22 TRƯỜNG NGUYỄN VĂN A MSSV LỚP TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỌC PHÂN TÍCH VỀ XU HƯỚNG TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM Học kỳ I – Năm học 2021 2020 2022 MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 1 Khái quát về Chính sách thương mại quốc tế và Tự do hóa thương mại quốc tế 2 1 1 Thương mại quốc tế 2 1 2 Rào cản trong thương mại quốc tế 2 1 3 Đặc điểm của thương mại quốc tế 2 1 3 1 Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại 3 1 3 2 Mục đích của ngườ.
Trang 1NGUYỄN VĂN A MSSV:
Trang 21 Khái quát về Chính sách thương mại quốc tế và Tự do hóa thương mại quốc
tế… 2
1.1 Thương mại quốc tế 2
1.2 Rào cản trong thương mại quốc tế 2
1.3 Đặc điểm của thương mại quốc tế 2
1.3.1 Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại 3
1.3.2 Mục đích của người thực hiện thương mại hóa quốc tế 4
1.3.3 Vai trò thương mại quốc tế 4
1.4 Tự do hóa thương mại 5
2 Phân tích về xu hướng tự do hóa thương mại trong chính sách thương mại quốc tế 8
2.1 Thuận lợi và khó khăn trong chính sách tự do hóa thương mại quốc tế… 8
2.2 Xu hướng phát tiển tự do hóa thương mại quốc tế 11
2.3 Một số vấn đề trong chính sách tự do hóa thương mại quốc tế cần quan tâm khi tự do hóa thương mại quốc tế 12
PHẦN 3 GIẢI PHÁP KẾT LUẬN……….……….15
3.1 Giải pháp 15
3.2 Kết luận 21
Tài liệu tham khảo……… …… 21
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia bao gồm hệ thống các quanđiểm, nguyên tắc và công cụ để thực hiện thương mại quốc tế nhằm đạt được cácmục tiêu kinh tế vĩ mô đã định Thế giới hiện nay tồn tại hai quan điểm song song
và kết hợp về thương mại quốc tế, đó là quan điểm tự do với các nguyên tắc củathương mại quốc tế tự do và thương mại quốc tế bảo hộ với các công cụ bảo hộ.Quan điểm thương mại quốc tế tự do được coi là xu hướng chính của thương mạiquốc tế, bởi những lợi ích hướng đến người tiêu dùng khi hàng hóa và dịch vụ được
tự do di chuyển giữa các quốc gia, giữa các khu vực (không còn rào cản và thuếbằng 0) và các Chính phủ gần như không can thiệp vào thị trường hay sản xuất hànghóa trong nước (không có tài trợ, ưu đãi hay phân biệt đối xử) Các liên kết kinh tếhiện nay như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Hiệphội các quốc gia khu vực Đông Nam Á (ASEAN),… đều coi tự do thương mại làmột nguyên tắc bắt buộc cho các thành viên tham gia
Xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay, các quốc gia trên thế giớihiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng tham gia ngày càngnhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnhvực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm Tùythuộc vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước trong từng giai đoạn, các hàngrào thương mại vẫn được duy trì ở mức độ nhất định nhằm bảo vệ nền sản xuấttrong nước hoặc các mục đích công cộng Điều này được thể hiện rõ nét trong chínhsách thương mại của các quốc gia, bao gồm cả các quốc gia đang phát triển và cácquốc gia phát triển Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Phân tích về xu hướng tự do
hóa thương mại trong chính sách thương mại quốc tế - Liên hệ với Việt Nam”
làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
1 Khái quát về Chính sách thương mại quốc tế và Tự
do hóa thương mại quốc tế
1.1 Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủthể thuộc các quốc gia và thị trường khác nhau trên thế giới chủ yếu thông qua hìnhthức mua bán, dùng tiền tệ làm vật môi giới và dựa trên nguyên tắc trao đổi nganggiá Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thương mại quốc tế bao gồmthương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại quyền sở hữu trí tuệ
Một số nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế bao gồm: Nguyên tắckhông phân biệt đối xử gồm chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và và chế độ đãi ngộ quốcgia; Nguyên tắc tự do thương mại (nguyên tắc mở cửa thị trường) và tạo ra môitrường cạnh tranh ngày càng bình đẳng; Nguyên tắc minh bạch ổn định trongthương mại; và Nguyên tắc dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triểnnhững điều kiện thuận lợi hơn
1.2 Rào cản trong thương mại quốc tế
Rào cản trong chính sách thương mại quốc tế bao gồm rào cản thuế quan vàrào cản phi thuế quan Trong đó, thuế quan là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóanhập khẩu, xuất khẩu và vận chuyển quá cảnh qua lãnh thổ hải quan của quốc gia.Rào cản phi thuế quan bao gồm hạn ngạch, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấpxuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, chính sách chống bán phá giá, các biệnpháp hành chính
