TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Họ tên học viên Lớp , 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 1 Lịch sử Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2 2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 3 3 Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật 4 4 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN
PHÂN TÍCH Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC:
XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Lịch sử Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2
2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 3
3 Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với
4
Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật
9
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định Quyền lực nhà nước có thể chủ yếu tập trung trong tay một cá nhân hoặc một cơ quan, hay được phân công cho nhiều cơ quan khác nhau thực hiện
Ở nước ta, theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước thì tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, mà nền tảng
là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Điều
6 Hiến pháp 2013 quy định “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” [2] Xuất phát từ việc các cơ quan đại diện hình thành do kết quả bầu cử trực tiếp, thể hiện ý chí của nhân dân, vì vậy chúng nhân danh quyền lực nhân dân
và mang tính chất là hệ thống cơ quan quyền lực
Một trong những hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực là xây dựng pháp luật tức là hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động này
có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng cũng như hiệu quả của quản lý Nhà nước Đóng vai trò quan trọng tạo nên “xương sống” của hệ thống pháp luật Vì
vậy, nghiên cứu vấn đề “Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật
đối với việc xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý, giáo dục pháp luật” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc
Trang 4NỘI DUNG
1 Lịch sử Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản pháp quy là “văn bản bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước từ cơ quan đến địa phương ban hành theo phạm vi thẩm quyền của mình, những quy phạm trong văn bản pháp quy dung để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong đời sống, dựa trên ý chí của nhà nước và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước” [1, tr.90]
Các quy phạm trong văn bản pháp quy không được trái với các quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành Sở dĩ những văn bản này được gọi là văn bản pháp quy bới trong đó chưa các quy định của pháp luật và
để phân biệt loại văn bản này - là một văn bản dưới luật với Hiến pháp và các văn bản Luật do Quốc hội hành
Trong lịch sử đã có ba hình thức được các giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật Trong đó văn bản quy phạm pháp luật được coi là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, cơ bản nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa vì
nó có những ưu thế mà tập quán pháp và tiền lệ pháp không có nhờ tính chất đặc biệt của quy phạm pháp luật, phù hợp với bản chất của kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ra đời năm 1996, pháp luật điều chỉnh hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước ta mặc dù được chú trọng nhưng vẫn còn ở mức độ khiêm tốn; trong hệ thống pháp luật khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chưa hề được định nghĩa mà chỉ quy định về tên gọi và vai trò của văn bản quy phạm pháp luật do mỗi cơ quan nhà nước ban hành
Mặt khác, chưa có sự phân biệt rõ ràng văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản mang tính chất pháp lý khác Trong Hiến pháp, các luật về Tổ chức bộ máy nhà nước và các văn bản dưới luật mới đề cập một cách chung chung mà không xác định cụ thể văn bản nào là văn bản quy phạm pháp luật
Có chăng, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chỉ được định nghĩa trong sách báo pháp lý nhưng rất tiếc lại không thống nhất với nhau Ngày 12/11/1996, với việc Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
Trang 5IX, kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên khái niệm văn bản quy phạm pháp luật được ghi nhận và định nghĩa chính thức trong hình thức văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao
Điều này có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước tiến bộ đáng kể trong thực tiễn lập pháp ở Việt Nam Ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tại điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung định nghĩa: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử
sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [3]
Năm 2004, Quốc hội khoá XI tiếp tục thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, đưa ra định nghĩa cụ thể về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn các đạo luật điều chỉnh hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được ra đời và định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật cũng được thảo luận, nghiên cứu và hoàn thiện hơn, trở thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở nước ta
2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
So với Luật năm 2008 và Luật năm 2004, Luật năm 2015 giảm được 05 loại văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
(1) Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị- xã hội (trừ nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quôc hội hoặc Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam);
(2) Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (3) Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
(4) Chỉ thị của ủy ban nhân dân cấp huyện;
(5) Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp xã Tuy nhiên, để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật năm 2015 bổ sung hình thức văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Theo quy định tại Điều 3 Luật năm 2015, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
Trang 6(1) Hiến pháp;
(2) Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội; (3) Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
(4) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
(5) Nghị định của Chính phủ; Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
(6) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
(7) Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
(8) Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước;
(9) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
(10) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
(11) Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt;
(12) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện;
(13) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện;
(14) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã;
(15) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã [4, tr.121]
3 Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan
hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý, giáo dục pháp luật
* Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan
hệ pháp luật
Bước vào công cuộc đổi mới, trước yêu cầu cấp bách của việc chuyển đổi
từ nền kinh tế tập trung, bao cấp, điều hành chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng
Trang 7pháp luật, đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất, đồng bộ để điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện các Luật nêu trên đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như: (1) Hệ thống pháp luật phức tạp, cồng kềnh gây khó khăn cho việc tuân thủ, áp dụng, thi hành; (2) Chất lượng nhiều văn bản pháp luật còn hạn chế, tính khả thi chưa cao; (3) Hiệu lực thi hành của hệ thống pháp luật chưa cao, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh vẫn chưa được khắc phục triệt để (4) Chưa khuyến khích, thu hút được sự tham gia tích cực của Nhân dân vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, sự tồn tại song song 02 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một thời gian dài với nhiều quy định “vênh” nhau như khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, hình thức văn bản, quy trình xây dựng, hiệu lực văn bản… đã gây khó khăn trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật [5, tr.210]
Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật thể hiện:
Để khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, đồng thời nhằm cụ thể hóa kịp thời nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Chính xác, rõ ràng, minh bạch, đơn giản khi ban hành hoặc sửa đổi, dễ đảm bảo sự thống nhất, đồng
bộ của cả hệ thống pháp luật, dễ phổ biến, dễ áp dụng,…; văn bản quy phạm pháp luật là một loại văn bản, được ban hành theo trật tự, quy củ,…
Hình thức do pháp luật quy định: nên được đảm bảo chặt chẽ, được truyền bá, được đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp
Nội dung của nó chứa đựng các quy tắc xử sự chung: đó là khuôn mẫu ứng xử cho một đối tượng chung nhất định, trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định
Văn bản quy phạm pháp luật có thể đáp ứng được kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống vì dễ sửa đổi, bổ sung
Văn bản quy phạm pháp luật được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật, thường thể hiện trí tuệ của một tập thể và có tính khoa học tương đối
Với những ưu điểm như chính xác, rõ ràng, minh bạch, đơn giản khi ban hành hoặc sửa đổi, dễ đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, dễ phổ biến, dễ áp dụng,… Văn bản quy phạm pháp luật là nguồn quan
Trang 8trọng hàng đầu của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ở những quốc gia coi trọng án lệ là nguồn chủ yếu (như Hòa Kỳ) thì vai trò của văn bản quy phạm pháp luật ngày càng quan trọng hơn và ngày nay nó
đã được xếp vào vị trí cao hơn án lệ
* Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành Không phải mọi cơ quan nhà nước hoặc mọi cá nhân đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã quy định rõ, những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao, Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân các cấp; có sự phối hợp giữa những cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội để ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch
Những cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là Thủ tướng chính phủ, chánh án Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ Vì vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định một văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước là văn bản đó phải được ban hành bởi Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được ban hành theo thủ tục, trình tự luật định Xuất phát từ tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành đối với hoạt động quản lý nhà nước, từ yêu cầu đảm bảo sự chặt chẽ, thống nhất trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn đóng vai trò hết sức quan trọng Cho nên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2004 đã quy định trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa phương khá đầy đủ và hợp lý Theo đó, một văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội hay Hội đồng nhân dân được ban hành qua các bước:
Trang 9lập chương trình, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản, thẩm tra, thẩm định, đến thông qua, ký, công bố tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của luật Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước là điều kiện
để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước chứa đựng các quy định xử sự chung (quy phạm pháp luật) Các quy tắc xử sự chính là những khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh Về mặt hình thức,quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật Trong mối quan hệ này, quy phạm pháp luật là nội dung còn văn bản quy phạm pháp luật là hình thức Đây là đặc điểm quan trọng nhất của văn bản quy phạm pháp luật
Do chứa đựng và thể hiện ý chí của nhà nước với nội dung là các quy tắc
xử sự cho nên văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực luôn luôn có giá trị bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước với nhiều biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, hành chính, kinh tế và đặc biệt là biện pháp cưỡng chế Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước
có đối tượng áp dụng chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn Với nội dung là các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực tác động lên nhiều đối tượng, đó là một nhóm chủ thể lớn có chung một hoặc một số yếu tố nào đó như: quốc tịch, địa bàn cư trú… hoặc là mọi chủ thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật quy định
Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan
hệ xã hội có tính phổ biến, nên quy tắc xử sự chung mà các đối tượng tác động của pháp luật phải tuân theo khi rơi vào tình huống dữ liệu, tình huống đó có tính lặp đi lặp lại trên thực tế nên các quy phạm được sử dụng nhiều lần Nói cách khác, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được
sử dụng nhiều lần, nó khác với văn bản áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần trên thực tế đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể
Trang 10* Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở xác định thẩm quyền, trình tự, thủ
tục, cách thức tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí Những quy định này thường được gọi là pháp luật về tố tụng hay pháp luật về thủ tục
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở xác định hành vi bị coi là vi phạm
pháp luật và biện pháp cưởng chế dự kiến áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi đó, những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lí, điều kiện áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhất định, các quy định
về hồi tố (nếu có)
Văn bản quy phạm pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm
pháp lí Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định mà chỉ trong thời hạn đó, chủ thể vi phạm pháp luật mới có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lí, nếu hết thời hạn đó mà hoạt động truy cứu chưa được tiến hành thì không được truy cứu nữa Tùy loại vi phạm mà pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí dài, ngắn khác nhau, bên cạnh đó có những vi phạm không có thời hiệu truy cứu
* Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với giáo dục pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển
khai các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ
và các tầng lớp nhân dân Hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp mà ngành Tư pháp là nòng cốt đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể xã hội và toàn dân
Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở giúp cho các hoạt động phổ biến,
giáo dục pháp luật dần dần đi vào nề nếp theo kế hoạch, chương trình cụ thể với nhiều hình thức, biện pháp thực hiện phù hợp với từng nhóm đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và điều kiện của địa bàn thực hiện Nhiều hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã được triển khai đồng bộ và mạnh mẽ trên nhiều địa bàn, nhân dân ngày càng có điều kiện tìm hiểu pháp luật