1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận triết PHÂN TÍCH LUẬN điểm của KARL MARX “vũ KHÍ của sự PHÊ PHÁN cố NHIÊN KHÔNG THỂ THAY THẾ sự PHÊ PHÁN của vũ KHÍ, lực LƯỢNG vật CHẤT CHỈ có THỂ bị ĐÁNH đổ BẰNG lực LƯỢNG vật CHẤT NHƯNG lý LUẬN CŨNG sẽ TRỞ THÀnh lực lượng vật chất một khi nó t

14 140 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 38,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN DỰA VÀO NHỮNG YÊU CẦU CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, PHÂN TÍCH LUẬN ĐIỂM CỦA KARL MARX “VŨ KHÍ CỦA SỰ PHÊ PHÁN CỐ NHIÊN KHÔNG THỂ THAY THẾ SỰ PHÊ PHÁN CỦA VŨ KHÍ, LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT CHỈ CÓ THỂ BỊ ĐÁNH ĐỔ BẰNG LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT; NHƯNG LÝ LUẬN CŨNG SẼ TRỞ THÀNH LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT MỘT KHI NÓ THÂM NHẬP VÀO QUẦN CHÚNG” Họ tên học viên Lớp , 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 KẾT LUẬN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 7 MỞ ĐẦU Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và t.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN DỰA VÀO NHỮNG YÊU CẦU CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, PHÂN TÍCH LUẬN ĐIỂM CỦA KARL MARX: “VŨ KHÍ CỦA SỰ PHÊ PHÁN CỐ NHIÊN KHÔNG THỂ THAY THẾ SỰ PHÊ PHÁN CỦA VŨ KHÍ, LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT CHỈ CÓ THỂ BỊ ĐÁNH ĐỔ BẰNG LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT; NHƯNG LÝ LUẬN CŨNG SẼ TRỞ THÀNH LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT MỘT KHI NÓ THÂM NHẬP VÀO QUẦN CHÚNG”

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

- 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được rút ra “trực tiếp” từ lý luận về mối liên hệ hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn (thực tiễn và lý luận) Nói cách khác, “nội dung quan niệm về lý luận và thực tiễn và về mối liên hệ giữa chúng là cơ sở lý luận cho việc xác định nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, suy cho cùng thì cơ sở của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn là mối liên hệ hiện thực, thực tế giữa thực tiễn và lý luận Một khi nhận thức, lý luận đã xuất hiện và tỏ rõ vai trò không thể thiếu của nó đối với thực tiễn thì người ta phải ý thức được mối liên

hệ hữu cơ của nó với thực tiễn và như thế đưa đến hình thành những quan điểm, nguyên tắc cho hoạt động” [8, tr.120] Như vậy, những quan điểm, nguyên tắc không chỉ được hình thành trên cơ sở thực tiễn,

mà còn phải phục tùng những mục đích, điều kiện thực tiễn của con người

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là “nguyên tắc của nhận thức khoa học nói chung, nằm trong hệ thống phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và tinh thần Do đó, nguyên tắc này có ý nghĩa phổ biến đối với mọi nhận thức khoa học, kể cả bản thân triết học Nó phụ thuộc vào lập trường, lợi ích giai cấp, nói khác đi, nó không mang tính giai cấp Nhà khoa học hay bất kỳ người hoạt động lý luận nào đều phải tính đến nguyên tắc này trong hoạt động của mình, cũng giống như họ vận dụng các nguyên tắc khác của chủ nghĩa duy vật biện chứng” [7,

tr.89] Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Dựa vào những yêu cầu của

Trang 4

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phân tích luận điểm của Karl Marx: Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” làm đề

tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 5

NỘI DUNG

Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người Cho nên, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nhận thức

là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông cạn đến sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất … Đúng như Lênin nhận xét: “Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn như thế nào” [10, tr.117]

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người” [2, tr.201].

