Câu 1: cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh Câu 2: Luận điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa? Câu 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về động lực của CNXH ở Việt Nam? Câu 4: Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất và vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam? Câu 5: Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức?
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH PHẦN 1
Câu 1: cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh
Câu 2: Luận điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi
của vấn đề dân tộc thuộc địa?
Câu 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về động lực của CNXH ở Việt Nam?
Câu 4: Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất và vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam?
Câu 5: Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức?
CÂU 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Mở bài: (sử dụng được cho tất cả các câu)
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới” (UNESCO – 1987), là “một trong một trăm nhân vật ảnh hưởng nhất thế kỷ XX” (TIME – 2005) Người là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam Điếu văn của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam – 1969 viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”
Hồ Chủ tịch đã để lại cho dân tộc và nhân loại một di sản đồ sộ, vô cùng quý báu Đó
là cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Trong kho tàng
ấy, Tư tưởng Hồ Chí Minh giữ một vị trí đặc biệt Cùng với Chủ nghĩa Mác – Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành“kim chỉ nam cho hành động” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đó là thứ vũ khí lý luận vô cùng sắc bén, là ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho dân tộc Việt Nam tiến về phía trước
Thân bài:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Trang 21 Cơ sở thực tiễn:
Thứ nhất, thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Một là, CNTB trở thành CNĐQ, CNTB xác lâp ̣ sự thống trị trên phạm vi thế giới.
Lúc này không chỉ dừng lại ở sự áp bức giai cấp trong chính quốc mà đã mở rộng ra sự
áp bức đối với các dân tộc khác Vì thế cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ còn là hành động riêng lẻ nữa mà trở thành cuộc đấu tranh chung của dân tộc thuộc địa chống đế quốc
Hai là, Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ và sự ra đời
của Quốc tế Cộng sản (ngày 2/3/1919)
Ba là, Sự thắng lợi của CMT10 Nga, CNXH trở thành hiện thực trên thế giới, đánh
dấu bước chuyển biến lớn của thời đại Thời đại quá độ lên CNXH và giúp Hồ Chí Minh nhận ra một chân lý của thời đại “Chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”
Thứ hai, thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Một là, Thời kì này đất nước ta đang rơi vào tình trạng bất ổn về chính trị và giặc cỏ
xâm lược - chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối ngoại, bảo thủ, phản động… không cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới Không phát huy được thế mạnh của dân tộc và đất nước, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Hai là, Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858), xã hội Việt Nam trở thành xã
hội thực dân nửa phong kiến, xuất hiện 2 mâu thuẫn cơ bản: Toàn thể dân tộc Việt Nam >< Thực dân Pháp và tay sai phong kiến (mâu thuẫn dân tộc); Toàn dân Việt Nam (nông dân) >< Địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai cấp)
Ba là, Nhiều phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đã nổi dậy nhưng đều bị
thất bại, như sự thất bại của phong trào Cần Vương theo hệ tư tưởng phong kiến, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục theo hệ tư tưởng tư sản đã giúp Nguyễn
Ái Quốc nhận rõ chỗ hạn chế của các phong trào đó là chưa biết tổ chức, chưa có tổ chức Vì thế đã thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam
2 Cơ sở lý luận:
Thứ nhất, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc: trước hết là chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa
Trang 3yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đi tìm đường cứu nước, cứu dân
Thứ hai, đó là tinh hoa văn hoá nhân loại:
Tinh hoa văn hóa phương Đông:Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn
chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Đông Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh được theo học chữ Nho với các thầy vốn là những nhà Nho yêu nước Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng tình cảm của Người không phải là những giáo điều “tam cương”,
“ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà tinh thần “nhân nghĩa”, đạo
“tu thân”, sự ham học hỏi, đức “khiêm tốn”, tính “hoà nhã”, cách đối nhân xử thế “có
lý, có tình” Những mệnh đề “trung hiếu”, “nhân nghĩa”, của các nhà hiền triết phương Đông được Hồ Chí Minh hết sức trân trọng
TINH HOA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY: Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin,
Hồ Chí Minh đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt là tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Người đã vận dụng và phát triển các trào lưu tư tưởng học thuyết ấy lên một trình độ mới phù hợp với dân tộc và thời đại mới Như vậy, trong quá trình hình thành phát triển tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây, nâng lên một trình độ mới trên cơ sở phương pháp luận mácxít - lêninnít
Thứ ba, Chủ nghĩa Mác - Lênin: từ khi rời Tổ quốc (1911) cho đến năm 1917, Hồ
Chí Minh đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều nước tư bản đế quốc Trong khoảng thời gian đó, Hồ Chí Minh được bổ sung thêm những nhận thức mới về những gì ẩn dấu đằng sau các từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái mà vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên Người
đã nghe Khoảng cuối năm 1917, khi trở lại Pari, Hồ Chí Minh đã làm quen với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội của nước Pháp và nhiều nước trên thế giới Việc Hồ Chí Minh tiếp thu bản Luận cương của Lênin tháng 7-1920 và trở thành người cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong tư tưởng của Người Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá
Trang 4phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc cách mạng một cách khoa học; cùng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để đề ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc đứng đắn Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận cơ sở chủ yếu nhất của sự hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Thứ nhất, phẩm chất Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh có lý tưởng cao cả và hoài bão lớn
cứu dân, cứu nước thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực để đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới Mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, sự tác động mạnh mẽ của thời đại và
sự nhận thức đúng đắn về thời đại đã tạo điều kiện để Hồ Chí Minh hoạt động có hiệu quả cho dân tộc và nhân loại Có được điều đó là nhờ vào nhân cách, phẩm chất, bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo giàu tính phê phán, đổi mới cách mạng và tài năng trí tuệ siêu việt của Hồ Chí Minh Đặc biệt Hồ Chí Minh còn là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân
Thứ hai là tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận Hồ Chí Minh
là người có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, phi thường Phẩm chất, tài
năng đó cũng được biểu hiện ở bản lĩnh kiên định, luôn tin vào nhân dân; khiêm tốn, bình dị, ham học hỏi; nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã khám phá ra lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc
và sáng tạo về cách mạng Việt Nam, kiên trì chân lý và định ra các quyết sách đúng đắn, sáng tạo để đưa cách mạng đến thắng lợi
Kết bài:
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan
và chủ quan, của truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Người đã nhận thức và hiểu được các quy luật vận động và phát triển của phong trào cách mạng trong nước và thế giới, từ đó Người tiếp cận với ánh sáng Chủ nghĩa Mác – Lênin, sáng lập nên Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Người đi từ người yêu nước chân chính đến người cộng sản Trong quá trình ấy, các tư tưởng cơ bản về cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh hình thành và phát triển Những tư tưởng ấy được chính Người vận dụng và rèn rũa, trong đó có rất nhiều điểm sáng tạo với Chủ nghĩa Mác Lênin Và ngày nay, sau gần một thế kỷ, những tư tưởng ấy vẫn sáng chói và soi đường cho chúng ta bước tiếp Tuy nhiên, sự
Trang 5phát triển biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ đồng thời bổ sung phát triển thêm những nội dung tư tưởng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang thay đổi từng ngày từng giờ./
Câu 2: Luận điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn
đề dân tộc thuộc địa?
