TRƯỜNG TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP BẰNG THỰC TIỄN ANHCHỊ HÃY CHỨNG MINH VAI TRÒ QUY LUẬT NÀY ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN Họ và tên học viên MSSV , Lớp Hà Nội, 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP 2 1 1 Khái quát lịch sử các tư tưởng triết học trước Mác về mâu thuẫn và các mặt đối lập 2 1 2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứ.
Trang 1TRƯỜNG
TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP BẰNG THỰC TIỄN ANH/CHỊ HÃY CHỨNG MINH VAI TRÒ QUY LUẬT NÀY ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN
Họ và tên học viên:……….
MSSV:………., Lớp:……….
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT
1.1 Khái quát lịch sử các tư tưởng triết học trước Mác về mâu
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn
và quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 5
II.
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ VAI TRÒ QUY LUẬT NÀY ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN
10
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận quy luật thống nhất và đấu tranh
2.2 Vai trò quy luật này đối với hoạt động nhận thức và hoạt
Trang 3MỞ ĐẦU
Với tư cách là khoa học triết học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật cơ bản, phổ biến tác động trong mọi sự vật, hiện tượng, quá trình,… của thế giới khách quan Những quy luật này phản ánh quá trình vận động, biến đổi và phát triển của cả giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người Trong đó, quy luật mâu thuẫn (thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) làm sáng tỏ nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động, biến đổi và phát triển; quy luật lượng - chất (chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại) phản ánh phương thức và trạng thái của quá trình vận động, biến đổi và phát triển; quy luật phủ định của phủ định chỉ rõ khuynh hướng của quá trình vận động, biến đổi và phát triển của thế giới khách quan
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật
và phương pháp biện chứng Đồng thời là một trong những phạm trù trung tâm của triết học Mác - Lênin nói chung, của chủ nghĩa duy vật hiện đại nói riêng Hiểu về phép biện chứng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn khi nghiên cứu về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong phép
biện chứng, Lênin đã viết “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là một học
thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là hiểu được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự
phát triển thêm” [6, tr.187] Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: “Phân tích nội dung
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Bằng thực tiễn anh/chị hãy chứng minh vai trò quy luật này đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bản thân” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc
Trang 4NỘI DUNG
I PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
1.1 Khái quát lịch sử các tư tưởng triết học trước Mác về mâu thuẫn
và các mặt đối lập
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật
và phương pháp biện chứng Đồng thời là một trong những phạm trù trung tâm của triết học Mác - Lênin nói chung, của chủ nghĩa duy vật hiện đại nói riêng Hiểu về phép biện chứng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn khi nghiên cứu về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong phép
biện chứng, Lênin đã viết “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là một học
thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là hiểu được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” [6, tr.417].
Song để có cái nhìn tổng quan về phép biện chứng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin đã khái quát phép biện chứng là “môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người
và tư duy” [2, tr.514] Đó là một học thuyết toàn diện nhất, sâu sắc nhất, cách mạng nhất về sự liên hệ phổ biến và sự phát triển
Phép biện chứng là một học thuyết toàn điện đề cập đến mọi vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của triết học Trong phạm vi một tiểu luận nhỏ, do điều kiện thời gian, không gian, giới hạn phạm vi và trình độ nghiên cứu…nên không thể đề cập tới tất cả các nội dung của phép biện chứng mà chủ yếu tập trung làm
rõ một số vấn đề thuộc phạm trù “chuyển hoá” Trong phép biện chứng, khái niệm chuyển hoá được dùng hết sức phổ biến Phép biện chứng đối lập với phép
siêu hình là ở chỗ nó khẳng định rằng mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới không
cố định, không đứng im một chỗ, không bất biến mà luôn vận động biến đổi không ngừng, luôn chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác Lênin đã từng khẳng định: “biểu tượng thông thường nắm được sự khác nhau và mâu thuẫn,
Trang 5nhưng không nắm được sự chuyển hoá từ cái này sang cái kia mà chính điều đó mới quan trọng nhất” [6, tr.418]
Và trong sự phát triển, đồng thời Lênin cũng đã làm rõ sự đối lập giữa hai quan điểm trên về sự chuyển hóa là: “Hai quan niệm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hoá): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan
hệ lẫn nhau giữa những mặt đối lập ấy)… quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của sự “tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới” [7, tr.193]
