩn dụ trong đó một ý niệm được cấu trúc bằng một ý niệm khác, chi tiết, cụ thể và rõ ràng hơn rất nhiều Đây là loại ẩn dụ cung cấp nhiều tri
Trang 39thức nhất về miền đích; người nói có thể hiểu được miền đích A bằng cấu trúc của miền nguồn B thông qua các ánh xạ ý niệm Ẩn dụ cấu trúc có mô hình MIỀN ĐÍCH A LÀ MIỀN NGUỒN B, ví dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH (ARGUMENT IS WAR) Các đặc điểm của miền nguồn B (thường là các ý niệm về
sự vật cụ thể, gần gũi hay những trải nghiệm cơ bản) được ánh xạ lên miền đích A (thường là các ý niệm trừu tượng, mơ hồ); chúng không chỉ giúp giải thích ý nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ mà chúng ta dùng hàng ngày mà còn cung cấp tri thức, hiểu biết tổng quát về ý niệm đích Chẳng hạn, trong ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, ý niệm ―tranh luận‖ được cấu trúc qua miền nguồn ―chiến tranh‖, vốn là một trải nghiệm quen thuộc, có cấu trúc chi tiết với nhiều thuộc tính như chiến đấu, mặt trận, tấn công, mục tiêu, phòng thủ, v.v Nhờ cấu trúc đó, con người có thể tư duy về việc tranh luận thông qua kiến thức về chiến tranh và biểu đạt nó bằng ngôn ngữ như
―bảo vệ quan điểm‖, ―tấn công luận điểm‖, ―tranh cãi thắng thua‖, v.v Ẩn dụ cấu trúc
cung cấp nhiều khả năng làm nổi bật (highlighting) hay che dấu (hiding) các khía cạnh của một khái niệm, hơn là chỉ nhận điện và định lượng nó
Ranh giới giữa các loại ẩn dụ trên không hoàn toàn được phân tách rạch ròi Theo Kovecses (2002), ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng có thể được sử dụng làm
cơ sở cho ẩn dụ cấu trúc thông qua quá trình chi tiết hoá (elaborate) [102] Chẳng hạn, ẩn dụ bản thể TÂM TRÍ LÀ MỘT THỰC THỂ không cung cấp nhiều tri thức
về tâm trí, chúng ta chỉ có thể hình dung ra một thực thể có thể đo lường, cầm nắm, phân loại, v.v được Nhưng thực thể này có thể được chi tiết hoá thành một cỗ máy,
từ đó ta có ẩn dụ cấu trúc TÂM TRÍ LÀ MỘT CỖ MÁY Các tri thức về cỗ máy như có trạng thái tắt-bật, hoạt động, hiệu suất, nguồn năng lượng, v.v giúp ta tri nhận về tâm trí con người một cách rõ ràng, chi tiết hơn Sự chi tiết hoá này giúp biến một ẩn dụ bản thể thành một ẩn dụ cấu trúc vì miền nguồn có cấu trúc cao hơn
và do đó các thuộc tính cũng rõ ràng hơn
1.2.1.6 Ẩn dụ và văn hoá
Vấn đề ẩn dụ và văn hoá đã được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến như Quin (1991), Gibbs (1994), Yu (1998), Boers (1999), Kovecses (2005, 2015), Stern
Trang 40(2000), v.v Họ đều có nhận định chung là ẩn dụ có nguồn gốc từ những trải nghiệm
cơ thể, được hiểu là ―các chức năng cơ thể và tương tác của chúng với thế giới vật
lý bên ngoài‖ [150, tr 43] Boers (1999) cho rằng trải nghiệm cơ thể của con người
là tương đối đồng nhất trên thế giới, và điều này làm cho các lược đồ hình ảnh (image-schema) có khả năng trở thành phổ quát và được chia sẻ bởi nhiều nền văn hoá khác nhau [56] Tuy nhiên, trải nghiệm cơ thể chỉ có thể chỉ ra các mô hình ẩn
dụ tiềm năng, còn việc các mô hình này có được sử dụng trong một nền văn hoá cụ thể không thì còn phụ thuộc vào cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ [150] Hoàn cảnh sống ở các cộng đồng khác nhau có thể mang lại cho con người lý tưởng và niềm tin chính trị, xã hội và văn hoá khác nhau, tạo nên cơ sở cho tính đặc trưng dân tộc của ẩn dụ Chẳng hạn, mối quan hệ giữa thời gian và không gian đã được nghiên cứu từ rất lâu và mô hình ẩn dụ THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN được coi là phổ quát Theo Yu (1998), cơ thể con người có cấu trúc theo trục dọc với đầu ở trên, chân ở dưới khi đứng; khi nằm thì đầu được coi là ở phía trước, chân ở phía sau giống như bất kì một vật thể chuyển động nào như ô tô, máy bay, v.v [150, tr 111) Chun (2002) phát hiện ra trong văn hoá Trung Quốc, quá khứ được định hướng lên trên hoặc phía trước còn tương lai định hướng xuống dưới hoặc đằng sau Người Trung Quốc nói shang-xing-qi (thượng tuần) là nói về quá khứ (tuần trước), còn xia-xing-qi (hạ tuần) là nói về tương lai (tuần sau) [70] Điều này được Liu (1997) lý giải là do ảnh hưởng của văn hoá Khổng Tử và Đạo Lão, vốn chủ trương ủng hộ con người quay trở về với thiên nhiên, nguồn cội và quá khứ (dẫn theo [151]) Người Trung Quốc định hướng quá khứ lên trên vì kinh nghiệm thực tiễn trong quá khứ có giá trị hơn, những thứ chưa biết (trong tương lai) là những thứ ít giá trị hơn vì không thể biết chắc nó có tốt hơn hay không Ngược lại Yunuso lu (2015) khi bàn về ẩn dụ định hướng trong tiếng Thổ Nhĩ Kì cho rằng TƯƠNG LAI ĐỊNH HƯỚNG PHÍA TRƯỚC do ảnh hưởng từ lối sống và giá trị văn hoá của người Thổ Nhĩ Kì Trong quá khứ, do điều kiện địa lý và khí hậu, để tồn tại người Thổ luôn phải kết nối các trải nghiệm trong quá khứ với một địa điểm cố định vì họ không thể ở lâu dài ở một chỗ Điều kiện khí hậu khắc nghiệt và hoàn cảnh địa