BÀI LÀM:
MỞ BÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng
sâu sắc Trong đó chủ yếu nghiên cứu đề cập đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, nhấn mạnh sự kết hợp vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác Nhưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc có những nội dung cần được nhấn mạnh hơn, nhất là thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa mà trong đó độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi nhất của vấn đề dân tộc thuộc địa
THÂN BÀI:
1/ Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người :
+ Lý luận về quyền con người: Quyền con người là một trong những vấn đề có lịch
sử lâu đời về cả phương diện thực tiễn cũng như lý luận Đó luôn là mối quan tâm của nhân loại Mỗi thời kỳ phát triển của quyền con người đều gắn liền với thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, các cuộc cách mạng - xã hội Điều đó, phản ảnh quá trình
nhân loại tự giải phóng mình, do vậy vấn đề này bao giờ cũng là điểm nóng của cuộc
đấu tranh giai cấp, đặc biệt trên lĩnh vực đấu tranh tư tưởng
+ Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người ở những
phương diện hết sức mới mẻ,xuất phát từ thực tiễn và truyền thống của dân tộc Việt Nam đã thôi thúc Người đi tìm chân lý Người đã kế thừa những nội dung hợp lý của
tư tưởng nhân quyền trước đó, để đưa ra những luận điểm mới mẻ sâu sắc và toàn diện
về quyền con người, phù hợp đặc điểm của thời đại mới và tình hình cụ thể ở Việt Nam
-> Như vậy, từ những quyền cơ bản của con người được mở rộng thành quyền dân tộc, quyền con người trừu tượng thành quyền của người dân được sống trong độc lập, tự
do, từ quyền dân tộc độc lập, được phát triển thành quyền độc lập của các dân tộc Dựa trên cơ sở pháp lý về quyền “tự nhiên” đến chỗ khẳng định quyền đấu tranh “chống áp bức” của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc
Tiểu kết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bắt nguồn sâu xa từ lịch sử dân
tộc và thực tiễn của đất nước, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng nhân quyền tiến bộ của các nước phương Đông cũng như các nước phương Tây Đặc biệt là vận dụng có sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin Đây là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhân quyền
Trang 6- Nội dung về vấn đề độc lập dân tộc
+ Độc lập tự do là quyền tự nhiên, thiêng liêng, vô cùng quý giá và bất khả xâm phạm của dân tộc Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc việt nam từ ngàn xưa
gắn liền với truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm Điều đó nói lên một khát khao lớn lao cả dân tộc ta đó là luôn mong muốn có được một nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Trong “Bản Yêu sách tám điểm” 1919, Nguyễn Ái Quốc đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Nội dung cốt lõi trong Cương
lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 là: độc lập, tự do cho dân tộc Kính cáo đồng bào 5/1941, Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng là cao hơn hết thảy” Tháng 8 năm 1945, Người khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập dân tộc”.Trong “Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Người long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng
tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy” v.v
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập lập phải gắn liền với tự do của nhân dân Vào tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 thành công, nước nhà được độc lập với Hồ Chí Minh nói:
“Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa
lý gì” Suốt đời Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành” Người nói: “Chúng ta đã hy sinh, đã giành được độc lập, dân chỉ thấy giá trị của độc lập khi ăn đủ no, mặc đủ ấm”
+ Độc lập dân tộc là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là phải độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các lĩnh vực Đó là độc lập quyền tự quyết về ngoại giao, quân đội,tài chính Mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia do dân tộc đó tự quyết định Người khẳng định:
Nước Việt Nam là của người Việt Nam, do dân tộc Việt Nam quyết định, nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài Người đã thay mặt Chính phủ ký với đại diện Chính Phủ Pháp Hiệp định Sơ Bộ ngày 6/3/1946, theo đó
“Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do
có chính phủ của mình, nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình.”
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân tộc ta luôn đứng trước âm mưu chia cắt đất nước của kẻ thù.Thực dân pháp đã chia nước ta thành ba kỳ, mỗi kỳ có chế độ riêng Tuy nhiên, Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước nhà là một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, là con đường sống của nhân dân Việt Nam Đó là một quan điểm lớn của Hồ Chí Minh Người nói trong bức thư gửi đồng bào Nam bộ 1946:
“Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân
lý ấy không bao giờ thay đổi” Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 được ký kết, đất nước
Trang 7việt nam tạm thời bị chia làm 2 miền, Hồ chí minh tiếp tục kiên trì đấu tranh để thống nhất tổ quốc Tháng 2 năm 1958, Người khẳng định “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”
Tóm lại, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là lý tưởng mà còn là lẽ
sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới
KẾT BÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc không theo một khuôn mẫu giáo
điều, mà được hình thành và phát triển gắn liền với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, trong đó có phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam, nhằm xoá bỏ ách trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, hình thành nên nhà nước dân tộc độc lập và tiếp tục phát triển theo sự lựa chọn của mỗi quốc gia dân tộc, phản ánh chân lý lớn nhất của thời đại là “không có gì quý hơn độc lập tự do” Riêng với dân tộc Việt Nam, thì sự phát triển đó theo phương hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh là: “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp cách mạng thế giới”
Câu 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về động lực của CNXH ở Việt Nam?