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, xuhướng chung của các quốc gia là cắt giảm hàng rào thuế quan và dỡ bỏ các công cụphi thuế quan, trong đó, thuế quan sẽ tiếp tục được đàm phán, cắt bỏ dần đến 0%.Tuy nhiên, vì những lý do nhất định, các nước có thể dựng lên những hàng rào
“mới” đối với thương mại quốc tế [3, tr.129]1
1.3 Đặc điểm của thương mại quốc tế
1 Đinh Xuân Lý (2016), Quá trình Việt Nam hội nhập khu vực châu á - Thái Bình Dương theo đường lối đổi mới của
Đảng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
Trang 5Hoạt động thương mại là một trong những hoạt động kinh doanh, vì vậy hoạtđộng thương mại có những đặc điểm sau đây:
1.3.1 Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại là quan hệ giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên
là thương nhân, người thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại có tính chấtnghề nghiệp
Thương nhân, là khái niệm dùng để chỉ những chủ thể thực hiện hoạt độngthương mại gồm tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp, cá nhân họatđộng thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có thực hiện việc đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật Trong đó, tổ chức kinh tế được hiểu là những tổchức mà được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật, thực hiện hoạt độngđầu tư kinh doanh thu lợi nhuận, thường được thể hiện thông các hình thái nhưdoanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
Việc khẳng định một trong các bên thực hiện hoạt động thương mại làthương nhân là bởi, thương nhân là chủ thể được quyền hoạt động thương mại dướitất cả những hình thức, phương thức mà pháp luật không cấm, trên các lĩnh vực,ngành nghề theo quy định của pháp luật Đồng thời, trong quy định tại Điều 1, vàĐiều 2 Luật thương mại năm 2005 có quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh và đốitượng áp dụng thì có xác định là áp dụng đối với thương nhân hoạt động thươngmại trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng như các tổ chức, cánhân hoạt động thương mại khác mà không được xác định là thương nhân Ngoài ra,trong quy định của Luật thương mại năm 2005 quy đinh về một trong các nguyêntắc cơ bản trong hoạt động thương mại cũng xác định về nguyên tắc bình đẳng trướcpháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại Do vậy, có thể khẳng địnhmột bên trong hoạt động thương mại được xác định là thương nhân
Bên còn lại trong hoạt động thương mại có thể được xác định là thươngnhân, nhưng cũng có thể được xác định không phải là thương nhân như cá nhânhoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh đượcđiều chỉnh bởi Nghị định 39/2007/NĐ-CP, ví dụ như người buôn bán vặt, buôn bánquà vặt, buôn chuyến…
Trang 6Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhânhoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra, tham gia vào các hoạt động thương mại còn có các cá nhân hoạtđộng thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh(Không phải là thương nhân theo Luật thương mại)
1.3.2 Mục đích của người thực hiện thương mại hóa quốc tế
Mục đích chính của người thực hiện hoạt động thương mại là lợi nhuận, sinhlời trước tiên được hiểu là một khuôn khổ thiết chế pháp luật quốc tế, là nơi đượctạo lập để chính phủ các nước có thể đến đó để trao đổi và thỏa thuận với nhaunhững vấn đề chung của hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toànthế giới, cũng tức là thông qua tự do hoá thương mại và một hệ thống pháp lý chung
để làm căn cứ giúp các thành viên hoạch định và thực hiện chính sách thương mạinhằm mở rộng sản xuất, thương mại hàng hóa và dịch vụ từ đó nâng cao mức sống,tạo thêm việc làm của nhân dân các nước thành viên
1.3.3 Vai trò thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia Nócho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loạiphong phú hơn mức ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiệnđóng cửa nền kinh tế của mỗi nước
Bên cạnh đó, thương mại quốc tế có sự tác động qua lại, buộc mỗi quốc giaphải thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với ngành nghề, vùng miền và thành phần kinh
tế với đặc thù và lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia
Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mua bángiữa các quốc gia mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân cônglao động quốc tế thông qua chuỗi cung ứng quốc tế Vì vậy, thương mại quốc tếđược nhìn nhận như một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc giatrên cơ sở lựa chọn tối ưu phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế
Để quản lý hoạt động thương mại quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều xâydựng, hoạch định và ban hành chính sách thương mại quốc tế phù hợp với trình độphát triển và đặc thù của mỗi nền kinh tế