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề

cơ bản của triết học Mác - Lênin nói chung và lý luận nhận thức mác xít nói riêng Quán triệt mối quan hệ đó có ý nghĩa qua trọng đối với nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn cách mạng “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan Con người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Điều đó quy định

Trang 6

sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng” [5, tr.310]

Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định Để khẳng định vấn đề này V.I.Lênin đã nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những có tính phổ biến mà của

cả tính hiện thực trực tiếp” [11, tr.230]

Luận điểm của C Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [2, tr.580] chỉ

ra mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, đặc biệt là vai trò

lý luận đối với thực tiễn, luận giải vấn đề này trên một số nội dung sau:

Thực tiễn là cơ sở của lý luận Xét một cách trực tiếp, những tri

thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất

và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Qúa trình hoạt động thực tiễn còn là

cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua

đó, lý luận được bổ sung, mở rộng

Trang 7

Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ là “nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội

Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận” [6, tr.156] Thực tiễn là mục đích của lý luận “Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con người, nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội

Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi trong tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người, đó thực chất là mục đích của lý luận Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người” [9, tr.152] Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C.Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu tư

Trang 8

duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan không hoàn toàn

không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong

thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý…” [3, tr.517] Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn

Tuy thực tiễn là tiêu chẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hoá Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì

lý luận có thể xa rời thực tiễn Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý Chính vì vậy

mà V.I.Lênin cho rằng: “Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng lôgíc Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên kiến, có một tính chất công lý, chính vì và chỉ vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy” [12, tr.418]

Tuy xét đến cùng thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý duy nhất của lý luận, nhưng vì thực tiễn luôn vận động và phát triển, đồng thời thực tiễn cũng rất phong phú và đa dạng, do đó ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩn khác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn

Trang 9

giá trị… Song các tiêu chuẩn đó vẫn phải trên nền tảng của thực tiễn Chính vì vậy chúng ta có thể nói khái quát thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận

Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình thành lý luận Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn vận động và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực tiễn Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con người quan tâm Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn của con người Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quả cao

Lý luận, trước hết phải đáp ứng mục đích đó Quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về chúng Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động sáng tạo tri thức, phát minh sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người Do đó hệ thống lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con người quan tâm khái quát Vì lẽ đó lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn

Trang 10

Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn C.Mác đã từng nói, “người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ Tức là hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận Từ đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn” [4, tr.310]

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định

“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật chất,

Trang 11

nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

Trang 12

KẾT LUẬN

Có thể nói, “lý luận” và “thực tiễn” là hai phạm trù thường xuyên được đề cập đến trong các hoạt động của con người Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và nó là một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng “Trong bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn đề về lý luận và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau Có như vậy hoạt động của con người mới có thể đi đúng hướng và đạt được hiệu quả cao Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng phải luôn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong mọi hoạt động Nếu có sự vi phạm nguyên tắc này thì kết quả thu được sẽ không được như mong muốn Đồng thời phải khẳng định vai trò to lớn của lý luận với thực tiễn, đặc biệt khi nó được sâm nhập vào quần chúng” [1, tr.189] Chính vì vậy C Mác đã chỉ ra “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

Thông qua việc nghiên cứu về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn, bản thân em đã hiểu được rằng mối quan hệ giữa lý luận

và thực tiễn là mối quan hệ biện chứng khách quan vô cùng chặt chẽ

Lý luận không phải là lý thuyết suông xa rời thực tế, và thực tiễn cũng không độc lập phát triển Thực tiễn quy định lý luận, nhưng đó không phải là mối quan hệ một chiều mà lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn, là “kim chỉ nam” cho thực tiễn Cũng chính từ việc nghiên cứu

Trang 13

nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, em có thể tự xác định động lực và định hướng học tập, từ đó đề ra phương pháp học tập đúng đắn nhằm lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả

Trang 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác - Lênin,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007

2 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia

- Sự thật, Hà Nội, 1976

3 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976

4 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 29, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976

5 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976

6 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các

bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014.

7 Nguyễn Ngọc Long, (2017), Nguyên tắc luận triết học - Một

số vấn đề lý luận và thực, Tạp chi Lý luận chính trị, số 78/2017.

8 Nguyễn Thế Nghĩa, Thái Thị Thu Hương (Đồng Chủ biên),

Những vấn đề cơ bản và cấp bách của triết học mácxít, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2014

9 Bùi Thanh Quất, Lịch sử triết học, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1999

10 V.I.Lênin, toàn tập, tập 5, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.

11 V.I.Lênin, toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.

12 V.I.Lênin, toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.

Ngày đăng: 22/06/2022, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w