Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, cần có sự thanh toán để chuyển giao được quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được tiền giữa các bên tham gia giao dịch.. Với hệ thống lưu ký,
Trang 1BÀI 6 LƯU KÝ, THANH TOÁN CHỨNG KHOÁN VÀ HỆ THỐNG
THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu hướng dẫn:
GS.TS Nguyễn Văn Nam & PGS.TS Vương Trọng Nghĩa, Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB Tài chính, 2002
Trần Đăng Khâm, Thị trường chứng khoán – Phân tích cơ bản, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, 2009
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Hệ thống thông tin trên thị trường chứng khoán
Mục tiêu
Kết thúc bài 6, sinh viên cần nắm rõ những nội dung sau:
Hiểu được các vấn đề cơ bản về: khái niệm, vai trò của hệ thống lưu ký chứng khoán;
mô hình tổ chức và chức năng của trung tâm lưu ký chứng khoán;
Hiểu được các vấn đề liên quan tới hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng;
Hiểu được các vấn đề cơ bản về hệ thống thông tin như: vai trò, đặc điểm và các nguồn thông tin;
Nắm rõ các quy định của pháp luật về công bố thông tin
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Lưu ký chứng khoán
Nhà đầu tư Nguyễn Văn An mua và giữ 300 cổ phiếu của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (mã chứng khoán PTI) từ lúc công ty chưa niêm yết trên HOSE Nhà đầu tư An chưa lưu ký 300
cổ phiếu này tại trung tâm lưu ký
1 Nhà đầu tư này có được phép bán số cổ phiếu đang nắm giữ không qua sở
giao dịch không?
2 Nhà đầu tư này phải làm gì để có thể bán được số cổ phiếu đó?
Trang 36.1 Hệ thống đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
6.1.1 Khái niệm, các hoạt động và vai trò của hệ thống
6.1.1.1 Khái niệm
Là một hệ thống cụ thể các trang thiết bị, con người, các quy định và hoạt động về thanh toán, bù trừ, lưu ký và đăng ký chứng khoán
6.1.1.2 Các hoạt động chính của hệ thống
Hoạt động lưu ký chứng khoán: là hoạt động lưu
giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán lưu ký
Hoạt động bù trừ: là việc xử lý thông tin về các
giao dịch chứng khoán nhằm đưa ra một con số ròng cuối cùng mà các bên tham gia phải thanh toán sau khi giao dịch Kết quả bù trừ sẽ chỉ ra bên nào phải trả tiền, bên nào phải giao chứng khoán
Hoạt động thanh toán: là hoạt động hoàn tất các giao dịch chứng khoán, trong đó các bên sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện việc giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền
Hoạt động đăng ký: là việc đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ
6.1.1.3 Vai trò
Hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán có vai trò hết sức quan
trọng đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, cụ thể:
Thứ nhất, thanh toán các giao dịch chứng khoán, đảm bảo cho các giao dịch
chứng khoán được hoàn tất
Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, cần có sự thanh toán để chuyển giao được quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán được tiền giữa các bên tham gia giao dịch Nhờ hoạt động thanh toán, người mua chứng khoán nhận được chứng khoán và người bán chứng khoán nhận được tiền Nhiệm vụ của hệ thống là sau mỗi giao dịch, xác định được bên giao chứng khoán và bên nhận chứng khoán, bên trả tiền và bên nhận tiền, khối lượng chứng khoán giao dịch và tổng số tiền thanh toán
Thứ hai, giúp cho việc quản lý thị trường chứng khoán
