1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận phật giáoquan niệm phật giáo về lòng khoan dung

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 41,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN QUAN NIỆM PHẬT GIÁO VỀ LÒNG KHOAN DUNG Họ tên học viên Lớp , 2022 1 Mở đầu Phương Đông khu vực được xem là một trong những trung tâm văn minh lớn của nhân loại, nơi đã hình thành nên nhiều học thuyết triết học từ thời cổ đại mà tinh hoa của nó vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay và ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta Phật giáo là một trong những học thuyết triết học đó Phật giáo với cái đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ muôn đời.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN QUAN NIỆM PHẬT GIÁO VỀ LÒNG KHOAN DUNG

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

- 2022

Trang 2

1 Mở đầu

Phương Đông - khu vực được xem là một trong những trung tâm văn minh lớn của nhân loại, nơi đã hình thành nên nhiều học thuyết triết học từ thời cổ đại mà tinh hoa của nó vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay và ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước

ta Phật giáo là một trong những học thuyết triết học đó

Phật giáo với cái đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ muôn đời, với cứu cánh là giải thoát, nhỡn bề ngoài nó chỉ bàn về nhân sinh, nhưng

để cho những quan niệm nhân sinh này tồn tại một cách vững chắc, trải dài hơn 2500 năm, phải dựa trên một cơ sở triết học, một nền tảng lý luận vô cùng sâu sắc Phật giáo đó đến với người Việt Nam từ rất lâu đời, vào khoảng nửa cuối thế kỷ thứ I do bản chất từ bi , hỷ xả , đạo Phật đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng và bám rễ vững chắc trên mảnh đất này Từ khi vào Việt Nam, Phật giáo nói chung và quan niệm Phật giáo về lòng khoan dung nói riêng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Quan niệm phật giáo về lòng khoan dung”

làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 3

2 Nội dung

2.1 Phật giáo

Phật giáo ra đời vào khoảng giữa thế kỷ VI tr.CN, đầu tiên nó là tôn giáo của Ấn Độ, sau đó truyền bá sang các quốc gia phương Đông, hình thành nên những dòng Phật giáo khác nhau: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo Hàn Quốc, Phật giáo Srilanka, Phật giáo Mianmar, Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Campuchia, Phật giáo Lào, Phật giáo Tây Tạng…

Người sáng lập Phật giáo là Tất Đạt Đa (Siddhartha), họ Cồ Đàm (Gautama), lấy hiệu là Buddha (Phật), thường được gọi là Thích Ca Mâu

Ni (Sakyamuni - nghĩa là nhà hiền triết của xứ “Sakya” - đây là tên do học trò tôn xưng sau khi Tất Đạt Đa đắc đạo), con của vua Tịnh Phạn Vương (Suddhodana) và hoàng hậu Đại Ma Già (Mayaba) Đức Phật được sinh ra trong vườn Lâm Tì Ni (Lumbini) vào năm 623 TrCN ở kinh thành nước Ca

Tỳ La Vệ (Kapilavastu - ngày nay thuộc một phần miền Nam của nuớc Nêpan và một phần Đông Bắc của nước Ấn Độ) Tất Đạt Đa rất chăm chỉ, siêng năng học tập và đạt đến độ văn võ toàn tài, năm 19 tuổi kết hôn với

Da Du Đà La (Yasodhara) và sinh ra La Hầu La (Rahula) Năm 29 tuổi, Ngài xuất gia đi cầu đạo nhân sinh và đến năm 35 tuổi thì Ngài đắc đạo Ngài nhập Niết Bàn (tịch diệt - mất) tại Câu Thi Na Ca (Kusinagara) vào năm 544 tr.CN (các tín đồ Phật giáo thống nhất lấy năm 544 tr.CN làm năm mở đầu của kỷ nguyên Phật giáo, năm 2007 là năm 2551 Phật lịch) [1, tr.189]

Khi mới xuất gia, Tất Đạt Đa cùng với các tu sĩ Bà La Môn giáo như A-ra-la Ca-la-ma (Arala Kalama), Uất-đà-ca La-ma-tử (Udrka Ramaputta) vào núi Tuyết Sơn ngồi thiền tu khổ hạnh Sau sáu năm ngồi thiền không hiệu quả, Ngài quyết định rời núi Tuyết Sơn, xuống tắm rửa sạch sẽ ở sông