Trang 7Chính sách thương mại quốc tế được hiểu là những qui định của chính phủnhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, được thiết lập thông qua việc vậndụng các công cụ (thuế quan và phi thuế quan) tác động tới các hoạt động xuất khẩu
và nhập khẩu
Công cụ thuế quan thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp Thuếquan trực tiếp là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu Các loạithuế này bao gồm thuế theo số lượng, thuế giá trị và thuế hỗn hợp Thuế gián tiếptác động tới thương mại như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặcbiệt Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu,hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các yêu càu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuấtkhẩu, qui định về mua sắm của chính phủ, hàng rào kỹ thuật trong thương mại(TBT), biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật, qui định về môitrường, biện pháp phòng vệ thương mại
1.4 Tự do hóa thương mại
Tự do hóa thương mại là sự “nới lỏng”, “mềm hóa”, “giảm thiểu” sự canthiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế Xu hướng này bắtnguồn từ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới Một số đặc điểm cơ bản làlực lượng sản xuất vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công laođộng quốc tế về chiều rộng và chiều sâu, vai trò lớn mạnh của các công ty đa quốcgia, và các quốc gia chuyển sang mô hình “kinh tế mở” với việc khai thác ngàycàng triệt để lợi ích so sánh của nền kinh tế mỗi nước [4, tr.189]2
Nội dung của tự do hóa thương mại là nhà nước áp dụng các biện pháp cầnthiết để giảm thiểu các trở ngại trong hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạođiều kiện cho phát triển các hoạt động thương mại quốc tế cả về chiều rộng lẫnchiều sâu Mục tiêu của tự do hóa thương mại là mở rộng quy mô xuất khẩu và tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu
Biện pháp thực hiện tự do hóa thương mại là điều chỉnh theo hướng nới lỏngdần với các bước đi phù hợp trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phươnggiữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong
2 Vũ Văn Phúc (2017), Hội nhập kinh tế quốc tế 30 năm nhìn lại, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
Trang 8quan hệ thương mại quốc tế Thực chất là cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ các hàng ràophi thuế quan đã và đang được đáp dụng trong buôn bán quốc tế.
Một số ưu điểm của tự do hóa thương mại là Môi trường chính sách, phápluật về kinh tế trong nước được cải thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế Thúc đẩytăng trưởng kinh tế do tăng trưởng xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài gia tăng.Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia theo hướng hợp lý hơn.Cán cân xuất nhập khẩu được cải thiện và thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng,tránh sự phụ thuộc quá lớn vào một quốc gia Năng lực sản xuất trong nước tăng lên
do quá trình chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý Hàng hóa được lưu thôngthuận lợi hơn do các trở ngại đối với thương mại quốc tế được loại bỏ Do đó, thịtrường hàng hóa, dịch vụ trong nước phong phú hơn, chất lượng và giá cả hợp lýhơn Các nhà kinh doanh dễ dàng xâm nhập, phát triển và mở rộng thị trường mới;hoặc có cơ hội đầu tư ra thị trường nước ngoài Đồng thời, quan hệ đối tác thươngmại hàng hóa và đối tác đầu tư được mở rộng
Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cũng có một số nhược điểm Môi trườngsản xuất, kinh doanh có sự cạnh tranh gay gắt Do đó, nếu năng lực quản lý, sảnxuất và kinh doanh yếu kém thì dễ dẫn đến khủng hoảng, nguy cơ phá sản, bị thôntính hoặc bị lệ thuộc, từ đó làm gia tăng các vấn đề xã hội, đặc biệt là giải quyếtviệc làm cho người lao động Nếu một nền kinh tế thiếu chủ động trong quá trình đadạng hóa các lĩnh vực và chỉ tập trung vào thế mạnh ở một số lĩnh vực nhất định,đặc biệt là các ngành khai thác tài nguyên và giá nhân công rẻ thì sẽ dễ bị phụ thuộcvào các ngành công nghiệp này Ví dụ, nền kinh tế của các quốc gia dầu mỏ ởTrung Đông phụ thuộc rất lớn vào duy nhất một sản phẩm là dầu mỏ nên sẽ bị ảnhhưởng lớn khi giá dầu thế giới biến động Thương mại tự do kích thích các dòngvốn đầu tư nước ngoài vào các quốc gia đang cần vốn Tuy nhiên, nếu xảy ra khủnghoảng kinh tế thì sự tháo chạy của nguồn vốn này ra khỏi quốc gia là rất nhanhchóng, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước
Nền kinh tế trong nước dễ bị tác động khi thế giới xảy ra khủng hoảng tùythuộc vào độ mở của nền kinh tế quốc gia đó
Nguyên nhân:
Trang 9Quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới ngày càng tăng.
Sự phân công lao động quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu
Vai trò của các công ty đa quốc gia ngày càng tăng
Tự do hóa thương mại phù hợp với xu thế và phát triển chung của nên vănminh nhân loại [6, tr.76]3
* Liên hệ với Việt Nam xu hướng tự do hóa thương mại
Trong ASEAN Free Trade Area (AFTA): Việt Nam gia nhập AFTA ngày25/7/2005 và tuy nhiên việc cắt giảm thuế quan được tiến hành năm 1996 phấn đấu
về mức thuế đưa ra 0-5% và năm 2005 đối với các mặt hàng nhập khẩu ASEAN đạt100% số dong thuế ở mức 0% vào năm 2005
Năm 2010 Việt Nam áp dụng mức thuế suất 0-5% cho khoảng 99% số dòngthuế cố thuế trong đó 57% số dòng thuế có mức thuế Common EffectivePreferential Tariff - CEPT (CEPT) là 0% Năm 2010 cũng được xem là năm quantrọng trong quá trình tiến tới một trường học tự lưu chuyển hàng hóa vì các nướcASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) đãhoàn thành việc xóa bỏ hàng hóa thuế quan
Trong WTO: Việt Nam sẽ cắt giảm thuế suất khoảng 3800 dòng thuế (chiếm34,5% số dòng biểu thuế) ràng buộc theo mức thuế trần cao hơn mức thuế suất hiệnhành với 3170 dòng thuế sử dụng 30% chủ yếu là các mặt hàng xăng dầu, kim loại,hóa chất, một số phương tiện vận tải
Một số mặt hàng có mức thuế suất cao sẽ được cắt giảm khi gia nhập VD:Dệt may, cá và sản phẩm, gỗ và giấy, máy móc thiết bị Đối với nông nghiệp: quânđội bình quân là 25,2% vào thời điểm nhập và 21% sẽ là cuối cùng cắt giảm Trọngcông nghiệp: Cam kết quân bình vào thời điểm nhập là 16,1% và mức cuối cắt giảm
là 12,6% So sánh với Most favoured nation (MFN), bình quân của công ty hiện nay
là 16,6% mức cắt giảm sẽ là 23,9% [5, tr.145]4
2 Phân tích về xu hướng tự do hóa thương mại trong chính sách thương mại quốc tế
3 Trần Văn Viễn (2021), Một số vấn đề về toàn cầu hóa kinh tế, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 70/2021.
4 Đinh Văn Thắng (2017), Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
Trang 102.1 Thuận lợi và khó khăn trong chính sách tự do hóa thương mại quốc tế
* Thuận lợi
Thứ nhất, xuất khẩu sẽ được tăng cường thông qua việc giải quyết vấn đề
tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ của các thành viên WTO; đồng thời thựchiện chiến lược kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu, Việt Nam đã xây dựng được mộtloạt các ngành hàng có năng lực sản xuất lớn, có sức cạnh tranh mạnh và kim ngạchxuất khẩu cao trên thế giới Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có khả năng mở rộngxuất khẩu những mặt hàng có tiềm năng nhờ thành quả của các cuộc đàm phán giảmthuế và hàng rào phi thuế quan, tăng cường tiếp cận thị trường cũng như các quyđịnh của WTO về tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại
Thứ hai, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao Việc cắt
giảm thuế, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ giúp môitrường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn Trước sức
ép cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước không còn sự lựa chọn nào khác sẽ phảivươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nềnkinh tế Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cũng sẽ giúp cácdoanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với các chi phí hợp lý hơn, từ đó có thêm
cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh không những ở trong nước mà còn trên thị trườngquốc tế
Thứ ba, việc tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO cũng sẽ
tạo điều kiện để Việt Nam hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật theo hướngminh bạch hơn, ổn định hơn và dễ dự đoán; hoàn thiện cơ chế thị trường, cải cáchhành chính và cải cách các doanh nghiệp trong nước, tiếp thu khoa học công nghệ,
kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động,sáng tạo, tạo thế và lực cho Việt Nam trên trường quốc tế Gia nhập WTO cũngtạo điều kiện để Việt Nam không bị đối xử như một nền kinh tế phi thị trường trongcác vụ tranh chấp thương mại như hiện nay Việt Nam sẽ có được vị thế bình đẳngnhư các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu và
Trang 11có cơ hội tham gia trong việc xây dựng một khung khổ hợp tác thương mại thế giớicông bằng và hợp lý hơn.
Thứ tư, Việt Nam có một số lợi thế về nguồn lực con người, về đội ngũ
người lao động khéo tay, thông minh, chăm chỉ cần cù; có vị trí địa - chiến lược trênbản đồ kinh tế thế giới và khu vực; có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú vớitiềm năng trữ lượng lớn, do vậy, xét trên tổng thể, nếu những lợi thế đó được pháthuy tối đa, chúng ta sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức, tạo ra năng lực cạnhtranh trong hoàn cảnh mới và giành được vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế
Thứ năm, nhờ có môi trường cạnh tranh, cơ sở và công cụ pháp lý lành
mạnh, thông thoáng hơn mà các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ vàvừa có thể bảo vệ quyền lợi và hoạt động chính đáng của mình trong cạnh tranh vớicác doanh nghiệp khác, nhất là sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp củaWTO Khi gia nhập WTO, tùy thuộc vào sự chủ động của mình mà các doanhnghiệp sẽ có nhiều cơ hội tự hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộngthị trường, vươn xa và vươn rộng hơn Điều đó cũng đúng đối với các doanh nghiệpnước ngoài đầu tư và kinh doanh ở nước ta Đây là nhân tố vừa là cơ hội nhưngcũng lại vừa là thách thức
* Khó khăn
Một là, năng lực cạnh tranh yếu kém của các doanh nghiệp, các ngành hàng
hóa và dịch vụ Nền kinh tế nước ta ở trình độ phát triển thấp, đang trong quá trìnhchuyển đổi; kinh tế thị trường mới còn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai, các yếu
tố cơ bản, đồng bộ của thị trường chưa phát triển đầy đủ dẫn đến khả năng kinhdoanh và sức cạnh tranh của các chủng loại hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệpViệt Nam còn hạn chế Thị trường tiêu thụ hàng hóa của ta trên thế giới rất hạn hẹp,
dễ bị thôn tính Trong bối cảnh thế giới tự do buôn bán, tự do đầu tư, Việt Nam ởvào thế yếu, rất dễ trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa của nước ngoài Muốn có thịtrường toàn cầu thì Việt Nam phải mở cửa thị trường nội địa cho các nước Đây làthách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, bởi các doanh nghiệp Việt Namphần lớn là vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh kém
Trang 12Hai là, các vấn đề liên quan đến chính sách ổn định vĩ mô và hoàn thiện
khuôn khổ luật pháp Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, khi tham giaWTO, có thể một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước sẽ phụ thuộc mạnh vào cácdiễn biến trên trường quốc tế và khu vực Vấn đề tỷ giá, lạm phát, cán cân thanhtoán, ngân sách thâm hụt sẽ có những diễn biến phức tạp, đòi hỏi có sự chỉ đạochặt chẽ và uyển chuyển Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp
lý liên quan đến kinh tế và thương mại, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm khigia nhập WTO Trước hết, phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh đểbảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập nhằmthúc đẩy tính năng động và khả năng thích ứng nhanh - yếu tố quyết định sự thànhbại của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bố trí nguồn lực Đồng thời, những cam kết
mở cửa thị trường của ta là cam kết theo lộ trình nên tiến trình hoàn thiện khuônkhổ pháp lý sẽ còn tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài
Ba là, tham gia WTO cũng cần lường trước những tác động xấu ngoài kinh
tế, nhất là các vấn đề xã hội như thu nhập, lao động, việc làm, chênh lệch thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng miền, các vấn đề về môi trường, giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc,v.v Đặc biệt, vấn đề an sinh xã hội sẽ phức tạp do phải cắtgiảm lao động trong nhiều ngành nghề, do doanh nghiệp làm ăn không hiệu quảphải phá sản
Bốn là, thách thức về nguồn lực Cần phải có một đội ngũ cán bộ đủ mạnh, ở
mọi cấp từ trung ương đến địa phương, từ khu vực nhà nước đến các doanh nghiệp.Đây cũng là một thách thức to lớn đối với nước ta do phần đông cán bộ của ta còn
bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành một nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tốnước ngoài Nếu không có sự chuẩn bị từ bây giờ, thách thức sẽ được chuyển thànhkhó khăn dài hạn rất khó khắc phục Ngoài ra, để tận dụng được cơ chế giải quyếttranh chấp của WTO và tham gia có hiệu quả vào các cuộc đàm phán trong tươnglai của tổ chức này, chúng ta cần phải có một đội ngũ thông thạo quy định và luật lệcủa WTO, có kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán quốc tế