Nhờ nắm được các thông tin về người sở hữu chứng khoán thông qua việc đăng ký chứng khoán, các nhà quản lý biết được tỷ lệ nắm giữ chứng khoán của những người sở hữu chứng khoán, kịp thời đưa ra các quyết định xử lý khi tỷ lệ sở hữu của một số đối tượng vượt quá mức quy định của pháp luật chứng khoán hiện hành Qua hệ thống này, các nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư biết được những thông tin về các chứng khoán bị mất cắp hay không còn giá trị lưu hành Đồng thời, hệ thống cũng đưa ra những quy định đối với các đối tượng tham gia nhằm đảm bảo
sự thống nhất giữa các thành viên tham gia hệ thống, góp phần ổn định thị trường
Trang 4 Thứ ba, giảm chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường
Khi hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán phát triển đến một mức độ nhất định thì việc quản lý chứng khoán sẽ được thực hiện qua hệ thống tự động Điều đó làm giảm được thời gian, giảm chi phí, tránh được những nhầm lẫn trong khâu nhận, kiểm đếm chứng khoán khi thanh toán không qua hệ thống Ngoài ra, hệ thống thực hiện việc lưu ký tập trung hoặc thực hiện phi vật chất hoá chứng khoán nên tiết kiệm được các chi phí trong in ấn chứng chỉ chứng khoán, bảo quản chứng chỉ
Thứ tư, giảm rủi ro cho hoạt động thị trường
Kinh nghiệm cho thấy, thời gian thanh toán càng dài thì rủi ro xảy ra cho các đối tượng tham gia thị trường càng lớn Các rủi ro xuất phát từ nhiều nguyên nhân và từ nhiều phía Rủi ro xảy ra có thể
là do lỗi của máy tính hay do lỗi của con người gây
ra, hoặc là rủi ro do các đối tượng tham gia mất khả năng thanh toán Hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán giúp cho thời gian thanh toán được rút ngắn và từ đó góp phần giảm thiểu rủi ro Với hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, hầu hết các thanh toán đều được thực hiện qua bút toán ghi sổ, giảm bớt đáng kể sự chuyển giao chứng khoán vật chất, làm giảm rủi ro mất cắp Bên cạnh đó, hệ thống này cho phép chúng ta có thể tiến hành thanh toán bù trừ song phương và đa phương, từ đó rút ngắn thời gian và an toàn, giảm chi phí so với hình thức thanh toán bù trừ theo từng lần giao dịch
Thứ năm, thực hiện thanh toán nhanh góp phần giúp các đối tượng của hệ
thống tăng vòng quay của vốn
Khi chưa có hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán thì việc chuyển giao chứng khoán tốn nhiều chi phí, thời gian kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả của chứng khoán và sự lãng phí này xảy ra cho cả hai bên mua và bán chứng khoán Sự xuất hiện của hệ thống lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán đã tiết kiệm được chi phí và thời gian cho các đối tượng tham gia thị trường Lượng chi phí, thời gian tiết kiệm được sẽ được sử dụng vào các mục đích khác đem lại hiệu quả cao hơn Việc thanh toán bù trừ chứng khoán nhanh tạo điều kiện cho các giao dịch tiếp theo được thực hiện, giúp cho nhà đầu tư nắm được thời cơ kinh doanh, đồng vốn được quay vòng nhanh hơn
6.1.1.4 Mô hình trung tâm lưu ký (TTLK)
Có thể là tách biệt với hoạt động thanh toán bù trừ như Mỹ, Nhật và Singapore, hoặc thực hiện tất cả những công việc bù trừ, thanh toán và lưu ký như Trung Quốc, Đức, Canada và Thuỵ Sỹ hoặc việc bù trừ lại được Sở thực hiện như Hàn Quốc, Hà Lan Cách thức và mô hình tổ chức hoạt động của TTLK ở từng nước khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như lịch sử phát triển, hệ thống luật pháp và sự phát triển thị trường Tuy nhiên, hầu hết tập trung vào một trong hai mô hình sau:
Mô hình thứ nhất: một TTLK thực hiện đầy đủ các chức năng của hệ thống như
Đài loan và Thái Lan
Trang 5o Ưu điểm: tập trung được các hoạt động của hệ thống về một mối, tạo điều kiện cho công tác quản lý
o Nhược điểm: đòi hỏi phải tách bạch giữa các hoạt động để hạn chế rủi ro phát sinh