Ni Liên Thuyền Na (Nairanjana), uống một bát sữa bò của cô Nan Đà

Trang 4

(Nanda) dâng, rồi đến phát nguyện nhập thiền dưới cây pippala (ngày nay gọi là cây bồ đề) tại Già Da (Gaya) Sau 49 ngày (7 x 7), vào lúc nửa đêm, Ngài đại giác và trở thành Phật (hiện nay, nơi Tất Đạt Đa đại giác được gọi

là “Bồ Đề đạo trường” và là thánh địa Phật giáo, thuộc đất Nêpan)

Việc từ bỏ ngồi thiền của Đức Phật ở núi Tuyết Sơn chính là hành vi chối bỏ học thuyết của Bà La Môn giáo (ngày nay trên Phật điện trong các chùa có hình tượng núi Tuyết Sơn là để nhắc lại bước đi tu hành thất bại chứ không phải là nơi đắc đạo của Đức Phật), hơn nữa, tư tưởng phát hiện của Ngài là “diệt” hoàn toàn trái với tư tưởng “sinh” của Bà La Môn giáo; cho nên, thể theo lời khuyên của Phạm Thiên và Đế Thích, Ngài quyết định trực tiếp tham gia truyền giáo Trong lần thuyết pháp thứ nhất tại Vườn Hươu (Mrgavana -Lộc Uyển) gần thành Ba La Nại (Benares), Ngài truyền đạo cho 5 đồ đệ (sau này được gọi là Ngũ tỳ kheo), 5 đồ đệ này đã từng cùng Ngài ngồi thiền tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn là: A Nhã Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinia), A Thấp Bà (Asvajit - A Thuyết Nhị - Mã Thắng), Bạt Đề (Bhadrika), Ma Ha Nam (Mahanamakulita - Ma Ha Nam Câu Lợi), Thập Lực Ca Diếp (Dasabalakasyapa) Tiếp theo sau đó, Ngài thu nạp và truyền đạo cho rất nhiều đệ tử, trong số đó có nhiều người đã từng là tu sĩ

Bà La Môn giáo nổi tiếng thời bấy giờ, cũng trong giai đoạn này đã xuất hiện 10 đệ tử nổi tiếng (Thập đại đệ tử), thường gặp trong các kinh là: Ma

Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa), Xá Lợi Phất (Sariputra), Mục Kiền Liên (Mahamaudgalyayana), Tu Bồ Đề (Subhuti), Phú Lâu Na (Purna), Ma Ha

Ca Chiên Diên (Maha Katyayana), A Na Luật (Aniruddha), Ưu Bà Ly (Upali), A Nan Đà (Ananda) và La Hầu La (Rahula)

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, do các đồ đệ nhận thức giáo lý của Ngài không thống nhất nên đã diễn ra 4 lần kiết tập để chỉnh lý thống nhất

Sau các lần kiết tập này, Phật giáo được truyền bá mạnh mẽ sang các nước phương Đông như đã nêu trên Do chịu sự chi phối của văn hoá bản địa

Trang 5

mà Phật giáo ở các nước này, bên cạnh những điểm chung, còn có những nét khác biệt

Ngay khi mới ra đời, Phật giáo phát triển rất thịnh vượng, số người theo đạo Phật tăng lên rất nhanh Dưới thời vua Axôka (273-237 TrCN) đạo Phật trở thành quốc giáo ở Ấn Độ Trong thời kỳ này, giáo lý đạo Phật, Kinh phật và các tổ chức Phật giáo đã được hình thành Năm 253 TrCN, một Đại hội Phật giáo lần đầu tiên được triệu tập tại Pataliputơra Vào thế klỷ III TrCN, đạo Phật đã được truyền bá rộng rãi sang Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Inđônêsia… [3, tr.190]

2.2 Bao dung hay khoan dung là thuộc tính của Tứ vô lượng tâm

Từ-bi-hỷ -xả là bốn trạng thái tâm cao thượng mà đức Phật thường dạy các đệ tử cư sĩ tại gia và xuất gia tu tập Những phẩm chất tốt đẹp này mọi người đều có thể tu tập để có được đời sống ý nghĩa và an vui thật sự Hai phẩm chất đầu liên hệ mật thiết với khổ đau và hạnh phúc của tác nhân Hai phẩm chất sau có mặt khi tâm của người sở hữu được an vui và thư thái Bốn trạng thái tâm này hành giả có thể tu tập đến sung mãn và không bị giới hạn trong một đối tượng, không gian và thời gian nào Bốn trạng thái tâm ấy một khi tu tập viên mãn được gọi là “tứ vô lượng tâm” Các trạng thái tâm này đem lại niềm an vui trong hiện tại và tương lai đối với những ai sở hữu chúng, không những trong thế giới ta-bà mà còn là nền tảng để sanh về các cõi Phạm thiên

Một khi người thực hành bốn trạng thái tâm này sẽ sở hữu được các phẩm chất quý giá khác như thương yêu, bao dung, tha thứ, độ lượng, vị tha, cởi mở, hợp tác, Chính vì vậy, nghĩa của lòng bao dung ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi của nghĩa thông thường như sự tha thứ của người lớn đối với người nhỏ, người tốt đối với kẻ xấu, mà đó là lòng

Trang 6

thương yêu rộng lớn và vô vị lợi được thể hiện trong các mối quan hệ giữa con người với con người, và với thú vật Cũng cần lưu ý, lòng bao dung không đồng nghĩa với sự đồng thuận, chấp nhận với những hành vi sai lầm, những lời nói không thực, hoặc những tà niệm, mà đó là sự cảm thông có trí huệ cho những lầm lỡ mà người tạo nên đã phát hiện những hành vi, lời nói và ý niệm không lợi ích, đưa đến sự tổn hại cho bản thân người thực hiện hay mọi mọi người mọi vật xung quanh Do đó, sự bao dung là nhận diện rất rõ về các hành vi và bản chất của tội lỗi, nhưng với tâm khoan thứ, cảm thông để tìm cách nâng cao phẩm chất của con người

Một người cha có tâm bao dung là người cha biết chấp nhận lỗi lầm của con, sẵn sàng tha thứ khi con vấp phải sai trái và khi con biết ăn năn, khắc phục Các thành viên trong gia đình biết bao dung đó là biết tha thứ cho nhau những vấp váp trong cách ứng xử đời thường và tình cảm Một người bạn có tâm bao dung sẽ dễ tha thứ cho bạn những lỗi lầm mà người bạn có thể lỡ tạo, gây khổ đau cho mình và cho người Một người lãnh đạo

có tâm bao dung là người biết bảo bọc đời sống vật chất và tinh thần của nhân viên, và sẽ dễ thông cảm cho những sơ thất trong quá trình làm việc Nói tóm lại, những trạng thái tâm lý như xoi mói, cố chấp, bảo thủ, thù hận, ganh tị, chắc chắn sẽ không tồn tại trong ý thức của những người có tâm bao dung rộng lớn

2.3 Lòng bao dung của đức Phật và đệ tử của Phật

Trong kinh Từ Bi (Metta Sutta), đức Phật khuyến khích mọi người

nên thực tập tâm Từ Tâm từ phải được huân tu cho được sung mãn và chia

sẻ (ban rải) cho mọi chúng sanh; tâm từ phải bao trùm vạn vật, sâu rộng và đậm đà Đối với đức Phật, tình thương Ngài dành cho La-hầu-la (Rahula), người con trai duy nhất khi ngài còn là Thái tử, không hề khác với A-nan

Trang 7

(Ananda) là vị thị giả trung kiên suốt 25 năm cuối đời, hay Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) luôn có dã tâm đối với đức Phật vì mục đích tham vọng của ông Đề-bà-đạt-đa xuất phát từ tâm ganh tị và tham vọng, ông hay chống đối và còn hãm hại đức Phật, lập kế giết Phật và bẫy đá hại Phật, nhưng không vì vậy Ngài phán xét ông ấy phải bị đọa địa ngục vĩnh kiếp, mà còn tuyên bố rằng, trong đời vị lai, Devadatta tinh tấn tu hành, đoạn trừ các lậu hoặc sẽ thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai

Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) một trong mười vị đệ tử lớn của Phật, được đức Phật ca ngợi là tướng quân Chánh pháp Một lần nọ, một người bạn đồng tu chỉ trích Tôn giả Sariputta có những hành vi không hợp lẽ đạo (đánh vị ấy) và có những lời không tao nhã với vị ấy Khi nghe như vậy, Tôn giả Sariputta không dùng quyền uy của một sư huynh với vai trò là đệ

tử lớn của đức Phật mà bắt nạt, quở phạt, mà ngược lại, Ngài trầm tĩnh trình bày lại sự kiện một cách chân thật, và còn xin lỗi vị sư ấy rằng Tôn giả không cố ý là phiền lòng huynh đệ Hạnh khiêm cung và lòng bao dung của Tôn giả khiến cho vị ấy thức tỉnh sám hối, ăn năn

Đức Phật dạy chư Tăng: ”Này các thầy Tỳ-khưu, dù cho có người nào dùng cưa hai lưỡi cưa đứt tay chân con thì con cũng không được để cho tâm bị ô nhiễm mà tức giận người đó Người nào còn giận dữ khi bị ai cưa tay chân mình thì người đó chưa thực hành đúng theo lời dạy của Như Lai” [2, tr.176] Như vậy, dù cho kẻ thù cưa tay chân bạn bằng cái cưa hai

lưỡi bạn cũng không nên nóng giận, nếu bạn còn giận dữ thì bạn cũng chưa thực hành đúng theo lời dạy của Đức Phật Tôi nghĩ đây là điều thực

sự khó thực hành Bởi vậy, trong Phật giáo sự khoan dung tha thứ, không giận dữ, không sân hận có tầm quan trọng đặc biệt Không phải chỉ khoan dung tha thứ con người thôi mà lòng khoan dung tha thứ này còn được trãi

Trang 8

rộng đến cả các loài thú Bởi vậy, giới đầu tiên của người Phật tử phải giữ

là không sát hại sinh mạng của chúng sinh dù đó là người, súc vật hay những côn trùng bé nhỏ Như vậy, lòng khoan dung tha thứ hay tình thương của những người Phật tử không phải chỉ giới hạn trong sự thương yêu con người mà thương yêu tất cả chúng sinh

Tư tưởng từ bi của Phật giáo ảnh hưởng rõ nét lên nhân sinh quan con người Việt Nam Con người Việt Nam thường lấy chữ nhân đối đãi với người khác, muốn cảm hóa người khác phải bằng cái tâm, không phải bằng sức mạnh Tư tưởng này phù hợp với điều kiện sống của người Việt Nam Với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, khí hậu khắc nghiệt nhiều thiên tai, để phù hợp với điều kiện đó con người Việt cần gắn kết nhau lại, vì thế

họ rất quý trọng tình làng nghĩa xóm, phải chăng điều này có ảnh hưởng chính từ tư tưởng phật giáo

Đạo Phật thừa nhận tất cả chúng sinh đều có phật tánh Đã có phật tánh thì dù các chúng sanh do hành nghiệp bất đồng bị quả báo sai biệt, nhưng phật tánh vẫn đầy đủ như nhau Như vậy, ta không thể bắt buộc mọi người đều hiểu biết, hành động như ta được Đạo Phật không cho rằng không phải chỉ y theo lời phật dạy tu hành mới đạt thành chánh quả, mà bất

cứ ai biết xét đúng lý sanh hóa của vũ trụ được giác ngộ đều chứng thành chánh quả cả

Tinh thần nhân đạo của Phật giáo thấm nhuần trong tư tưởng “lá lành đùm lá rách” của người Việt ta Chính người con ưu tú của nước Việt - Hồ Chí Minh - ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng này Sinh thời Bác làm cách mạng với một ham muốn tột bậc mỗi người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc,

ai cũng được học hành Muốn giành lại độc lập tự do cho dân tộc để dân ta được tự do, dân ta được hưởng ấm no hạnh phúc

Trang 9

Người Việt Nam ta còn có câu “Đánh kẻ chạy đi ai đánh người quay lại” Người Việt cảm hóa kẻ thù không chỉ bởi sức mạnh mà bằng cả cái tâm bao dung của mình Người Việt quan niệm con người ta phạm tội không phải là không cảm hóa được mà luôn mở ra con đường cho họ phục thiện Lấy nhân đối xử để cảm hóa những con người phạm tội, điều đó thể hiện rõ trong pháp luật của chúng ta ngày nay Pháp luật chúng ta mang nặng tính nhân đạo luôn hướng con người phục thiện