Như vậy, khái niện chuyển hoá ở đây dùng để chỉ sự biến đổi của sự vật này sang sự vật khác , của hiện tượng này thành hiện tượng khác Điều này về mặt khoa học tự nhiên, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh đó là năng lượng không những luôn được bảo toàn mà còn luôn luôn có sự chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác ( từ cơ năng sang nhiệt năng, từ nhiệt năng sang điện năng…) Trong giới tự nhiên có sự chuyển hoá từ giới vô cơ thành giới hữu cơ, từ động vật thấp đến động vật cao Khi chứng minh sự vận động phát triển của xã hội loài người, Ăng ghen đã khẳng định về vai trò của lao động trong sự chuyển hoá từ vượn thành người Nhưng “sự chuyển hoá”như thế rất phổ biến Đó là một nguyên lý quan trọng của phép biện chứng khách quan
Quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực sự vận động, phát triển của thế giới khách quan, là chìa khóa giúp chúng ta nắm vững, hiểu sâu sắc thực chất của các quy luật, các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các sự vật hiện tượng và các quá trình phát sinh, phát triển của nó Mâu thuẫn có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn không phải chỉ là một mà nó phát sinh rất nhiều mâu
Trang 6thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập, mâu thuẫn này mất đi, mâu thuẫn khác lại xuất hiện
Triết học luôn xuất phát từ những bối cảnh lịch sử nhất định Trải qua những nấc thang phát triển của loài người, các tư tưởng triết học mỗi thời đại cũng có những quan điểm khác nhau về mâu thuẫn
Những quan điểm biện chứng sơ khai về mâu thuẫn xuất hiện trong hệ thống triết học Trung Quốc ngay từ cuối thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc với
triết lý của phái Âm - Dương nhìn nhận: “mọi tồn tại không phải trong tính
đồng nhất tuyệt đối cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng” Trái lại, “tất cả bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập, được gọi là thống nhất Âm - Dương” Âm - Dương là đối lập nhau, nhưng là điều kiện tồn
tại của nhau
Sang đến phái đạo gia mà người sáng lập là Lão Tử, ông cũng có những tư
tưởng biện chứng độc đáo về sự thống nhất của các mặt đối lập Ông nói “có và
không tương sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao
và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” Tất cả trong đó, mỗi mặt đều
trong quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này thì cũng không có mặt kia và giữa chúng cũng chỉ là tương đối Ai cho cái đẹp là đẹp dó đó sinh ra quan niệm
về cái xấu, ai cũng cho điều thiện là thiện mà sinh ra quan niệm về cái ác…
Phật giáo đưa ra phạm trù “vô ngã” “vô thường” “Một tồn tại” nào đó
chẳng phải là nó mà là tổng hợp những cái không phải là nó mà nhờ hội đủ
nhân duyên Trong cái “một” đã bao hàm cái “đa”, cái nhiều Không có tồn tại
nào là biệt lập tuyệt đối so với tồn tại khác Tất cả đều duy nhiếp nhau và hòa đồng với nhau Nhưng đã như vậy thì tất yếu phải đi tời một khẳng định về lẽ
vô thường Chẳng bất biến tức là biến, biến tức là biến động Sinh biến, có có -không -không, nay có - mai -không… tất cả đều trong quy luật nhất định cùng với
sự phát triển của các hình thức kinh tế xã hội các tư tưởng triết học về mâu thuẫn cũng ngày càng rõ nét
Hêracơlít, người được coi là ông tổ của phép biện chứng cho rằng: Trong
sự vận động biện chứng vĩnh viễn của mình, các sự vật đều có khuynh hướng
Trang 7chuyển sang mặt đối lập Theo ông, các mặt đối lập gắn bó, quy định, ràng buộc
với nhau: “cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi”, “cái ác làm cho cái thiện cao
cả hơn” Ông cũng khẳng định vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng
nó luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa các lực lượng đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồn tại
và vận động
Đứng trên lập trường duy tâm khách quan, Platon cho rằng khi giải quyết bất kỳ vấn đề nào cũng phải xuất phát từ hai luận điểm đối lập, và cần phải xem xét cái gì đứng đằng sau các luận điểm đối lập ấy…
Trong triết học cổ điển Đức, các tư tưởng triết học về mâu thuẫn đã có những bước tiến đáng kể Đại biểu xuất sắc là Heghen Mặc dù là nhà triết học duy tâm, nhưng tư tưởng của Heghen về mâu thuẫn lại hết sức biện chứng Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của sự phát triển Theo
Heghen lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa “những tính quy định”, rồi trong
sự đồng nhất ấy bộc lộ ra những sự khác biệt lại chuyển thành những mặt đối lập
và cuối cùng xuất hiện mâu thuẫn Song mâu thuẫn mà ông nêu ra ở đây chỉ là
mâu thuẫn của “ý niệm tuyệt đối” chứ không phải của thế giới vật chất
Như vậy, do bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm, hạn chế về mặt nhận thức, bởi lợi ích giai cấp, các quan niệm về mâu thuẫn trước Mác không thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các mặt đối lập và do đó không không thể tạo ra mâu thuẫn
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn và quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Triết học cổ điển Đức đã tạo tiền đề cơ sở lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Nó là sự kết tinh những giá trị cao quý của tư duy triết học, văn hóa, lịch sử nhân loại Sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu lịch sử, phù hợp với những tiền đề kinh tế - xã hội cũng như các tiền đề về lý luận và khoa học
tự nhiên lúc bấy giờ Nhận thức duy vật biện chứng về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác là nhận thức đúng đắn nhất, nó đã phát triển thành một quy luật Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập - hạt nhân của phép biện chứng
Trang 8Phép biện chứng duy vật khẳng định: “Mọi sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong” [3, tr.156] Mỗi sự vật và hiện tượng đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính và khuynh hướng đối lập nhau Những mặt này đối lập với nhau nhưng lại liên hệ ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn Ở đây, nội dung chủ yếu của mâu thuẫn không phải ở sự đối lập của các mặt, các thuộc tính, những tính quy định mà là sự liên hệ, tác động lẫn nhau một cách thường xuyên giữa các mặt,các thuộc tính, tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau trong cùng một sự vật hiện tượng Tính chất của sự vật do cả hai mặt đối lập quy định, nhưng cơ bản do mặt chủ yếu, mặt chiếm ưu thế quyết định
Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tượng khách quan mà còn là một hiện tượng phổ biến Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy của con người Không có sự vật nào, hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và không có giai đoạn nào trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng lại không có mâu thuẫn Mâu thuẫn này mất đi, mâu thuẫn khác lại hình thành Để chứng minh tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn, Ăngghen chỉ ra rằng, ngay hình thức đơn giản nhất của vật chất -vận động cơ học, đã là một mâu thuẫn Sở dĩ sự di động một cách máy móc và đơn giản ấy có thể thực hiện được chỉ là vì mọi vật trong cùng một lúc vừa là ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa là ở trong cùng một chỗ duy nhất lại vừa không
ở chỗ đó Tất nhiên sự tồn tại của vật chất ở những hình thức vận động cao hơn lại càng bao hàm mâu thuẫn
Trong lĩnh vực tư duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng khiếu nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận thức Mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp
đó rút ra đối với chúng ta, thực tế cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận
Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất.
Trang 9Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùng một
sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó Tuy nhiên, không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật hiện tượng có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, nhưng chỉ có những mặt đối lập có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hóa lẫn nhau (Sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật) mới tạo thành mâu thuẫn
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập được thể hiện ở chỗ chúng nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không tồn tại của sự vật Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập
là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào Sự thống nhất này chỉ mang tính tương đối, nó thực hiện chức năng duy trì tạm thời sự cân bằng, ổn định tương đối của sự vật
Sự thống nhất của các mặt đối lập được biểu hiện như một thời điểm đặc biệt xuất hiện trong quá trình phát triển mâu thuẫn, ở đó, trong tương quan so sánh lực lượng giữa các mặt là ngang bằng nhau Nó là một trường hợp đặc biệt
về sự đối lập giữa các mặt vì giữa chúng có những yếu tố nào đó giống nhau, đồng nhất với nhau Đây chính là cơ sở để các mặt đối lập có thể chuyển hóa được cho nhau Do đó khi phân tích mọi sự vật hiện tượng nói chung, nghiên cứu các vấn đề xã hội nói riêng, trên quan điểm của triết học ta nhìn nhận sự thống nhất, song không tuyệt đối hóa nó, mà phải phân tích tìm ra sự khác nhau,
sự đối lập trong sự thống nhất ấy Bản chất nội dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: Thống nhất của cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập
Đấu tranh các mặt đối lập là tuyệt đối là nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển.
Trang 10Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hóa giữa chúng Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một
sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau
mà điều chỉnh chuyển hóa lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân
sự vật Sự đấu tranh chuyển hóa, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập được biểu hiện như một quá trình các mặt đối lập lấy nhau làm đối tượng để thâm nhập vào nhau làm cho cả mặt này lẫn mặt kia luôn vận động, biến đổi
Ví dụ: Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể
cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu
cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của một mâu thuẫn
Mặt khác, sự đấu tranh của các mặt đối lập được biểu hiện như một quá trình phá vỡ sự thống nhất vốn có giữa các mặt đối lập do việc tăng cường xu hướng biến đổi trái ngược nhau giữa chúng Nó diễn ra trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, từ khi ra đời cho đến khi kết thúc Đồng thời nó cũng được biểu hiện như là phương thức giải quyết mâu thuẫn của sự vật hiện tượng bằng việc các mặt đối lập bài trừ và chuyển hóa cho nhau Mục đích của đấu tranh không phải để duy trì sự thống nhất cũ với sự ngang bằng của các lực lượng đối lập mà
là xóa bỏ sự thống nhất ấy, thiết lập một sự thống nhất mới của các mặt đối lập mới Do đó trong quá trình đấu tranh, tương quan so sánh lực lượng của các mặt đối lập luôn thay đổi, đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện xác