Mô hình thứ hai (mô hình phân chia chức năng): mỗi tổ chức tham gia trên thị
trường sẽ thực hiện một hoặc một số hoạt động của hệ thống lưu ký, bù trừ, thanh toán và đăng ký chứng khoán, ví dụ như Hàn Quốc, các giao dịch trên SGD được bù trừ ngay tại sở, việc thanh toán các giao dịch trên lại do TTLK Hàn quốc thực hiện
o Ưu điểm: khắc phục được nhược điểm của mô hình trên
o Nhược điểm: đòi hỏi phải có sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ này để đảm bảo sự thống nhất quản lý và tính liên tục của họat động lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ
Hiện nay, các nước có xu thế lựa chọn mô hình thứ nhất để đơn giản hoá các mối liên
hệ phức tạp và tiết kiệm chi phí
6.1.1.5 Chức năng của trung tâm lưu ký
Thứ nhất, quản lý các chứng khoán lưu ký của
khách hàng
Thứ hai, ghi nhận quyền sở hữu và các thông tin về
tình tình thay đổi của các chứng khoán lưu ký cho khách hàng
Thứ ba, cung cấp thông tin về chứng khoán giả
mạo, mất cắp
Thứ tư, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán tiền và chuyển giao chứng khoán sau khi các giao dịch được thực hiện
Thứ năm, xử lý các thông tin về việc thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán đối với các tổ chức phát hành như: thông báo họp đại hội đồng cổ đông, đại diện
uỷ quyền và giúp khách hàng thực hiện quyền thông qua mạng lưới của hệ thống
Thứ sáu, phân phối lãi, trảvốn gốc và cổ tức cho người sở hữu chứng khoán
Thứ bảy, giúp quản lý tỷ lệ nắm giữ của người sở hữu chứng khoán
Thứ tám, cung cấp các dịch vụ khác liên quan đến chứng khoán như: cầm cố chứng khoán, thu hộ thuế
6.1.2.1 Khái niệm
Là hoạt động ghi nhận và theo dõi các thông tin về người sở hữu chứng khoán bao gồm: thông tin về loại chứng khoán, số lượng chứng khoán theo mỗi loại của mỗi người sở hữu chứng khoán
Nguyên tắc thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán đòi hỏi người nắm giữ chứng khoán phải có tên trong danh sách người sở hữu chứng khoán của tổ chức phát hành vào trước một thời điểm nhất định do tổ chức phát hành qui định Vì vậy, để thực hiện các quyền đối với chứng khoán mà mình nắm giữ, nhà đầu tư phải thực hiện việc đăng ký tên mình trong danh sách người sở hữu chứng khoán của tổ chức phát hành
Trang 6Hoạt động này giúp nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi khi họ lưu ký chứng khoán tại TTLK đặc biệt khi họ sở hữu chứng khoán phi vật chất Thông qua hoạt động này, nhà đầu tư thực hiện các quyền giao dịch, được uỷ quyền, cầm cố chứng khoán, thực hiện quyền người sở hữu chứng khoán và hạn chế những bất lợi mà họ gặp phải khi thực hiện các quyền này
Hoạt động đăng ký chứng khoán có tác dụng chủ yếu là theo dõi thông tin về chứng
khoán và theo dõi thông tin về người sở hữu chứng khoán
Theo dõi các thông tin về chứng khoán: các tổ chức
phát hành chứng khoán phải tiến hành đăng ký với
tổ chức đăng ký (TTLK) tất cả các thông tin có liên quan đến chứng khoán trong mỗi đợt phát hành như thông tin về số lượng chứng khoán, mệnh giá, hình thức… và mỗi khi thay đổi các thông tin trên,
tổ chức phát hành phải thông báo để đăng ký lại với tổ chức đăng ký (TTLK)
Theo dõi thông tin về người sở hữu chứng khoán, các quyền của người sở hữu chứng khoán phát sinh trên cơ sở số chứng khoán được lưu ký tại TTLK Tổ chức đăng ký (TTLK) có trách nhiệm theo dõi và ghi nhận quyền sở hữu chứng khoán cho các khách hàng, đảm bảo thực hiện toàn bộ quyền lợi của người sở hữu chứng khoán một cách chính xác và tiện lợi nhất
6.1.2.1 Mục đích đăng ký chứng khoán