Tư tưởng bao dung hòa qưyện trong tư tưởng đại từ đại bi của Phật giáo Trên giải đất Việt Nam nhỏ bé, nhưng rất nhiều dân tộc sinh sống, nếu thiếu tâm lượng bao dung thì nổi loạn sẽ dâng khởi liên miên Vì thế tâm lượng bao dung của người Việt được biểu lộ cụ thể qua câu ca dao: Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Cùng chung sống trong một đất nước thì khổ vui cũng đồng chịu, người Việt luôn thương yêu đùm bọc lẫn nhau Với tinh thần chị ngã em nâng, sự cứu giúp này sẽ làm lành mạnh hóa tổ chức xã hội Đây tựu đáy lòng người dân Việt phát xuất ra những lời tha thiết: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng

Gặp cơn tai biến hoạn nạn, tình đòng bào chúng ta đâu nỡ làm ngơ,

ra tay cứu giúp nhau Người biết chia sẻ khổ đau cho nhau thật là một tình thương đáng kính trọng Tình thương đã phát ra ngôn ngữ: Đường xa xin chớ ngại ngùng/Trèo non, xuống biển ta đừng quên nhau

Người Việt cũng luôn hướng lòng chia sẻ đau thương mất mát cùng nhau Một miếng khi đói bằng một gói khi no Trước những mảnh đời bất hạnh ta nhường cơm sẻ áo, khi đồng bào lũ lụt thiên tai, cả nước góp sức chung lòng, giúp người vượt qua hoạn nạn

Sinh ra trong giàu sang phú quý nhưng đức Phật đã từ bỏ ngai vàng

ra đi tìm đường cứu khổ chúng sinh, giúp nhân gian thoát khỏi bể khổ trầm

Trang 10

nữa cũng đã bôn ba khắp năm châu để hoc tập con đường cách mệnh để về giúp nước giúp dân khi đất nước rơi vào cảnh lầm than

Mặt khác, Tôn chỉ Phật giáo hiện nay là “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ

nghĩa xã hội” Một số nhà chùa nêu khẩu hiệu “Hành Từ bi tát đầy bể khổ, tri Bát Nhã tát cạn sông mê”, “Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng Lấy đức báo oán, oán tự tiêu tan”… Giáo lý đạo đức nhà Phật có những điểm

tương đồng với yêu cầu xây dựng đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa Vì thế, tinh hoa triết học Phật giáo nói chung, lý luận lòng khoan dung nói riêng hiện còn có ý nghĩa tích cực đối với việc khuyến thiện, khuyến học; khuyên con người nên tu nhân, tích đức, hoàn thiện nhân cách, biết sống vì mọi người; ngăn chặn các tệ nạn xã hội như trộm cắp, tà dâm, giết người cướp của, làm hàng giả, buôn lậu, tham những, tham ô, lãng phí… [4, tr.127]

Lòng khoan dung của Phật giáo còn thể hiện: Với tinh thần “tương thân tương ái”, “thương người như thể thương thân” người dân Việt luôn sống với nhau có tình có nghĩa, có trách nhiệm, không làm ngơ trước cái khổ của người khác Trái lại, luôn dốc tâm, dốc sức để làm phúc, làm thiện, giúp đỡ người hoạn nạn và lấy đó làm điều kiện giải thoát cho mình, mong sao trời, đất, thần, Phật chứng dám ban cho mọi sự tốt lành, để rồi “giúp người người lại giúp cho”, “cứu người phúc đẳng hà sa”

Hơn lúc nào hết, dù trong khốn khó, càng trong khốn khó, người dân Việt càng sống nhân ái, thủy chung Thiên tai, bão lụt, mất mùa càng làm sáng ngời tình tương thân, tương ái của họ Sự đùm bọc lẫn nhau trong những hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, đó là một nghĩa cử cao đẹp, trong tình làng, nghĩa xóm ở họ Tình cảm đó đã được người dân Việt phát huy trong những hành động, nghĩa cử cao đẹp như ủng hộ đồng bào bão lụt, chăm sóc người già, người neo đơn, bệnh tật, giúp đỡ người nghèo, người hoạn nạn, xây dựng nhà tình nghĩa Sống có tình, có nghĩa, có đạo đức,

Ngày đăng: 22/06/2022, 08:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w