BÀI LÀM MỞ BÀI:
Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là một bộ phận hết sức quan trọng Nhất quán với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ ách thống trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể xã hội loài người.Theo quan điểm của Người,để tiến lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, bên cạnh việc đề ra mục tiêu thì cần phải có nguồn động lực vững chắc Đó là:
THÂN BÀI:
Để thực hiện mục tiêu xây dựng thành công CNXH, cần phát hiện những động lực và những điều kiện bảo đảm cho động lực đó thực sự trở thành sức mạnh thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là những động lực bên trong, nguồn nội lực của chủ nghĩa xã hội Theo Hồ Chí Minh, những động lực đó biểu hiện ở các phương diện: vật chất và tinh thần; nội sinh và ngoại sinh Người khẳng định, động lực quan trọng và quyết định nhất là con người, là nhân dân lao động, nòng cốt là công - nông - tri thức
Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến lợi ích chính đáng, thiết thân của họ: đồng
Trang 8thời chăm lo bồi dưỡng sức dân Đó là lợi ích của nhân dân và từng cá nhân.
1 Động lực bên trong: Đó là nguồn nội lực thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn thiết thực và quý báu
a.Động lực tinh thần:
- Người khẳng định nhân tố, động lực quan trọng và quyết định nhất là con người
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Xem con người là động lực của chủ nghĩa xã hội, hơn nữa là động lực quan
trọng nhất, Hồ Chí Minh đã nhận thấy ở động lực này có sự kết hợp giữa cá nhân (sức mạnh cá thể) với xã hội (sức mạnh cộng đồng) Người cho rằng, không có chế độ xã hội nào coi trọng lợi ích chính đáng của cá nhân con người bằng chế độ xã hội chủ nghĩa Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự đoàn kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân đó là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa
xã hội Đó là những con mang những đặc điểm:
+ Có tư tưởng xã hội chủ nghĩa: có ý thức làm chủ, có tinh thần tập thể, có tư tưởng
mình vì mọi người, mọi người vì mình, có tinh thần dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết vươn lên hàng đầu, có tinh thần tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
+ Có đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa: trung với nước, hiếu với dân, yêu thương
con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Có tinh thần quốc tế trong sáng, có lối sống lành mạnh, trong sáng
+ Có tác phong xã hội chủ nghĩa: làm việc có kế hoạch, có biện pháp, có quyết tâm,
có tổ chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất, chất lượng hiệu quả: lao động quên mình, không sợ khó, sợ khổ, làm việc vì lợi ích của xã hội, tập thể và bản thân mình
+ Có năng lực để làm chủ: bản thân, gia đình và công việc mình đảm nhiệm, đủ sức
khỏe và tư cách tham gia làm chủ nhà nước và xã hội, thực hiện có kết quả quyền công dân: phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học - công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ để làm chủ
Ngoài những tiêu chuẩn chung nêu trên Hồ Chí Minh còn nêu những tiêu chuẩn cụ thể cho từng giới, từng ngành Đảng ta tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh đã vạch ra một cách toàn diện nội dung của con người mới Việt Nam trong tất cả các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Tổng hòa các quan hệ xã hội với những tiêu chuẩn đã được xác định, sẽ
Trang 9tạo ra cái bản chất của con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Do đó, phải lấy con người làm động lực quan trọng và quyết định “chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” Nòng cốt là công – nông – trí thức Phát huy động lực con người trên cả
hai phương diện: cộng đồng và cá nhân Phát huy động lực của cộng đồng là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết - động lực chủ yếu để phát triển đất nước Phát huy sức mạnh của cá nhân trên cơ sở kích thích hành động gắn liền với lợi ích vật chất chính
đáng của người lao động; “phải chăm nom đến chỗ ăn, chỗ ở, việc làm của nhân dân”.
“Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi”
- Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội Trong mỗi khúc quanh của lịch sử,mỗi khi bị giặc ngoại xâm,truyền thống yêu
nước của người Việt Nam lại được nêu cao hơn bao giờ hết,khi đó,triệu người như một tạo thành một khối đại đoàn kết toàn dân để chống lại áp bức,bóc lột,bảo vệ nền độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc.Trong thời kỳ kháng chiến hay quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như hôm nay,sức lao động và sáng tạo của nhân dân đã tạo nên nguồn của cải vật chất to lớn cho chủ nghĩa xã hội,góp phần ổn định kinh tế,phù hợp với đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước
b Động lực kinh tế:
Cùng với động lực tinh thần, Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế Phát huy
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam là một nước nông nghiệp
để mà phát triển khối liên minh công nông nghiệp,trong đó phát huy thế mạnh của nông nghiệp,từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa để tạo ra khối liên minh công nông hiện đại Đồng thời áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật tiên tiến trên
thế giới vào đổi mới sản xuất và quy trình công nghệ Đúng như lời Mác nói “xây dựng chủ nghĩa xã hội về thực chất là có tính chất kinh tế.”
c Động lực văn hóa-xã hội: Cùng với động lực kinh tế, Hồ Chí Minh cũng quan tâm
tới văn hóa, khoa học, giáo dục coi đó là động lực tinh thần không thể thiếu của chủ nghĩa xã hội Những giá trị văn hoá truyền thống chính là nguồn lực tinh thần, nền tảng tinh thần để chúng ta xây dựng đất nước trong điều kiện mới Những giá trị đó khi được phát huy và nội tâm hoá thành sức mạnh tinh thần của mỗi người dân thì nó
Trang 10không chỉ là động lực kích thích họ trong lao động sáng tạo, xây dựng và bảo vệ đất nước mà đồng thời, còn góp phần tạo nên bản sắc dân tộc trong điều kiện toàn cầu hoá Tất cả những nhân tố động lực nêu trên là những nguồn lực tiềm tàng của sự phát triển Làm thế nào để những khả năng, năng lực tiềm tàng đó trở thành sức mạnh và không ngừng phát triển Hồ Chí Minh nhận thấy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Đã là hạt nhân trong hệ động lực của chủ nghĩa xã hội
2 Động lực bên ngoài
Một trong những động lực bên ngoài là sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
- Trong lịch sử,nhờ kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại,chúng ta đã giành chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ,sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và sự cổ vũ của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới góp phần khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến và đưa cuộc kháng chiến của ta mau chóng đến thắng lợi cuối cùng
- Chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa vô sản quốc tế trong sáng góp phần làm giàu thêm lý luận Mác Lê nin, cổ vũ phong trào cộng sản công nhân quốc tế,phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa,gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới
- Phải tích cực tiếp theo các thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới để đổi mới công nghệ và tăng cường sức sản xuất lao động,rút ngắn thời gian phát triển kinh tế và khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới
3.Mối quan hệ biện chứng của động lực với kìm hãm và mối quan hệ biện chứng bên trong động lực:
- Động lực bên trong là yếu tố quyết định nhất,yếu tố bên ngoài rất quan trọng cho nên Người nêu cao tinh thần độc lập,tự chủ,tự lực cánh sinh,dựa vào sức mình là chính,đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của bạn bè quốc tế để tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công trên cơ sở tôn trọng quyền dân tộc tự quyết,chung sống hòa bình,hữu nghị
- Trong quá trình thúc đẩy động lực,cần phải đề phòng những yếu tố kìm hãm,triệt tiêu