Hoạt động này giúp nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi khi họ lưu ký chứng khoán tại TTLK đặc biệt khi họ sở hữu chứng khoán phi vật chất Thông qua hoạt động này, nhà đầu tư thực hiện các quyền giao dịch, được uỷ quyền, cầm cố chứng khoán, thực hiện quyền người sở hữu chứng khoán và hạn chế những bất lợi mà họ gặp phải khi thực hiện các quyền này
6.1.2.2 Hoạt động thực hiện quyền người sở hữu
Khi sở hữu chứng khoán nhà đầu tư có một số quyền nhất định (quyền bỏ phiếu bầu Hội đồng quản trị; bỏ phiếu quyết định các vấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ công ty; quyền nhận thu nhập, quyền kiểm tra sổ sách của công ty; quyền được phân chia tài sản, quyền chuyển đổi cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu…) và được gọi chung là quyền
sở hữu chứng khoán Người sở hữu chứng khoán có thể thực hiện quyền trực tiếp hoặc gián tiếp Trong nhiều trường hợp, thực hiện quyền trực tiếp rất bất lợi, thủ tục phức tạp nên người sở hữu chứng khoán có thể uỷ quyền qua hệ thống lưu ký
Với những chứng khoán được lưu ký tại TTLK thì việc thực hiện quyền gián tiếp hết sức đơn giản vì TTLK biết thông tin về người sở hữu chứng khoán, thực hiện đăng ký
sở hữu chứng khoán cho người nắm giữ
6.1.3.1 Khái niệm
Là hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng;
Thực hiện các dịch vụ liên quan đến việc mở tài khoản lưu ký, gửi, rút, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch bảo đảm như cầm cố, giải toả cầm cố chứng khoán
Trang 7 Quản lý việc nhập, xuất và bảo quản an toàn chứng chỉ chứng khoán tại kho chứng chỉ chứng khoán
6.1.3.2 Các hình thức lưu ký
Lưu ký riêng biệt
Là hình thức khách hàng muốn lưu giữ chứng khoán để sau đó có thể rút chính những chứng khoán đã gửi hoặc chính những chứng khoán mà khách hàng đã mua
Đây là hoạt động lưu ký chứng khoán trong đó chứng khoán của khách hàng độc lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký, chứng khoán lưu ký đó được trao công khai cho thành viên lưu ký nhưng vẫn thuộc sở hữu của khách hàng
Thành viên lưu ký có trách nhiệm lưu giữ chứng khoán theo các ký hiệu riêng được lập cho từng khách hàng, theo từng chủng loại chứng khoán và phải cất giữ chứng khoán biệt lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký cũng như của các khách hàng lưu ký khác
Khi thành viên lưu ký mua hộ chứng khoán cho các khách hàng và đưa vào lưu ký biệt lập theo hợp đồng mua bán với khách hàng thì trong một tuần thành viên lưu
ký phải gửi cho khách hàng bản danh mục chứng khoán đã mua và đã đưa vào lưu
ký, trong đó phải ghi rõ chủng loại, mã số giá trị tính theo mệnh giá và các đặc tính khác (nếu có) của chứng khoán được mua Bản thông báo ký hiệu mã số chứng khoán được coi là bằng chứng vềviệc quyền sở hữu chứng khoán đã được trao cho người mua
Khi trong hợp đồng lưu ký không có quy định về hình thức lưu ký khác thì đương nhiên khi đó phải được coi là lưu ký biệt lập, cho dù điều đó không được thể hiện trong hợp đồng
Tổ chức nhận lưu ký cũng được phép đưa chứng khoán của khách hàng lưu ký biệt lập tại một tổ chức thứ ba (thường là các trung tâm lưu ký chứng khoán lớn) mà không cần phải có văn bản uỷ quyền của khách hàng Khi đó, tổ chức nhận lưu ký được coi là tổ chức trung gian lưu ký
Nghiệp vụ lưu ký riêng biệt bao gồm nhiều công đoạn phức tạp, đòi hỏi chi phí nhân sự cao và chi phí phòng ngừa két lớn, nên chi phí lưu ký rất cao
Lưu ký tổng hợp
Lưu ký tổng hợp là hình thức lưu ký trong đó tổ chức lưu ký được phép tập hợp chung tất cả các loại lưu ký được phép chuyển nhượng tự do thuộc vùng chuyển khoản của nhiều chủ sở hữu thành một khối lượng tổng hợp
Khi chuyển chứng khoán vào lưu ký tổng hợp, các chủ sở hữu mất đi quyền tư hữu của mình và trở thành các đồng sở hữu phần lưu ký trong khối lượng chứng khoán tổng hợp của cùng chủng loại chứng khoán mà mình lưu ký
Như vậy, từng chủ sở hữu không có quyền đòi hỏi tổ chức lưu ký chuyển trả chính các tờ chứng khoán của mình, mà chỉ có quyền đòi chuyển trả số lượng tờ chứng khoán đã đưa vào lưu ký hay số lượng với giá trị tính theo mệnh giá
Trang 8Nếu tổ chức lưu ký bị phá sản thì các chủ lưu ký được hưởng đặc quyền truy đòi tài sản của mình
Chuyển khoản chỉ được phép đưa vào lưu ký tổng hợp khi có văn bản uỷ quyền cụ thể của khách hàng lưu ký
Lưu ký tổng hợp có ưu điểm là:
o Khách hàng không phải tốn nhiều chi phí giao dịch và chi phí lưu ký do việc chuyển khoản chứng khoán mà không cần chuyển chứng khoán về mặt cơ học
o Khách hàng lưu ký chỉ cần lập một lần hợp đồng uỷ thác lưu ký tổng hợp tại trung tâm thanh toán bù trừ nên làm cho đơn giản hoá thủ tục và tạo cho khách hàng khả năng thực hiện các giao dịch chứng khoán mà không cần trực tiếp tới Ngân hàng, nơi chứng khoán được lưu ký
6.1.3.3 Tài khoản lưu ký
Tài khoản lưu ký chứng khoán là tài khoản dùng để
hạch toán việc gửi, rút hoặc chuyển nhượng chứng
khoán; hạch toán việc giao và nhận chứng khoán Tài
khoản lưu ký chứng khoán gồm có:
Tài khoản chứng khoán giao dịch: dùng để phản
ánh chứng khoán hiện có của khách hàng Số dư trên tài khoản này là số lượng chứng khoán mà khách hàng được phép giao dịch
Tài khoản chứng khoán cầm cố: dùng để hạch toán các chứng khoán bị cầm cố
Số lượng chứng khoán nằm trong tài khoản này khách hàng không được phép giao dịch
Tài khoản chứng khoán chờ niêm yết: dùng để hạch toán các chứng khoán chờ
niêm yết nhưng vẫn được phép lưu ký tại TTLK Các chứng khoán này vẫn được thực hiện quyền những không được phép giao dịch mua bán
Tài khoản chứng khoán chờ rút: dùng để hạch toán các chứng khoán khách hàng
có nhu cầu rút ra nhưng đang trong thời gian chờ rút
Tài khoản thanh toán bù trừ chứng khoán đã giao dịch: dùng để hạch toán việc
giao và nhận chứng khoán theo chứng từ thanh toán chứng khoán
Tài khoản tạm ngừng giao dịch: dùng để phản ánh các chứng khoán bị kiểm soát
hoặc không còn bị kiểm soát nữa nhưng đang ngừng giao dịch để xác định lại giá tham chiếu của chứng khoán đó
Tài khoản tạm giữ: dùng để hạch toán số chứng khoán nhận được từ việc sử
dụng quĩ hỗ trợ thanh toán
6.1.3.4 Nguyên tắc quản lý
Mỗi khách hàng chỉ được mở tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký Khách hàng sẽ đặt lệnh, giao dịch thông qua chính thành viên lưu ký
Khách hàng là cá nhân tổ chức trong nước chỉ được mở tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký trong nước
Trang 9 Khách hàng là cá nhân, tổ chức nước ngoài phải mở tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài
Các thành viên lưu ký phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng tách biệt với tài khoản lưu ký chứng khoán của chính các thành viên
Các chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán phải được lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán
SGDCK mở và quản lý tài khoản lưu ký cho các thành viên để hạch toán và quản
lý các chứng khoán ký gửi cho thành viên Phần chứng khoán thuộc sở hữu khách hàng của thành viên sẽ được hạch toán vào tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng do SGDCK mở đứng tên thành viên
Khi lưu ký chứng khoán tập trung tại trung tâm lưu ký chứng khoán, thành viên lưu
ký phải nộp cho trung tâm lưu ký chứng khoán đầy đủ các chứng từ theo quy định
Chứng khoán được lưu ký phải hợp lệ, không bị hư hỏng và không thuộc loại bị cấm trao đổi
Thành viên lưu ký chứng khoán giao chứng khoán phải đảm bảo đủ chứng khoán trên tài khoản thanh toán bù trừ chứng khoán, phù hợp với các chứng từ thanh toán chứng khoán
6.1.3.5 Dịch vụ liên quan tới mở tài khoản lưu ký chứng khoán
Ký gửi chứng khoán
Đây là bước trong đó khách hàng gửi chứng khoán thuộc sở hữu của họ vào thành viên lưu ký nơi họ mở tài khoản lưu ký chứng khoán Sau đó, thành viên lưu ký sẽ tái ký gửi chứng khoán của khách hàng vào trung tâm lưu ký chứng khoán (quá trình lưu ký 2 cấp)
Rút chứng khoán
o Khi khách hàng muốn rút chứng khoán thì quá trình rút chứng khoán cũng tương tự nhưng ngược với quá trình gửi chứng khoán
o Đối với những chứng khoán trong thời gian chờ rút sẽ được hạch toán vào tài khoản chứng khoán chờ rút để tiện theo dõi và đối chiếu Những chứng khoán này sẽ không được giao dịch, chuyển nhượng nhưng vẫn được thực hiện quyền
và phải trả phí lưu ký
Lưu ký
Tái lưu ký
Số tài khoản khách hàng Chi tiết theo khách hàng
Hạch toán Hạch toán
Số tài khoản TVLK Của thành viên Của nhà đầu tư
Trang 10o Đối với lưu ký riêng biệt, khi rút chứng khoán khách hàng sẽ nhận lại đúng chứng khoán mà mình đã lưu ký Đối với lưu ký tổng hợp, khách hàng chỉ nhận về chứng khoán cùng loại và đợt phát hành như chứng khoán đã ký gửi
Chuyển khoản chứng khoán
Việc chuyển khoản chứng khoán của khách hàng chỉ được thực hiện khi có lệnh của chủ tài khoản kèm theo các tài liệu chứng minh cho những yêu cầu chuyển khoản Khi khách hàng có yêu cầu chuyển khoản hợp lệ đã được thành viên lưu ký (TVLK) đồng ý cho chuyển khoản, nhân viên lưu ký phải phong toả số chứng khoán trên để tránh tình trạng nghiệp vụ phát sinh trùng lặp
Tài liệu hợp lệ chứng minh phải là những tài liệu hợp pháp theo qui định của pháp luật về những yêu cầu chuyển khoản liên quan
Các thành viên thực hiện việc chuyển khoản chứng khoán bằng các bút toán chuyển khoản thông qua hệ thống máy tính được nối mạng nhau và với TTLK
Ở Việt Nam, áp dụng chuyển khoản cho các yêu cầu sau:
o Chuyển khoản thừa kế;
o Chuyển khoản cho tặng;
o Chuyển khoản tất toán tài khoản;
o Chuyển khoản bán lô lẻ;
o Chuyển khoản khác theo qui định của thị trường giao dịch chứng khoán
Cầm cố chứng khoán
Được hiểu đơn giản là hình thức bảo đảm nghĩa vụ theo đó bên cầm cố giao cho bên nhận cầm cố tài sản của mình quản lý, làm vật bảo đảm nghĩa vụ dân sự, thương mại hay khoản vay
o Chủ thể tham gia giao dịch cầm cố chứng khoán:
Bên cầm cố: là người sở hữu chứng khoán hợp pháp, có nhu cầu vay một khoản tiền trong một thời gian nhất định và nhất trí sử dụng chứng khoán thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Bên nhận cầm cố: là bên cho vay tiền, có nhu cầu cho vay, đáp ứng được các qui định pháp luật về cho vay vốn và đồng ý chấp nhận chứng khoán làm vật đảm bảo nghĩa vụ trả nợ
Tổ chức trung gian: là các công ty chứng khoán, TVLK, TTLK hay SGD có vai trò quản lý các hoạt động giao dịch cầm cố nhằm bảo vệ quyền lợi cho
cả bên nhận cầm cố và bên cầm cố, cụ thể: sẽ đứng ra quản lý, giám sát các tài khoản chứng khoán cầm cố; thực hiện việc nhận, chuyển chứng khoán cầm cố theo lệnh của bên nhận cầm cố hoặc bên cầm cố
o Đối tượng trong giao dịch cầm cố chứng khoán: là vật đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ trả nợ, chứng khoán là một đối tượng trọng tâm trong mọi giao dịch cầm cố chứng khoán
Để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia, luật về cầm cố chứng khoán đặt ra các qui định về chứng khoán sử dụng trong giao dịch cầm cố, đó là: