1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH TRONG THỰC HÀNH NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO

86 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh Trong Thực Hành Nghi Lễ Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo
Người hướng dẫn Phó Trưởng Khoa Viết Văn – Báo Chí
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Viết Văn – Báo Chí
Thể loại đề tài nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI ĐƠN VỊ KHOA VIẾT VĂN – BÁO CHÍ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM “CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH” VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TÂM LINH NGƯỜI VIỆT (Qua khảo sát một số đền, chùa, điện, phủ trên địa bàn thành phố Hà Nội) Sinh viên thực hiện Lớp SĐT Email Giáo viên hướng dẫn Đơn vị chủ trì Hà Nội, năm 1 LỜI CẢM ƠN Trong cuộc sống cũng như trên con đường học tập nghiên cứu, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những hỗ trợ c.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI ĐƠN VỊ: KHOA VIẾT VĂN – BÁO CHÍ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM

“CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH”

VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TÂM LINH NGƯỜI VIỆT

(Qua khảo sát một số đền, chùa, điện, phủ trên địa bàn thành phố Hà Nội)

Sinh viên thực hiện :

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong cuộc sống cũng như trên con đường học tập nghiên cứu, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những hỗ trợ của mọi người xung quanh ta Trải qua thời gian từ khi bắt đầu tham gia nghiên cứu khoa học tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý thầy cô, người thân và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi đến thầy cô Khoa Viết Văn – Báo chí cùng các quý thầy cô tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã dành tri thức và tâm huyết của mình cho

em Em thiết nghĩ, nếu không có những hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô thì

đề tài nghiên cứu khoa học của em rất khó có thể hoàn thiện tốt đẹp

Em cũng xin tri ân sâu sắc đến ……… – phó trưởng khoa Viết Văn – Báo chí đã nhiệt tình hướng dẫn, dành bao tâm huyết chỉ bảo để em hoàn thành đề tài này

Đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên nên trong quá trình nghiên cứu cũng như quá trình hoàn thiện, không sao tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các quý thầy

cô niệm tình chỉ bảo cho bài nghiên cứu của em được hoàn thiện và để những công trình nghiên cứu sau được dày dặn, chu tất hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 10

Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ TÁC PHẨM CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH CỦA NGUYỄN DU 10

1.1 Những vần đề chung về văn hóa tâm linh 10

1.1.1 Khái niệm văn hoá 10

1.1.2 Khái niệm tâm linh 11

1.1.3 Khái niệm văn hoá tâm linh 13

1.1.4 Các bình diện văn hóa tâm linh 14

1.2 Tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du. 17

1.2.1 Vài nét khái quát về tác giả Nguyễn Du 17

1.2.2 Tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh 19

Chương 2: CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH TRONG THỰC HÀNH NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO 28

2.1 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong nghi lễ của Đạo Mẫu dân gian Việt Nam. 28 2.1.1 Đôi nét về Đạo Mẫu dân gian Việt Nam 28

2.1.2 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ của Đạo Mẫu dân gian Việt Nam 30

2.2 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành các nghi lễ Phật giáo. 33

2.2.1 Đôi nét về Phật giáo 33

2.2.2 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ Phật giáo 35

2.3 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ Đạo giáo. 43

2.3.1 Đôi nét về Đạo giáo 43

2.3.2 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ Đạo giáo 44

Chương 3: Ý NGHĨA GIÁO DỤC, CẢNH TỈNH, KÝ THÁC CỦA CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 50

3.1 Ý nghĩa giáo dục, cảnh tỉnh, ký thác trong Chiêu hồn thập loại chúng sinh. 50

3.1.1 Ý nghĩa giáo dục, hướng thiện con người 50

3.1.2 Thờ cúng và bài học đạo hiếu, lòng bao dung 51

3.1.3 Tình đoàn kết 53

Trang 4

3.1.4 Lòng thương yêu con người và ước vọng về sự giải thoát 54

3.2.Chiêu hồn thập loại chúng sinh và trách nhiệm bảo tồn, giữ gìn giá trị văn hóa, văn chương của dân tộc 63

3.2.1 Đối với những người hoạt động trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo 63

3.2.2 Đối với những người hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa 65

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 71

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hoá tâm linh là một bình diện đặc biệt của văn hoá dân tộc, chứa đựng trong

nó những giá trị tinh thần vừa phong phú, vừa phức tạp của con người Đời sống tâm linh là đời sống hướng tới những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng được thể hiện qua tập tục, tín ngưỡng mang bản sắc riêng biệt của mỗi quốc gia, dân tộc

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hoá tâm linh của người Việt đã hình thành

và tồn tại như một phần quan trọng trong đời sống nhân sinh với nhiều dạng thức phong phú, phức tạp và đến lượt nó, lại có ảnh hưởng, tác động tới nhiều lĩnh vực văn

hóa – tinh thần xã hội, trong đó có văn học Sự ra đời của tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh (Nguyễn Du) là một hiện tượng văn hóa – văn học thú vị cho thấy mối

quan hệ nói trên

Vậy điều gì đã khiến Chiêu hồn thập loại chúng sinh từ chỗ là một sáng tác văn

chương, nơi gửi gắm thông điệp nghệ thuật về con người và đời sống của đại thi hào Nguyễn Du lại có được sự ảnh hưởng vừa sâu rộng, vừa dài lâu trong hoạt động nghi lễ/ nghi thức của tín ngưỡng tôn giáo cũng như đời sống văn hoá tâm linh người Việt? Trải qua biến thiên lịch sử, văn hóa, tác phẩm có còn được hiểu và sử dụng với đúng ý nghĩa của nó hay không? Đó là những câu hỏi mà ngày nay chúng ta cần quan tâm, giải đáp

Được xem như “không gian thiêng” trong đời sống văn hóa của một dân tộc cũng như trong thế giới tâm hồn, tình cảm của mỗi cá nhân, các yếu tố của tâm linh với biểu hiện cụ thể từ nhận thức, quan niệm tới thái độ ứng xử, nghi lễ/ nghi thức…cũng trở thành đối tượng phản ánh của văn chương nghệ thuật nhằm hướng con người tới giá trị tinh thần cao quí, tốt đẹp đầy tính nhân văn Điều này đã tạo nên sự hấp dẫn, thú vị cho tác phẩm mà chúng ta cần tìm hiểu

Trong bối cảnh “mở cửa” hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, khi câu chuyện “hỗn nhập văn hoá” khiến đời sống văn hoá tâm linh ở Việt Nam có những biến đổi ở cả

chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực thì việc tìm hiểu mối quan hệ giữa tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh với đời sống văn hóa tâm linh người Việt góp phần hạn chế

cái nhìn phiến diện, sai lệch về thế giới tâm linh mà tác giả tái hiện trong tác phẩm

Trang 6

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục, thức nhận con người hướng tới những giá trị nhân văn cao đẹp của đời sống

2 Lịch sử nghiên cứu

Là một thành tố quan trọng của văn hóa dân tộc, vấn đề văn hóa tâm linh đã dành được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ở lĩnh vực khác nhau như: Văn hóa học, tôn giáo học, dân tộc học Đặc biệt từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay, ngày càng có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu bàn luận, lý giải vấn đề này ở góc độ khoa học Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

như: Công trình nghiên cứu Văn hóa tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy xuất bản năm 2002 [6] đã đề xuất khái niệm tâm linh, văn hóa tâm linh khá đầy đủ: “Tâm linh

là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [6, tr.11] “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [6, tr.12] Công trình chủ

yếu viết về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong các lĩnh vực như: Tín ngưỡng thần thánh, trời, đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo Tác giả cũng điểm qua tâm linh trong mọi mặt của đời sống cá nhân, gia đình, tín ngưỡng, tôn giáo và cả mê tín dị đoan Tâm linh cũng

được Sơn Nam đề cập trong bài Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hóa Việt Nam [16] Theo tác giả: “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa cho tới nay,

từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca khúc về tổ quốc và cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình thường trong cuộc sống” Tâm linh của con

người ngưng đọng trong trí nhớ và con người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình

đã tin, đã làm “Trí nhớ không phải đứng dừng một chỗ, lâu ngày phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh” [16, tr.130] Hồ Bá Thâm trong bài viết Tín ngưỡng dân gian- một lĩnh vực trong đời sống tâm linh cần sự quan tâm của xã hội [22] cũng khẳng định: “Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận cơ bản của văn hóa tâm linh, một lĩnh vực nhạy cảm mà trong lịch sử nhận thức và giao tiếp văn hóa đã có những nhận thức, đánh giá khác nhau” Chính vì vậy theo tác giả, chúng ta cần phải có sự quan

tâm đúng mức đối với lĩnh vực này

Trang 7

Xuất phát từ quan niệm và cách lý giải nói trên về tâm linh và văn hóa tâm

linh, trong một số bài viết các tác giả đã khẳng định và lý giải mối quan hệ giữa Chiêu hồn thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du với đời sống văn hoá

tâm linh người Việt Ví dụ như các công trình, bài viết của tác giả Chơn Hạnh

Nguyễn Du trên con đường trở về Phật giáo (Tạp chí Tư tưởng số 8, 1970); Hoàng Xuân Hãn: Lễ vu lan với Văn tế cô hồn (Tạp chí Văn học số 2, 1977); Vũ Văn Kính: Mấy ý kiến về việc hiệu đính Văn tế thập loại chúng sinh (Tạp chí Văn học, số 4, 1978); Nguyễn Đăng Duy: Văn hoá tâm linh, Nxb , 2002 Đa số các

công trình, bài viết tập trung tìm hiểu những ảnh hưởng của tư tưởng/ triết lý Phật giáo đối với sự ra đời cũng như giá trị nhân văn cao đẹp của tác phẩm

Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiếp tục đề cập, tìm hiểu những tác

động, ảnh hưởng trở lại của Chiêu hồn thập loại chúng sinh với đời sống văn hóa tâm

linh thông qua sự hiện diện của nó trong các nghi lễ tín ngưỡng và tôn giáo cũng như giá trị giáo dục, cảnh tỉnh con người thông qua tư tưởng, triết lý nhân sinh cao đẹp, giàu giá trị nhân văn mà tác phẩm đem lại

Đặc biệt, so với hầu hết các bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

trước đây thường thiên về khẳng định ảnh hưởng của Chiêu hồn thập loại chúng sinh

trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở khía cạnh tư tưởng, nhận thức, đề tài của chúng tôi bổ sung thêm khía cạnh thực tiễn của mối quan hệ này qua việc khảo sát, tìm hiểu

phân tích, ứng dụng Chiêu hồn thập loại chúng sinh vào trong thực hành các nghi lễ/nghi thức tín ngưỡng và tôn giáo Chiêu hồn thập loại chúng sinh đã đi vào đời sống

tín ngưỡng dân gian, tôn giáo thông qua các nghi lễ/ nghi thức nào? Màu sắc biểu hiện

ra sao? Trải qua biến thiên lịch sử nó còn giữ được giá trị tư tưởng nhân văn thuần túy, cao đẹp mà Nguyễn Du muốn gửi gắm hay không? Đây là những vấn đề rất phức tạp song cũng vô cùng thú vị

Theo quan sát của chúng tôi, việc tìm hiểu, cắt nghĩa giá trị văn hóa tâm linh của

tác phẩm qua những nghi thức/ nghi lễ tín ngưỡng và tôn giáo là hướng nghiên cứu

còn khá mới mẻ Những kết quả nghiên cứu, vì thế, sẽ giúp ta phát hiện, lý giải thêm nhiều vấn đề quan trọng, thú vị trong đời sống văn hóa, văn học dân tộc

Trang 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm nghiên cứu, tìm hiểu ảnh hưởng của Chiêu hồn thập loại chúng sinh

với việc ứng dụng thực hành trong nghi lễ/ nghi thức của một số địa điểm tâm linh trên địa bàn Hà Nội (chùa, điện, đền, phủ), từ đó làm sáng tỏ vai trò và giá trị của tác phẩm đối với đời sống nhân sinh hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa đến cái nhìn bao quát nhất việc ứng dụng thực hành tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh vào các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo mà điển hình là nhà chùa,

phủ, điện mẫu trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Từ hiện tượng Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thấy được tính

đa dạng, độc đáo trong vận động của đời sống văn hóa, văn học dân tộc, đặc biệt là hiện tượng “tâm linh hóa” sáng tác văn học

- Phân tích ý nghĩa tư tưởng – tâm linh của Chiêu hồn thập loại chúng sinh thông

qua triết lý nhân sinh tác giả gửi gắm trong tác phẩm: lòng thương yêu giữa con người với con người; ý thức hướng thiện “làm lành, lánh ác”, niềm tin và khát vọng hướng tới thế giới an vui, giải thoát nơi cõi Niết Bàn

4 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tìm hiểu mối quan hệ giữa “Chiêu hồn thập loại chúng sinh” với đời sống văn hóa tâm linh người Việt là một vấn đề khá thú vị nhưng cũng không hề đơn giản Bởi Chiêu hồn thập loại chúng sinh gắn liền với tên tuổi đại thi hào Nguyễn Du, cũng là

một tuyệt tác xưa nay mà hầu như ai cũng biết tới Tuy nhiên, việc nghiên cứu tính thực tiễn của tác phẩm (qua thực hành các nghi thức/ nghi lễ) trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn là điều khá mới mẻ; còn văn hóa tâm linh, đời sống tâm linh lại vô cùng phong phú, phức tạp, vượt quá phạm vi một đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cũng như vốn tri thức bản thân Cho nên khảo sát đề tài này, chúng tôi chủ

yếu tập trung tìm hiểu thực tiễn việc ứng dụng tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ/ nghi thức tín ngưỡng và tôn giáo tại một số chùa, điện,

đền, phủ trên địa bàn thành phố Hà Nội Chúng tôi hy vọng việc khảo sát, tìm hiểu này

sẽ giúp ta hình dung đầy đủ hơn mối quan hệ cùng ảnh hưởng của bài văn tế với đời sống tâm linh người Việt

Trang 9

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung tìm hiểu một số vấn đề, khía cạnh có liên quan như: giới thiệu khái quát về văn hóa, văn hóa tâm linh và tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh; mối quan hệ giữa tác phẩm với đời sống văn hóa tâm linh người

Việt trên các bình diện: nghi lễ/nghi thức và ý nghĩa giáo dục, cảnh tỉnh, ký thác thông qua giá trị tư tưởng và triết lý nhân sinh của tác phẩm

- Phạm vi tư liệu: trong số khá nhiều văn bản được chuyển thể quốc ngữ và lưu

hành trên thị trường với tên gọi khác nhau (Văn chiêu hồn, Văn tế thập loại chúng sinh…), chúng tôi xin chọn văn bản Chiêu hồn thập loại chúng sinh in trong cuốn Nguyễn Du toàn tập (tập 1) do nhóm tác giả Mai Quốc Liên, Nguyễn Minh Hoàng

biên khảo, Nxb Văn học, quí IV năm 2015 Hiện đây là văn bản mới nhất được công

bố với phần dịch quốc ngữ, hiệu đính rõ ràng, công phu, mang tính khoa học và cập nhật cao (xin xem toàn văn trong Phụ lục 2, trang 73 - 76) Ngoài ra chúng tôi sử dụng

thêm tác phẩm khác của Nguyễn Du như Truyện Kiều, thơ chữ Hán; kinh Phật, các

khoa nghi trong đàn tràng cúng cô hồn và sách nghiên cứu về tôn giáo cũng như các sách, tài liệu về phong tục tín ngưỡng, tôn giáo của một số tác giả, những nhà nghiên cứu đi trước để so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ hơn những nội dung đặt ra trong đề tài

- Phạm vi không gian: một số nhà chùa, điện mẫu, đền, phủ trên địa bàn thành phố Hà Nội (phụ lục 1, trang 71, 72)

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: bao gồm hình thức đọc, nghe, xem các tài

liệu bằng văn bản, hình ảnh, bảng từ, internet … liên quan để tìm ra tư liệu cần thiết phục vụ đề tài

- Phương pháp thống kê – phân loại: nhằm thống kê và phân loại các tác phẩm

cùng loại trong việc ứng dụng vào nghi lễ nghi thức tín ngưỡng tôn giáo

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp

văn bản, đưa ra những luận điểm khái quát của đề tài

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: nhằm làm nổi bật nét tương đồng cũng như

sự khác biệt của tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh với một số các tác phẩm của

các tác giả khác trên phương diện thế giới quan, nhân sinh quan

Trang 10

- Phương pháp khảo sát thực tế: đi vào thực tế để thấy được không gian hoạt

động tâm linh, phỏng vấn trực tiếp đối tượng thực hành nghi lễ nghi thức, sau đó để làm tư liệu viết nghiên cứu

6 Kết cấu nội dung nghiên cứu khoa học

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của nghiên cứu gồm

3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về văn hóa tâm linh và tác phẩm Chiêu hồn

thập loại chúng sinh của Nguyễn Du

Chương 2: Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ tín ngưỡng

và tôn giáo

Chương 3: ý nghĩa giáo dục, cảnh tỉnh, ký thác của Chiêu hồn thập loại chúng

sinh và những bài học kinh nghiệm

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ

TÁC PHẨM CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH CỦA NGUYỄN DU

1.1 Những vần đề chung về văn hóa tâm linh

1.1.1 Khái niệm văn hoá

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo có từ thưở bình minh của xã hội loài người Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần của

từng cộng đồng người Như vậy có thể khẳng định: tất cả những gì không phải là thiên nhiên/ tự nhiên đều là văn hoá

Riêng ở nước ta, cũng có khá nhiều quan niệm về văn hoá

Một quan niệm về văn hóa phổ biến nhất thường được nhắc tới như của Chủ tịch

Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mọi mặt ăn,

ở, và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá” (Th.s Nguyễn Thành Nam, 2015, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Tr 7)

Cũng trên tinh thần và quan niệm như vậy, Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng

khẳng định: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn bao gồm những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử … cốt lõi của sự sống dân tộc là văn hoá với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bảo gồm cá hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm

và tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” (Th.s

Nguyễn Thành Nam, 2015, Cơ sở văn hóa Việt Nam, K Văn hóa học, Tr 7, 8)

Trong giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, GS.TS Trần Ngọc Thêm cũng đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [24, tr.17]

Trang 12

Từ những định nghĩa trên có thể thấy 4 đặc trưng cơ bản của văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Ở đây chúng tôi căn cứ vào tính giá trị của văn hoá Theo đó có thể chia giá trị văn hoá thành 2 loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hoá tinh thần là những dấu ấn tinh thần/những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia, dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Điều này đã từng được nhà nhân học E.B Tylor đề cập trong

công trình Văn hoá nguyên thuỷ năm 1871: “Văn hoá như một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật đạo đức, luật pháp, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được” [28, tr.21] Nhà nghiên cứu A.K Vlêđốp thì giải thích cụ thể và nhấn mạnh: “Việc coi văn hoá tinh thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hoá tinh thần như sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần Cũng với quan niệm như trên, tổ chức Giáo dục, Khoa học và

Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã đưa ra quan niệm đầy đủ hơn về văn hóa Đó

là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy

đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống

mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình Chính vì vậy: Văn hoá nên được xem là tập hợp các đặc trưng tâm linh, vật chất, trí tuệ, cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, các chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin”

Với đối tượng là Văn hoá tâm linh, chúng tôi căn cứ trên định nghĩa của

UNESCO để định hướng cho việc tìm hiểu các phong tục, tập quán, nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo…, tức là những vấn đề gắn liền với yếu tố tâm linh – hoạt động tâm linh trong đời sống văn hoá tinh thần dân tộc

1.1.2 Khái niệm tâm linh

Tâm linh bao gồm kết hợp của hai chữ: tâm và chữ linh tạo nên Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, tâm có nghĩa là tim (lòng), thuộc về thế giới bên trong; linh

có nhiều nghĩa như: linh trong hoạt động , nhạy bén; linh trong tinh thần chỉ người đã mất (linh hồn); linh còn dùng để nói đến ứng nghiệm, bói toán; linh cũng là biểu trưng

cho sự thiêng liêng cao cả và huyền diệu

Trang 13

Vậy Tâm linh là niềm tin của con người vào sự thiêng liêng Một trong những

xác định súc tích và khá chính xác về tâm linh phải kể đến là khái niệm tâm linh của

nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng cho cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được nghưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [6, tr.11]

Từ khái niệm của Nguyễn Đăng Duy, chúng ta nhận thấy tâm linh trước hết phải gắn liền với ý thức con người Cũng tức là sẽ không có tâm linh nằm ngoài ý thức con người Nhưng ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn Nên chỉ khi nào con người có ý thức về cái thiêng, cái cao cả thì mới gọi đó ý thức tâm linh Không như các dạng ý thức khác, ý thức tâm linh tựa như mạch suối ngầm nuôi dưỡng tâm hồn người, làm thăng hoa đời sống tâm linh của con người Ý thức tâm linh không chỉ tồn tại ở dạng ý niệm mà nó còn được biểu hiện ra ở những hình ảnh, những biểu tượng phát ra tín hiệu thiêng về cội nguồn đất nước, tổ tiên, tình yêu quê hương như đình, chùa chiền, đền, miếu mạo Rồi tới lúc nào đó, các biểu tượng thiêng này quay trở lại tác động vào tâm hồn những rung cảm thẩm mỹ, khiến nó tự bộc lộ ra bằng những hoạt động cụ thể như cúng vái, cầu nguyện, tham gia hội hè Tâm linh do đó, tự bản thân nó có sức truyền cảm, tập hợp to lớn khó cưỡng lại được Tâm linh có trong mọi mặt đời sống con người từ phạm vi cá nhân, gia đình đến phạm vi cộng đồng làng xã,

tổ quốc, từ các loại hình nghệ thuật đến tín ngưỡng, tôn giáo

Một câu hỏi đặt ra là, tâm linh bắt nguồn từ đâu? Phải chăng tâm linh có cơ sở từ niềm tin? Thật vậy, nói đến tâm linh là nói đến niềm tin của con người Bởi không ai sống mà không có niềm tin Nó là hạt nhân cơ bản xác lập mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên Cũng theo Nguyễn Đăng Duy,

niềm tin được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, song có thể quy về ba cấp độ: Niềm tin trao đổi, niềm tin lý tưởng và niềm tin tâm thức Trong đó niềm tin tâm thức gắn liền với tâm linh, gắn liền với niềm tin thiêng liêng vì nó có sự hòa quyện cả tình cảm

và lí trí, dẫn đến sự say đắm, say sưa tự nguyện hành động theo niềm tin ấy Đó là

niềm tin thiêng liêng về tổ tiên, niềm tin về Mẫu, Phật, Trời, niềm tin về các vị thần, thành hoàng, Niềm tin thiêng liêng do vậy được xem là yếu tố then chốt tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa và trang trọng Một xã hội văn minh, phát triển, niềm tin thiêng liêng, niềm tin cao cả càng có giá trị bền vững

Trang 14

Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn nội hàm tâm linh, thiết nghĩ chúng ta nên đặt nó trong mối tương quan với các khái niệm khác: tâm linh với tín ngưỡng - tôn giáo, tâm linh với mê tín dị đoan

1.1.3 Khái niệm văn hoá tâm linh

Từ việc giới thuyết về khái niệm văn hóa và khái niệm tâm linh, chúng tôi nhận thấy tất cả những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn hóa tâm linh Hơn nữa đã gọi là tâm linh thì nó không thể mất đi được Tâm linh là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người và khi đó họ ứng xử với tâm linh một cách

có văn hóa Chẳng hạn như những dịp xuân về, tết đến, dù xa xôi cách trở, dù đi đâu

và ở đâu, thì ai cũng muốn về sum họp với gia đình, với làng quê để thắp những nén hương lên trên bàn thờ gia tiên, trước là báo cáo với tổ tiên ông bà, con đã về; sau nữa

là cầu khấn vong linh những người thân quá cố phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, làm ăn tấn tới Cũng có khi do điều kiện, hoàn cảnh con người ta không được về nơi chôn nhau cắt rốn, về với gia đình trong ngày thiêng liêng nhất, họ vẫn một lòng hướng về cội nguồn bằng cách lập bàn thờ “vọng” kính cẩn dâng lên những nén hương

để tưởng niệm, khấn vái, cầu nguyện, tâm tình, chia sẻ với ông bà, cha mẹ, người thân

đã qua đời Hoặc cứ đến ngày 15/7 âm lịch hằng năm, mọi nhà đều cúng cô hồn Những việc làm này không biết tự bao giờ đã đồng hành cùng với con người Việt Nam

ta cho tới ngày nay

Như vậy, có thể khẳng định rằng đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần, ở đó con người tin vào cái thiêng Ở đó con người chủ yếu sống với phần tâm linh của mình Đó là không gian của những thần cây đa, ma cây gạo, của thần thánh, Phật tiên… Đó là thời gian giỗ, tết, các lễ hội với phần lễ thiêng liêng, những thời điểm giúp con người giao hòa với trời đất, thiên nhiên và các thế lực thánh thần Sống trong không gian, thời gian mang tính tâm linh ấy, con người được giải tỏa, cởi

bỏ phiền muộn, lo âu, cầu những điều tốt đẹp cho mình và người thân

Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi, khái niệm văn hóa tâm linh của Nguyễn Đăng

Duy là tương đối đầy đủ: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [6, tr.26]

Trang 15

Thuộc lĩnh vực tinh thần, nhưng văn hóa tâm linh không chỉ gồm giá trị văn hóa

vô hình (nghi lễ, tập tục, ý niệm ) mà ở cả những yếu tố hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng như: chùa, đình, đền, miếu, phủ, nhà thờ

Tóm lại, với những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn có thể khẳng định, văn hóa tâm linh là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện đã góp phần tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa dân tộc

Như đã trình bày ở trên, trong điều kiện về thời gian và khả năng của người viết, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu văn hóa tâm linh trong hoạt động tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt Nam ta

1.1.4 Các bình diện văn hóa tâm linh

Tâm linh là yếu tố “thiêng” trong tâm khảm con người mà biểu trưng của yêu tố tâm linh là tín ngưỡng và tôn giáo Xuất phát từ những giá trị cao đẹp và ý nghĩa do vậy tâm linh đã trở thành nét đẹp văn hoá – “Văn hoá tâm linh”

Tín ngưỡng và tôn giáo hai yêu tố thiêng liêng trong tâm thức của cư dân Việt Người nước ta từ thủa xưa đã luôn coi đó là những cái không thể thiếu và khó có thể tách rời trong niềm tin kính, tương quan giao cảm giữa trời đất và con người Xuất phát từ mưu cầu sự bình an và hạnh phúc, tránh đi những tai ương, hạn ách, mất mùa, thiên tai lũ lụt, nên con người luôn tìm mọi cách để đạt được nó Thiếu lương thực thì

ra sức lao động tạo ra của cải, lương thực; hạn hán thì đào ao, sông, hồ để trữ nước, chống lụt thì đắp đê,… Nhưng rồi họ vẫn thấy sợ, thấy thiếu một cái gì đó mà họ gọi là những điều thiêng liêng, huyền diệu, cao cả và uy linh khó có thể lấy con mắt thường

mà lý giải cho được Chính vì vậy dần dần hình thành trong họ những hoạt động tâm linh - cầu cúng lên đấng siêu nhiên mà họ cảm thấy tri phối họ, từ đó dần tạo nên những “lối mòn” tín ngưỡng

Cũng xuất phát từ lòng tin vô hạn, có những con người đã dấn thân không biết mệt mỏi tìm ra những chân lý giúp con người trở lên sáng suốt hơn, niềm tin yêu lưu

lộ ra ngoài bằng hành động việc làm những lời răn dạy, tập hợp thành kinh điển giáo luật cho những ai theo những “người sáng suốt” thì phải tuân theo, phụng sự những tư tưởng ấy Những con người ấy là: Đức phật Thích Ca, Chúa Giesu, …Một bước tiến cao hơn và xa hơn tín ngưỡng đó là Tôn giáo

Trang 16

Hai yếu tố không tách rời nhau là tín ngưỡng và tôn giáo đã dần dần trở thành yếu tố thiêng “tâm linh” trong đời sống của con người Nó thể hiện ở hai bình diện/ khía cạnh: những giáo lý kinh điển của tín ngưỡng, tôn giáo và những biểu hiện tín ngưỡng, tôn giáo qua nghi lễ/ nghi thức

Thứ nhất, những lời dạy, khoa nghi, kinh điển của tín ngưỡng, tôn giáo thì rất rộng Người Việt vốn có hệ thống tín ngưỡng rất đa dạng như: tín ngưỡng thờ mẫu, thờ vua Hùng, tín ngưỡng vòng đời người, nghề nghiệp hay thờ cô hồn, …Tuy nhiên hệ thống giáo lý của tín ngưỡng không nhất quán Nó chỉ rải rác, xuất hiện trong những

khoa nghi, sớ, biểu,…, cá biệt qua những áng thơ văn như Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (Lê Thánh Tông) hoặc Chiêu hồn thập loại chúng sinh (Nguyễn Du)…mà thôi

Tuy nhiên những dạng tồn tại này một là không mang tính hệ thống, hai là việc sử dụng/ vận dụng trong thực tế cũng mang tính chất cá nhân nên không thể xem là giáo

lý có tính đại diện cho tín ngưỡng nào đó

Khác với tín ngưỡng, các tôn giáo thường có hệ thống những giáo lý, kinh điển riêng của mình được hình thành từ những lời răn dạy của các vị giáo chủ,

được kết tập lại thành Kinh như: đạo Phật với Tam tạng kinh điển - một công trình

giáo lý đồ sộ gồm Kinh – Luật - Luận với hàng ngàn cuốn kinh sách; Công giáo

với 2 bộ kinh thánh, kinh Cựu ước và Tân ước (Cựu ước gồm 46 quyển kinh; Tân ước gồm 27 quyển), … Mỗi kinh sách, giáo điển lại mang những đặc trưng riêng

cho tôn giáo ấy

Thứ hai, hoạt động thực hành nghi lễ/ nghi thức của tín ngưỡng và tôn giáo Đối với tín ngưỡng như đã bàn trên là những nghi thức cầu cúng, tế lễ vào những ngày lành tháng tốt Còn như tôn giáo các nghi lễ nghi thức lại không tôn giáo nào giống tôn giáo nào, mỗi tôn giáo lại có những tiêu chuẩn, đặc thù riêng Ở đây chúng tôi xin bàn sâu vào Đạo phật – một tôn giáo có lịch sử lâu đời tồn tại và phát triển trên đất nước

ta Lý do từ một tôn giáo ngoại sinh có thể ăn sâu bén rễ trong một dân tộc chắc hơn hẳn là có lý do của nó Lý do tôn giáo này phát triển mạnh mẽ trong lòng dân tộc đó là Đạo phật đã hoà mình, bản địa hoá vào văn hoá dân tộc Việt Chân nghĩa, giáo lý thì vẫn giữ nguyên hương vị, còn cách hoằng hoá thì uyển chuyển với lời ăn tiếng nói, cách sinh hoạt của cư dân vùng văn hoá lúa nước này Các Tổ sư Nam Việt thật tài tình khi đã dung hoà triết lý của Đạo phật vào đời Trong những điều đó ta phải kể đến những nghi lễ/ nghi thức của Phật giáo được sáng tạo trước tác, đưa vào đời sống phục

Trang 17

vụ tín ngưỡng của người Việt Từ cầu an cho người còn sống đến việc độ âm (cầu siêu) cho người đã mất đều được các hành giả của Đạo phật căn cứ vào kinh Phật tạo thành những khoa nghi, truyền lại cho đời sau cứ như vậy mà thực hành đều được linh ứng, màu nhiệm Qua những nghi lễ/ nghi thức đó đều hàm chứa những triết lý nhân

sinh cho cuộc sống Thuỷ lục chư khoa - một nghi thức của Phật giáo được ra đời từ

thời Trần do đệ tam tổ sư Trúc Lâm Huyền Quang tôn giả biên soạn là một công trình khoa nghi độ âm nổi tiếng vang mãi đến ngày hôm nay, cũng là nghi thức có ảnh hưởng sâu sắc đến sự xuất hiện một số bài văn tế sau này Với nhiều cái tên khác nhau đặt cho một nghi thức, hình thức thể hiện tuy có khác nhau nhưng đồng về ý nghĩa

như: Cứu bạt Diệm khẩu Ngạ quỷ Đà - la - ni của ngài Bất Không thời Đường; Du - Già Diệm khẩu thí thực khoa nghi của ngài Thiên Cơ thời Minh; Du – Già thí thực nghi quỹ do ngài Châu Hoằng – Vân Thê biên soạn,… đó đều là những nghi thức bạt

độ cô hồn chúng sinh Khi tới Việt Nam nó đã nhiều ít tác động, ảnh hưởng tới Lê

Thánh Tông trong Thập giới cô hồn hay bài văn tế Chiêu hồn thập loại chúng sinh của

Nguyễn Du Những khoa nghi này được đưa vào hiến cúng, đọc tụng trong những đàn tràng, chẩn tế chúng sinh:

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo, Của có chi bát cháo nén nhang, Gọi là manh áo thoi vàng, Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên

Ai tới đó dưới trên ngồi lại, Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều, Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh

Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có chăng chăng

Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài

Tất thảy các Bình diện của văn hoá tâm linh mà cụ thể ở đây là những tín ngưỡng

và tôn giáo được lưu suất, tồn tại trong lời dạy, kinh điển, giáo lý đến những nghi lễ/ nghi thức của tín ngưỡng và tôn giáo thực sự rất đa dạng và sâu sắc Những điều đó

Trang 18

luôn được song hành phát triển với những nét đẹp văn hoá khác của quốc gia, dân tộc Việt

1.2 Tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du

1.2.1 Vài nét khái quát về tác giả Nguyễn Du

* Cuộc đời

Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là

Hồng Sơn Lạp Hộ, ông sinh năm Ất dậu 1765, tại làng Tiên Điền, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Cha là Nguyễn Nghiễm (1708-1775) đậu Hoàng giáp (nhị giáp tiến sĩ) làm quan dưới triều Lê, được thăng chức cao nhất là Xuân quận công Mẹ là Trần thị Tần (1740-1778) người thuộc tỉnh Bắc Ninh

Năm 1776, cha ông qua đời, khi đó ông được 11 tuổi Năm 1778, mẹ ông cũng tạ thế Nguyễn Du mồ côi cha lẫn mẹ nên được người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khải đem về nuôi, lớn hơn ông 31 tuổi

Nguyễn Du tư chất thông minh Năm 1783, khi 19 tuổi, ông thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tú Tài Ông không ra làm quan dưới thời Tây sơn mà chỉ lấy việc ngao du sơn thủy làm thú tiêu khiển Năm 1802, Gia Long thống nhất sơn hà, thu giang sơn về một mối, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long Lúc ấy Nguyễn Du đã được gần 40 tuổi (1765-1802) Ông đã chứng kiến nhiều biến cố xảy ra trong thời Lê mạt, những cuộc tranh giành quyền bính, giết chóc, chiến tranh, khói lửa ngập trời:

Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

(Truyện Kiều)

Nay đất nước đã thay chủ đổi ngôi, bánh xe lịch sử đã đi qua một giai đoạn mới: sứ mạng lịch sử của nhà Lê đã cáo chung, Nguyễn Ánh - Gia Long bắt đầu viết trang sử mới cho dân tộc và muốn chiêu dụng nhân tài ra giúp chế độ mới Nguyễn Du được mời ra làm quan cho vương triều này

Nguyễn Du là vị quan rất thanh liêm, ông sống rất thanh đạm, thậm chí có lúc

đau ốm ông không có đủ tiền chạy thuốc men: “Từ ngày khởi nghĩa Cần Vương thất bại, tiên sinh trốn vào Gia Định không xong, bị giam lỏng ở quê nhà, đã trải qua bao nhiêu khổ cực: Mới ba mươi tuổi, đầu đã bạc, bệnh tật không có thuốc uống, thân

Trang 19

thể đau ốm gầy gò, khi nằm phải lấy bó sách mà kê cho khỏi đau xương, mặt mày xanh xao phải nhờ chén rượu mới có nhan sắc, bế nước thì cả ngày không nấu nướng….” (Doãn Quốc Sỹ và Việt Tử, Khảo luận về Đoạn trường tân thanh, Saigon: Nam Sơn,

1959)

Nhưng điều đáng quí, đáng trân trọng nhất trong con người và phẩm cách Nguyễn Du chính là lòng thương yêu bao la với con người, từ những kiếp tài hoa – bạc mệnh tới những hạng người thấp kém cùng đinh trong xã hội Tình thương ấy tạo cho ông “nhân duyên” tìm đến và ảnh hưởng sâu sắc cảm quan Phật giáo vốn giàu tính chất từ bi, bác ái và bằng tài năng thi ca, ông lại làm phong phú, sinh động tinh thần ấy

trong sáng tác của mình mà bài văn tế Chiêu hồn thập loại chúng sinh là một minh

chứng tiêu biểu nhất

* Sự nghiệp văn chương:

Sự nghiệp trước tác và sáng tác của Nguyễn Du gồm có các tác phẩm viết bằng chữ Hán và các tác phẩm viết bằng chữ Nôm:

- Các tác phẩm viết bằng chữ Hán:

1 Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết trước khi ra

làm quan triều Nguyễn

2 Nam Trung tạp ngâm (Ngâm ca lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi

ra làm quan ở Huế, Quảng bình và những địa phương ở phía Nam Hà tỉnh

3 Bắc Hành tạp lục (Ghi chép các chuyện lặt vặt trong chuyến đi sang phương

Bắc/ Trung Hoa) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa

- Các tác phẩm viết bằng chữ Nôm:

1 Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều, gồm có 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội dung của Truyện kiều dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Hoa Truyện kiều viết lại quãng đời lưu lạc của

Thuý Kiều, một thiếu nữ có tài sắc vẹn toàn, sau khi bán mình chuộc cha

2 Chiêu hồn Thập loại chúng sinh, gồm 184 câu thơ theo thể thơ lục bát (chúng

tôi sẽ trình bày cụ thể ở các chương/ mục sau)

3 Thác lời trai phường nón: được viết theo thể lục bát, gồm có 48 câu Nội dung

là thay lời một chàng trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải

4 Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ: gồm 98 câu, để bày tỏ nỗi uất hận về mối tình

với hai cô gái phường vải khác

Trang 20

1.2.2 Tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh

* Thời điểm xuất hiện

Chưa ai biết đích xác Nguyễn Du viết bài này trong thời gian nào Trong văn bản

do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939, rằng: Nguyễn Du trước tác bài này sau một mùa dịch khủng khiếp

làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn Nhà nghiên

cứu Hoàng Xuân Hãn cho rằng, có lẽ Nguyễn Du viết Chiêu hồn thập loại chúng sinh trước cả Truyện Kiều, khi ông làm Cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812) Cũng không có tài liệu nào chứng minh Nguyễn Du diễn Nôm Chiêu hồn thập loại chúng sinh từ một

tác phẩm của Phật giáo nhưng vấn đề này chúng tôi xin không bàn ở nghiên cứu này Ngay cả xuất xứ của tác phẩm này, dù đã được minh định là của Nguyễn Du nhờ phong cách, tình điệu và nhất là nhờ hợp với chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua

tác phẩm Truyện Kiều hay thơ chữ Hán, song các phát hiện về bản văn này cũng chỉ

nhờ 2 bản Nôm, 1 bản khắc ván năm 1895, gọi là bản Chính Đại, được tàng trữ ở chùa Hưng Phú, xã Hạ Lôi, huyện Vũ Giàng, tỉnh Bắc Ninh; một bản do cụ Lê Thước phát hiện ở chùa Diệc (phía Bắc thành Nghệ An xưa), phiên âm và công bố năm 1924 Như vậy việc phát hiện tác phẩm này cách thời gian viết ra nó đến gần cả trăm năm Từ đó người ta chỉ lo chú ý đến việc phân tích và chú giải, ít có ai nghĩ đến xuất xứ của bản văn, ngoại trừ một số vị sư am tường nghi lễ Phật giáo, song cũng chưa có một bài

khảo cứu rạch ròi chuyện này

Có thể ở thời đại Nguyễn Du, các khoa nghi cúng thí bằng Hán văn quá xa lạ với quần chúng, Nguyễn Du đã vì số đông người không hiểu chữ Hán nên diễn Nôm lại

nghi thức này cho mọi người được hiểu, như đã từng diễn Nôm tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Thanh Tâm Tài Nhân thành Truyện Kiều vậy

* Nguồn ảnh hưởng

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, hiện không có tài liệu nào chứng minh Nguyễn

Du diễn Nôm Chiêu hồn thập loại chúng sinh từ một tác phẩm của Phật giáo Tuy

nhiên không thể phủ nhận Nguyễn Du đã viết bài văn tế này dưới ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, đặc biệt là các khoa nghi có nghi thức cúng cô hồn Để chứng minh điều này, không gì hơn là tìm hiểu chính những khoa nghi của Đạo Phật, sau đó đối chiếu

Trang 21

và tìm những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm Hiện tại chúng ta cũng không biết chính xác thời điểm ra đời của tác phẩm, nên cũng không biết được Nguyễn Du đã sử dụng bản văn nào để diễn Nôm Tuy nhiên, dạng văn học chiêu hồn trong nghi lễ Phật giáo đã xuất hiện rất sớm từ Trung Quốc, nghi thức cúng cô hồn đã có trước Nguyễn

Du cả ngàn năm, đồng thời cách trình bày các loại cô hồn trong Chiêu hồn thập loại chúng sinh cũng rất giống với khoa nghi nên không thể xem bài văn tế hoàn toàn là

sáng tạo của Nguyễn Du Ở đây cần phải nói thêm rằng dù chứng minh đây là tác phẩm phóng tác thì cũng không hề làm giảm giá trị tuyệt vời của tác phẩm, giống như

Truyện Kiều không hề kém giá trị khi nó được phóng tác từ một tác phẩm của Thanh

Tâm Tài Nhân

Nghi thức Cúng thí thực cô hồn vốn là một loại hành nghi của Mật giáo Nghi thức này đầu tiên căn cứ vào kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà-la-ni,

do ngài Bất Không dịch vào đời Đường, Trung Quốc Kinh này thuật lại việc Đức Phật dạy ngài A-nan cách thức cúng thí để thoát khỏi khổ nạn ngạ quỷ, đồng thời tăng phước, tăng thọ Nguyên bản kinh này đầu tiên là do ngài Thật-xoa-nan-đà dịch, ngài Bất Không chỉ dịch lại cùng với một số kinh điển liên quan khác như

kinh Du-già Tập Yếu Cứu A-nan Đà-la-ni Nghi Quỹ, Thí Chư Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập Thủy Pháp,…

Đến đời Tống, các Danh tăng Trung Quốc lại hưng khởi pháp thí thực, phần nhiều các Ngài đưa thêm những kinh điển Hiển giáo có liên quan đến Mật giáo vào nghi thức để tác pháp cúng dường, trì tụng chân ngôn, rồi biên soạn ra nhiều nghi thức

để lưu hành Đến đời Nguyên, do Mật giáo chiếm địa vị trọng yếu ở Trung Quốc, các vua quan Nguyên triều tôn sùng Mật giáo nên pháp Du-già thí thực lại càng hưng thịnh

hơn Đương thời cuốn Du-già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi, một quyển (không

rõ dịch giả) là tác phẩm được lưu hành rộng rãi nhất Nghi thức này chia làm 2 phần: nửa phần đầu tụng 35 danh hiệu Phật, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Tụng và bài cúng

dường Tam bảo; nửa phần sau là Quán Âm Định, Phá Địa Ngục chân ngôn và bài Thí Ngạ Quỷ Thực Hiện tại các nghi thức thí thực đều dựa theo tác phẩm này rồi thêm bớt

mà thôi

Đến đời Minh, các nghi quỹ thí thực được dùng trong các tông phái bất đồng Về

sau, Thiền sư Thiên Cơ dựa trên cơ sở Du-già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi, san lược những phần phồn tạp, soạn thành Tu Tập Du-già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi,

Trang 22

thường được gọi là Thiên Cơ Diệm Khẩu Sau, Đại sư Vân Thê Châu Hoằng lại lượt bớt và hiệu đính, soạn thành Du-già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ, đồng thời có chú

giải tỷ mỷ Đến đời Thanh, ngài Đức Cơ ở núi Bảo Hoa lại biên tập tác phẩm này

thành Du-già Diệm Khẩu Thí Thực Yếu Tập, thường được gọi là Hoa Sơn Diệm Khẩu Thiên Cơ Diệm Khẩu và Hoa Sơn Diệm Khẩu là 2 nghi thức được lưu hành rộng rãi

vào đời Thanh Tất cả các tác phẩm kể trên hiện đều được xếp vào Đại Chánh Tạng hoặc Vạn Tục Tạng Kinh

Ở Việt Nam, không rõ nghi thức Thí thực này được truyền vào từ khi nào?

Nhưng theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì từ đời Trần, nghi thức

cúng cô hồn cũng rất thịnh hành Song song với các kinh sách của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, các nghi quỹ thí thực cũng được lưu hành rộng rãi Câu chuyện Tam tổ Huyền Quang đăng đàn chẩn tế và có sự linh nghiệm trước mặt vua và văn võ bá quan cũng

đã chứng minh điều đó Nghi thức Chẩn Tế cô hồn ở Việt Nam hiện tại gồm có 3 loại: Đại khoa, Trung khoa và Tiểu khoa nghi Trong giới tu hành hiện nay có Bản Đại khoa

là Diệm Khẩu Du-già Tập Yếu Thí Thực Khoa Nghi, gọi là Thiên Hòa Tự Tàng Bản do

Tỳ-kheo Tánh Tình phụng khắc vào mùa Phật đản năm Minh Mạng thứ 2 (tức năm

Tân Tỵ, 1821) Nếu so với thời điểm Nguyễn Du viết Chiêu hồn thập loại chúng sinh

(khoảng 1808-1812 hoặc sau nữa) thì bản văn này khắc sau không lâu, điều đó chứng

tỏ nghi quỹ này đã có ở Việt Nam cùng hoặc trước thời Nguyễn Du Trong bản này có khắc lại lời tựa của chính ngài Vân Thê Châu Hoằng viết vào niên hiệu Vạn Lịch thứ

34 (1607) Đối chiếu toàn văn tác phẩm này với tác phẩm của ngài Châu Hoằng trong Tục Tạng Kinh quyển 59 thì đúng là 1 bản Trong giới tu hành hiện nay còn lưu giữ 2

bản Trung khoa, 1 là Sắc tứ báo Quốc tự tàng bản, do công chúa An Thường cùng một

số hoàng thân triều Nguyễn mộ khắc vào năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh, có sự

chứng minh của Hòa thượng Hải Thuận Lương Duyên; bản thứ 2 là Giác Viên Tự Mông Sơn Tàng Bản, được Giáo thọ Minh Khiêm Hoằng Ân (1856-1914) chứng minh

khắc tại chùa Giác Viên (trong khuôn viên Đầm Sen, Tp HCM hiện nay) Trung khoa chỉ là phần lược của Đại khoa Nội dung khoa nghi này đều có hai phần: Đàn thượng

và Đàn hạ Đàn thượng là các nghi thức nhập đàn, ấn chú, chân ngôn; đàn hạ chính là phần thỉnh Thập loại cô hồn Nói là Thập loại, kỳ thực thỉnh đến 13 loại và một số loại

cô hồn được thỉnh chung Nội dung Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thì

đại đồng tiểu dị với phần Đàn hạ này

Trang 23

Ngoài ra, từ xa xưa, rằm tháng Bảy là một trong những ngày lễ được dân ta chú trọng Theo quan niệm của đại đa số người Việt, nhất là người bình dân thì:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà Tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà

Tháng Sáu buôn nhãn bán tràm Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân

Đối với người dân Việt, rằm tháng Bảy (hay còn gọi là tết Trung Nguyên, ngày xá tội vong nhân) có ý nghĩa tâm linh thiêng liêng Theo giáo sư Hoàng

Xuân Hãn: “Ngày rằm tháng Bảy trong lịch ta xưa là tiết Trung Nguyên của Đạo giáo,

mà cũng là ngày lễ Vu Lan của Phật tử Ảnh hưởng giao kết của hai tôn giáo ắt đã đưa đến tục lệ cúng các cô hồn vào ngày ấy”[11] Cũng theo tác giả, ngày rằm tháng

Bảy xá tội vong nhân còn được dựa trên hai tích của Phật giáo là sự tích Mục Kiền Liên cứu mẹ và sự tích quỉ đói Diệm Khẩu

Khi Phật giáo truyền vào nước ta sớm bị đồng hóa với tín ngưỡng dân gian nên

có thể nói ngày Lễ Vu Lan là một ngày lễ truyền thống của người dân Việt, mang dấu

ấn Việt

Nói đến rằm tháng bảy- ngày lễ Vu lan tự tứ, người ta còn gọi đó là ngày cúng cô hồn Tuy nhiên có sự khác biệt giữa lễ cúng cô hồn với lễ Vu Lan Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng Theo điển tích Phật giáo gắn với sự tích quỷ đói Diệm Khẩu, sự tích này chúng tôi đã lược ở phần trên do vậy chúng tôi không đưa vào phần này nữa

Theo các nhà nghiên cứu Văn - Sử, trước Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du mấy trăm năm đã xuất hiện Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh

Tông Điều thú vị là cả hai tác phẩm này đều được lấy cảm hứng từ đoạn văn thỉnh

thập loại cô hồn trong Khoa Nghi Du Già của Phật giáo Ở nghiên cứu này, khi khảo sát văn bản Chiêu hồn thập loại chúng sinh chúng tôi nhận thấy: Nguyễn Du đã khắc

họa sống động hình ảnh truyền thống văn hóa nghi lễ xa xưa và một phong tục tín ngưỡng – tôn giáo giàu tính nhân văn của người Việt Nam Đây còn là bài học đầu tiên

về mối quan hệ giữa Người – Trời – Phật, để con người tìm cách sống hoà nhập với thiên nhiên hợp nhất của triết học Phương Đông

Trang 24

* Giá trị nhân văn và những sáng tạo của Nguyễn Du trong tác phẩm

Chiêu hồn thập loại chúng sinh gồm 184 câu thơ song thất lục bát, chia làm 3 phần chính: Phần đầu giới thiệu cảnh vật não nề, thê thiết của Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt, hơi may lạnh buốt, lá thu rụng vàng… chốn dương gian đầy u ám ấy để giới thiệu một cõi âm nhập nhòa hồn thiêng phách lạc: Cõi dương còn thế huống là cõi âm… Phần 2 cũng là phần chính của tác phẩm, tác giả cung chiêu tất cả 13 loại cô

hồn từ anh hùng tướng soái đến những kẻ tiểu nhi tấm bé, rồi kể hết những trường hợp hoạnh tử oan khiên của những người đã khuất bằng tất cả sự cảm thông sâu sắc Phần cuối của tác phẩm là những lời nhắn nhủ đối với người cõi âm, lấy Phật làm lòng, hướng về nẻo thiện, nương nhờ Phật lực để siêu sanh Tịnh độ Một tác phẩm có bố cục chặt chẽ như vậy, Nguyễn Du đã mượn cõi âm để nói chuyện cõi dương, mượn tâm sự

để vẽ lên bức tranh đời sống hiện tại, đồng thời tố cáo những cường hào ác bá một cách kín đáo theo phong cách của riêng ông

Dù được viết dưới ảnh hưởng của khoa nghi thí thực cô hồn song Nguyễn Du, với cảm quan và tư duy nghệ thuật độc đáo đã có nhiều sáng tạo không chỉ làm phong phú, sâu sắc tư tưởng, triết lý tưởng đạo Phật mà còn tạo nên một hình thức diễn đạt mới lạ từ ngôn ngữ đến hình ảnh, câu chữ… Xin trích một vài đoạn từ tác phẩm dịch Nôm nổi tiếng khoa nghi thí thực của Hòa thượng Bích Liên (Trí Hải, 1876 - 1950), so

sánh với Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du để thấy rõ phần nào

Đầu tác phẩm dịch Nôm của Hòa thượng Bích Liên có bài tán, được xem như phần dẫn nhập :

Dấu người thập loại biết là đâu Hồn phách mơ màng trải mấy thu Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới Những mồ vô chủ thấy mà đau

Thay vì nói thẳng vào cõi âm, bài văn tế của Nguyễn Du bắt đầu bằng một buổi chiều thu ảm đạm ở cõi dương :

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt Toát hơi may lạnh buốt xương khô Sau khi dẫn từ cõi dương vào cõi âm, kể về Thập loại chúng sinh Hồn đơn phách chiếc … không nơi nương tựa … Hồn mồ côi …, tác giả cảm thán :

Trang 25

Còn chi ai khá ai hèn Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu

Lời cảm thán vừa bi thương, vừa toát lên được cái ngậm ngùi tang thương của một kiếp người Phải chăng đó cũng là lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai còn tham danh đoạt lợi để phải gánh chịu những kết cuộc bi thảm như những oan hồn mà Tố Như đã chiêu triệu phía sau

Khi cảm thán những kẻ Hoàng vương đế bá, khoa nghi của Hòa thượng Bích

Liên ghi : Ôi thôi! Đỗ quyên kêu trót tàn canh, máu hồng nhuộm mãi trên cành đào hoa Trước sau vương bá những là, hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng

Đầy trang trọng với những điển cố xưa, khoa nghi nặng chất cung đình và chất Trung Hoa, cái chất mà các nhà sư Việt Nam vẫn còn ảnh hưởng nặng nề Nguyễn

Hay thuyết giáo một cách đầy cả quyết :

Cho hay thành bại là cơ

Ma u hồn biết bao giờ cho tan!

Khi triệu thỉnh anh hùng tướng soái, khoa nghi viết : Ôi thôi! Ngựa nhà chiến tướng vắng không, hoa hèn cỏ nội mấy vòng buồn thiu… Nguyễn Du viết :

Bơ vơ góc bể chân trời Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời xâm xẩm mưa gào gió thét, Khí âm ngưng mờ mịt trước sau, Năm năm xương trắng dãi dầu Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Tác giả có vẻ như thấu được nỗi khổ của oan hồn người chết, cảm được nỗi đau của họ như chính nỗi đau của mình Khi nói về hạng “trí phú” hay kẻ rắp cầu chữ

“Quý”, Nguyễn Du viết :

Sống thì tiền chảy bạc dòng, Thác không đem được một đồng nào đi

Trang 26

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ai đó trong cõi mang mang trường dạ hẳn đã nghe ra niềm cảm thông buốt lạnh tồn sinh, rưng rưng kiếp số và thổn thức nhân tình Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại ngậm ngùi đến thế

Trong khoa nghi khắc họa cảnh Chinh chinh biến loạn sông nghiêng, mờ mờ hồn bướm ly miền dương quan …, những Lụa hồng bảy thước đề tên, đất vàng một cụm lấp nền văn chương, hay Mưa chiều khói lạnh thước reo, lá thu gió thổi dập dìu, Nguyễn Du không chỉ tả mà còn gợi ấn tượng cảm giác về sự hãi hùng,

thì Lạc loài nheo nhóc, hàng cung phi thì Hồn ngẩn ngơ bãi cói ngàn sim, những kẻ

mũ cao áo rộng thì Thất thểu dọc ngan, những kẻ bày binh bố trận thì Bơ vơ góc bể chân trời… Cũng như Truyện Kiều, bài văn tế xuất hiện rất nhiều các loại tiểu đối để

vẽ nên cái trùng điệp của nỗi khổ và cô đơn Những cặp đối luôn làm câu thơ cứ triền

miên chìm trong sự bi thương đến tận cùng: Ngàn lau nhuốm bạc/ lá ngô rụng vàng; Máu tươi lai láng/ xương khô rã rời Có khi dùng các cặp đối song song ngay trong một ý: Hồn xiêu phách lạc, hồn đường phách sá, trâm gãy bình rơi, thịt nát máu trôi… Nghệ thuật dùng chữ đã làm toàn thể tác phẩm toát lên một vẻ tang thương đến

khốc liệt, ngậm ngùi đến thống thiết mà chỉ có người cảm được thế giới ấy một cách sâu sắc, đầy lòng từ bi mới viết nên được những vần điệu làm kinh động hồn ta đến

Trang 27

thế, những câu chữ mà Xuân Diệu từng nói: Có thể làm gãy lưng các nhà nghiên cứu

Thử đọc một câu Nguyễn Du viết về người lao động :

Cũng có kẻ đi về buôn bán Đòn gánh tre chín dạn hai vai

Hai chữ Chín dạn cho thấy “sức cảm thông lạ lùng” với người lao động Dường

như chính tác giả cũng quặn đau, nát vai chín thịt như người gánh gồng mới dùng được một chữ đắt như thế

Khác hẳn cách dùng chữ quý phái trong khoa nghi, một thứ văn học được hòa âm cùng tang linh, mõ khánh và giọng tán tụng đặc thù của Kinh sư thỉnh triệu, tác phẩm của Nguyễn Du có vẻ thích hợp hơn với lối đọc âm thầm lặng lẽ trước huyệt mộ thi

phần hay giữa Bãi cói nghìn sim Tuy nói chiêu hồn người chết, mà cũng khóc than

cho số phận những người đang sống bị khổ đau dằn vặt Khi kể về hạng kỹ nữ, Nguyễn Du viết :

Cũng có kẻ lỡ làng một tiết, Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con nấy biết là cậy ai

Thương thay chân yếu tay mềm Càng năm càng héo, càng đêm càng dàu

So với khoa nghi, Nguyễn Du đã không thỉnh các bậc Xuất trần phi tích, nhưng

lại kể thêm một hạng cô hồn, mà theo chúng tôi, nội chừng ấy cũng đã nói hết lên chủ nghĩa nhân đạo hay nói khác hơn là lòng Từ bi của Thi nhân họ Nguyễn, đó là những hài nhi yểu mạng Trong thầm cùng cõi mịt mờ tăm tối, Nguyễn Du đã nghe ra tiếng khóc u ơ của những bé thơ với nỗi lòng tha thiết Thật là cảm động khi đọc những câu:

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé, Lỗi giờ sanh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra,

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng

Phải chăng Nguyễn Du cũng đã từng đọc các tác phẩm của những Đại sư Trung Hoa, rồi kết hợp với chính khoa nghi Trung Quốc và biến nó theo chất Việt rồi để chiêu thỉnh những âm hồn của người Việt? Tôi không muốn nói đến tính tự chủ, độc

Trang 28

lập trong tư duy văn hóa dân tộc của Nguyễn Du, tôi chỉ muốn nói đến tính sáng tạo và

hiện thực hóa tác phẩm, cho thấy tấm lòng và tài năng bậc thầy của ông

Đọc một tác phẩm viết về cô hồn, nhưng ta không hề thấy ma quái, rùng rợn như một số tác phẩm khác, mặc dù tác giả đã dùng nhiều hình tượng rất ma quái, đó cũng

là chỗ lạ lùng của tác phẩm này Có khi người ta cũng nói đến ma, nhưng nói ma để đặc tả một không gian, một cảnh vật, hay muốn nói đến một cái gì khác đằng sau cảnh

ấy Như khi Thúc Tề viết Trăng mơ:

Nhịp cầu Bạch Hổ mấy bóng ma Biến mất vì nghe giục tiếng gà

Có khi người ta viết về cảnh ma quái với trí tưởng tượng rùng rợn, chỉ làm cho ta

sợ hãi chứ không thương:

Rồi lấy ra một mảnh xương rợn trắng Nuốt bao lòng huyết đẫm khí tanh hôi Tìm những “miếng trần gian” trong tủy cạn Rồi say sưa vang cất tiếng reo cười

(Chế Lan Viên) Còn Nguyễn Du nói đến cảnh ma mà ta lại ngậm ngùi, thương cảm, có khi người đọc có thể nghe ra một triết lý nào đó Giấc mộng hoàng vương đế bá hay khát vọng trường sinh rồi thì cũng tan tành sương khói, mọi bọt bèo ảo ảnh bồng bềnh trên mặt

bể hiện tượng, rồi ra cũng sẽ bị đánh chìm trong quên lãng nghìn đời :

Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Hay :

Mỗi người một nghiệp khác nhau Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Phải chăng đó là lý do quan trọng để Chiêu hồn thập loại chúng sinh sau khi xuất

hiện lại có quan hệ ảnh hưởng trở lại, được giới tu sĩ hoặc thầy cúng/ thầy thống sử dụng thỉnh cô hồn trong khi cúng thí Một tác phẩm văn học (thơ chữ Nôm) mà được

dùng như kinh điển, có thể nói là độc nhất vô nhị Đọc Chiêu hồn thập loại chúng sinh

của Nguyễn Du, chúng ta như cùng Tố Như tụng đọc lại những lời chỉ dạy của Đức Phật với tất cả tâm hạnh của một Phật tử, lấy Tứ hoằng thệ nguyện làm mục đích bước

đi trên lộ trình Bồ-tát đạo thiêng liêng

Trang 29

Chương 2

CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH TRONG THỰC HÀNH

NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành khảo sát, tìm hiểu thực tế về các

tín ngưỡng và tôn giáo đưa Chiêu hồn thập loại chúng sinh vào các nghĩ lễ/ nghi thức

tâm linh Sau một thời gian thâm nhập vào thực tề tìm hiểu chúng tôi quyết định chọn đạo Mẫu dân gian Việt Nam làm đối tượng chính cho nghiên cứu về Tín ngưỡng, đồng thời chọn đạo Phật và đạo Lão là đối tượng trọng tâm cho nghiên cứu về Tôn giáo Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát 15 ngôi chùa, 4 đền, 7 điện, 1 phủ tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội (xin xem Phụ lục 1 trang 73, 74) Qua khảo sát có thể

khẳng định: ảnh hưởng và tính ứng dụng thực tế của Chiêu hồn thập loại chúng sinh tại các không gian tín ngưỡng (đền, phủ) hoặc tôn giáo (chùa, điện) Hơn nữa với

phạm vi xuất hiện khá phổ biến tại 26/ 27 địa điểm với tần suất tương đối cao (từ 3 –

15 lần/ năm) đã chứng thực sự hiện diện và tầm quan trọng của bài văn tế này trong các nghi lễ/ nghi thức tín ngưỡng và tôn giáo, điển hình là trong các nghi lễ của đạo Mẫu dân gian Việt Nam (thực hành tín ngưỡng bản địa), đạo Phật và đạo Lão (thực hành tôn giáo)

2.1 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong nghi lễ của Đạo Mẫu dân gian Việt Nam 2.1.1 Đôi nét về Đạo Mẫu dân gian Việt Nam

Nước ta có rất nhiều các tôn giáo du nhập như Đạo Phật, Đạo Ki-tô, Đạo Islam, Đạo Lão,… Truớc khi các nền Đạo này du nhập vào, xứ ta đã có rất nhiều các tín ngưỡng khác nhau Tuỳ theo mỗi vùng miền lại có những tín ngưỡng đặc trưng khác nhau biểu trưng cho đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư đó Trong những tín ngưỡng thiêng liêng nổi bật, mang tính phổ cập đáng kể tới, đó là: Tín ngưỡng thờ Mẫu Nhiều người còn nâng tín ngưỡng này lên thành một nền đạo: Đạo Mẫu

Đạo Mẫu là một tín ngưỡng thiêng liêng ra đời ngay trong văn hoá Việt, mang đậm chất con người Việt Vì sao dân tộc ta lại có tục thờ Mẫu? Muốn cắt nghĩa của tục thờ này, ta phải chú ý nơi điện thờ của đạo Mẫu, mà nói như nhà nghiên cứu Phan Kế Bính thì gọi đây là “cửa tĩnh” Nơi ban thờ chỉ giản đơn những pho tượng với màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng,… khác nhau nhưng ẩn chứa bao ý nghĩa mà ông cha ta thổi hồn qua nó Ngày nay, đa phần ta thấy nơi cao nhất của điện thờ Mẫu là Tam toà Thánh

Trang 30

Mẫu, với bức hoành đề bốn chữ đại tự dễ thấy ở các cửa điện, cửa tĩnh “Mẫu nghi thiên hạ” (người mẹ dung nghi đứng đầu thiên hạ) Pho tượng đức thánh Mẫu ở giữa phủ trên tượng là một xiêm y màu đỏ dung mạo trang nghiêm thanh thoát, biểu trưng cho thượng thiên; một vị thánh Mẫu bên phải nhìn vào, khoác một xiêm y màu xanh biểu trưng cho thượng ngàn (núi rừng); một vị phía tay trái nhìn vào khoác xiêm y màu trắng, khuôn mặt thanh thoát như nước mùa thu đó là thánh Mẫu biểu trưng cho thuỷ phủ (sông nước, hồ đầm) Vậy là qua ba hàng tượng ở trên ta đã thấy hội đủ tam phủ Thiên – Nhạc – Thuỷ phủ, đây là hệ thống tượng thờ được phổ biến, phát triển từ thế kỉ XVI Nhưng theo nhà nghiên cứu Hoàng Quốc Hải thì lại cho rằng: thuở trước, Tam Phủ chưa xuất hiện Mẫu Thượng Thiên mà thay vào Thượng Thiên là Mẫu Địa khoác áo màu vàng biểu trưng cho Địa Phủ (Đất), Đất - Nước – Núi rừng đây là Tam Phủ đầu tiên nhưng sau này với sự xuất hiện của một nhân vật được cho là nhà Trời tái sinh xuống hạ giới bởi đánh rơi chiếc chén ngọc lưu ly trong hội Bàn Đào, đó là: Lê Thị người đất (ấp) Phủ Dầy, Nam Định, bà được coi là con gái của vua cha Ngọc Hoàng Với sự xuất hiện thần bí của bà, sau này hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu của dân gian Việt Nam dần hình thành hệ thống Tứ Phủ, Thiên – Nhạc – Địa – Thoải (Trời – Núi rừng – Đất – Nước)

Qua hình tượng tưởng chừng như đơn giản là thờ các bà Mẫu mẹ đứng đầu cho các Phủ như thờ các vị quan đứng đầu cho các ngành, nhưng ẩn sau mỗi pho tượng lại không đơn thuần là như vậy Thiên phủ biểu trưng cho trời, Người Việt ta thờ để thể hiện mong cầu mưa thuận gió hoà; Nhạc phủ là núi rừng biểu trưng cho một tấm lòng biết ơn người Việt khi núi rừng là nơi chở che bao bọc cho người Việt ta trước khi di

cư xuống đồng bằng định canh, định cư; Địa phủ biểu trưng cho mặt đất bằng phẳng nơi muôn vật sinh ra, là nơi con người định cư, định canh, phát triển văn hóa lúa nước; Thoải phủ là nơi thăm thẳm nước sâu bốn mùa cho con người tôm cá, cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp Bốn yếu tố này là những yếu tố không thể tách rời trong một dân tộc; người Việt ta tôn thờ những yếu tố tự nhiên thông qua hình tượng bốn bà Mẫu Theo tôi, thứ nhất nó biểu trưng cho sự biết ơn bà mẹ thiên nhiên đã trìu mến ban cho con người cuộc sống no đủ; thứ hai, nó thể hiện một nét văn hoá xa xưa trong gia đình Việt – Mẫu hệ; thứ ba, trong tâm khảm người Việt người mẹ luôn là hình ảnh thiêng liêng, cao cả nên yếu tố thiêng tự nhiên đã được truyền tải vào hình ảnh bốn bà Mẫu uy nghiêm toạ nơi cao nhất của điện Mẫu

Trang 31

Ngày nay, trải qua biến thiên của lịch sử, dân tộc ta với truyền thống dựng nước

và giữ nước, biết bao con người đã ngã xuống hy sinh cho nền tự do của dân tộc như: Trần Hưng Đạo của thời Trần, các vị anh hùng, nữ kiệt thời vua Lê Lợi diệt quân Minh,…

Những nhân vật lịch sử này đã được phối thờ trong cửa điện, cửa tĩnh với hệ thống Tứ Phủ, theo thời gian, những nhân vật lịch sử cũng phủ lên mình một lớp thần thánh hoá và biến thành những nhân vật thiêng trong tâm khảm người Việt Họ thờ cúng, lễ bái, sắm sửa hương hoa, thiết tiệc long trọng vào những ngày được coi là huý

kỵ (ngày giỗ) của các ngài, những hình ảnh của thanh đồng đạo quan trong các trang phục xanh, đỏ, vàng, trắng Diễn xướng trong lời ca tiếng hát của cung văn, đó người

ta gọi là hầu bóng Tháng Tám, tháng Ba, tháng Bảy, tháng Mười… họ nô nức kéo về những nơi dấu thiêng linh địa như: Phủ Dầy, đền Trần - Nam Định; Đền ông Mười - Nghệ An; Bảo Hà – Lào Cai; Đền Đông Cuông – Yên Bái,… để tỏ lòng tưởng nhớ:

Ai về tháng Tám hội cha Tháng Ba hội mẹ, khăn hoa về chầu

Tất thảy, những hoạt động tín ngưỡng này người ta gọi chung là Đạo Mẫu, một

tinh thần chẳng ngoài đạo lý muôn đời của người Việt: Ẩm thuỷ tư nguyên (Uống nước

nhớ nguồn)

2.1.2 “Chiêu hồn thập loại chúng sinh” trong thực hành nghi lễ của Đạo Mẫu dân gian Việt Nam

Trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ thì Nghi lễ hầu Thánh

(còn gọi là hầu đồng, hầu bóng) là nghi lễ chính mang đậm màu sắc tâm linh huyền bí nhằm biểu đạt, gửi gắm những mong muốn, khát vọng của con người Ở nghi lễ này, những người lên đồng hóa thân thành những vị Thánh của Tứ phủ, tái hiện sinh động các hoạt động của chư vị Thánh Mẫu, quan, hoàng,… đồng thời phán truyền hoặc ban

phúc lộc Lý do chúng tôi đề cập đến Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong nghi lễ của

tục thờ này hẳn nhiên vì nó có liên quan nhất định Cái liên quan ở đây là mỗi đàn lễ trước khi ra hầu Thánh vào các ngày tiệc, ngày lành,…; những nghi thức bao gồm cúng Phật, cúng Tứ phủ khoa, khao Sơn trang và cúng chúng sinh Có những đàn lễ trong ngày tiệc Thánh các thanh đồng con nhang đệ tử kết hợp nghi thức cúng khoa khao chúng sinh cùng đàn lễ hầu Thánh Trong đàn lễ, họ thiết lập đàn lễ trang nghiêm gồm đủ hương hoa phẩm vật lại thêm sớ điệp, cung văn dâng lên cúng Tứ phủ vạn linh

Trang 32

– đó là phần chính Còn phần phụ được kết hợp ở đây đó chính là Nghi thức khao thỉnh chúng sinh Theo các thanh đồng đạo quan thâm niên trong tín ngưỡng thờ Mẫu, khi

tôi phỏng vấn về vấn đề vì sao phải khao chúng sinh trước khi vào hầu Thánh, những

thầy đồng thường có một câu trả lời chung: “Khao chúng sinh trước khi vào hầu thánh

là đã cho chúng sinh ăn uống no đủ, nếu không cho chúng ăn uống cẩn thận thì khi hầu Thánh chúng sẽ quấy phá khiến thanh đồng, đạo quan, cung văn khó lòng mà nhất tâm hầu thánh ca hát cho được.” Cậu Đức, một thủ nhang đền Hàng Hành, quận Hoàn

Kiếm cũng cho chúng tôi biết tại đây vẫn thực hành các khoa nghi cúng cô hồn trong

các nghi lễ hầu Thánh bởi lẽ: “Theo các cụ truyền dạy, nếu không khao chúng sinh trước khi vào hầu Thánh thì khi hầu, thanh đồng, đạo quan dễ bị các chúng sinh (cô hồn) quấy nhiễu Mà Thánh thường thương những cô hồn đói khát nhân tiệc Mẫu cúng

bố thí cho kẻ đói thì cũng hợp phép”

Để có được sự đúc kết kinh nghiệm này đó là kết quả của một quá trình thực hành nghi thức hầu Thánh có cả mấy trăm năm tuổi Do vậy ở đàn lễ bá thí cô hồn này họ thiết lập một đàn xơ lễ mỏng trên ngoài sân hoặc một nơi cao ráo sạch sẽ cũng gồm đủ hương hoa phẩm quả, lại thêm vàng mã kim ngân, quần áo giấy Có những đàn lễ thanh đồng đạo quan còn thỉnh các đại đức cao tăng về đàn lễ tổ

chức đại đàn Mông Sơn thí thực – một đàn lễ được gọi là thượng đàn (rất lớn) để

siêu độ cô hồn chúng sinh Còn những đàn sơ lễ mỏng thì những con nhang đệ tử của đạo Mẫu đơn thuần chỉ mời những thầy cúng (thầy thống) tới đàn này tiến cúng giúp thanh đồng đạo quan Những thầy pháp này sau khi cúng Phật, cúng Thánh, khao thỉnh bát bộ Sơn Trang, thập nhị tiên nàng đã xong tùy theo lời yêu cầu của đàn lễ các thầy pháp có thể hay dùng 2 bản khoa nghi Thứ nhất là lược

khoa tiểu đàn du - già Mông Sơn thí thực trong Chư kinh nhật tụng Kiểu lược

khoa này dùng trong những trường hợp thời gian ít ỏi gấp gáp, cúng lược khoa chỉ hết 15 phút đồng hồ Còn trường hợp thứ hai xảy ra khi thời gian rộng rãi lại thêm

đúng Tiết tháng 7 âm lịch (tiệc ông Bảy Bảo Hà – Lào Cai), thì những thầy pháp thường ngâm nôm bản Chiêu hồn thập loại chúng sinh của cụ Nguyễn Du Cũng

tùy theo không gian, thời gian và nhân duyên của đàn lễ mà thực hiện các nghi thức đàn cúng bá thí cô hồn, chẩn tế chúng sinh không hạn định bắt buộc Khi tôi

phỏng vấn các thầy pháp về việc có biết đến bản văn Nôm Chiêu hồn thập loại chúng sinh của cụ Nguyễn Du hay không? Và các thầy dùng trong những trường

Trang 33

hợp nào? Đa số các thầy pháp cho biết: “Bản Nôm của cụ Nguyễn Du hiện có nhiều dị bản, tùy theo không gian, thời gian và điều kiện có cho phép hay không

mà thực ngâm nga bản nôm này.” Trong những trường hợp long trọng hơn, trai

chủ mở đại đàn thì những đại đức cao tăng cùng các thầy pháp thực hiện thực

hành nghi thức cúng cô hồn trong Thủy chư lục khoa, với 24 đường thỉnh khác nhau cứ lần lượt tiến cúng

Thực tế hoạt động tôn giáo của các sư (giới tu sĩ), cũng như các thầy pháp đều

cho rằng 24 đường thỉnh trong Thủy lục chư khoa cũng như 184 câu thơ Nôm của Chiêu hồn thập loại chúng sinh tuy hình thức thể hiện, số lượng chữ khác nhau nhưng

đều chung một ý nghĩa khi phản ánh về những số phận của thập loại cô hồn Như vậy

có thể thấy rằng Chiêu hồn thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ dành cho không gian của đạo Phật, những nghi thức nơi Phật môn mà còn xuất hiện ở

những cửa điện, cửa tĩnh Điều đó cũng dễ hiểu, bởi người dân xứ ta tính tình linh hoạt phóng khoáng lại thêm chẳng câu lệ chớp mắc, cốt làm sao người đã mất được thảnh thơi siêu thoát; người tổ chức đàn lễ cảm thấy sau đàn lễ thâm tâm nhẹ nhàng, mạnh khỏe, hanh thông là được Tư duy của người Việt ta trong tín ngưỡng thờ cúng đơn giản là vậy đó Có những nơi không có các cảnh già lam, chùa chiền, cửa Phật môn thiếu vắng, trong cả một vùng chỉ thấy xuất hiện các đền, phủ cửa điện, cửa tĩnh thì những người hoạt động tâm linh cũng tùy theo hoàn cảnh mà thực hiện các nghi thức

tín ngưỡng phục vụ tín đồ, quần chúng nhân dân Chính vì vậy Chiêu hồn thập loại chúng sinh không giới hạn ở một không gian nào cả mà đã xuất hiện ở mọi không gian

trên đất nước ta từ chùa chiền cho đến đạo tràng, già lam, cửa điện, cửa tĩnh, hay cả

đến chốn nhà dân Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong niềm tin kính của người con

sống với những người đã mấtnên tác phẩm có sự gần gũi với đời sống, được nhân dân

sử dụng như một bài cúng phổ thông dễ đọc, dễ hiểu

Trong số 4 đền, 7 điện, 1 phủ trên địa bàn Hà Nội mà chúng tôi có điều kiện khảo sát tìm hiểu thực tế, có tới 11/12 địa điểm các thủ nhang đồng đền hoặc thầy cúng (thày thống), tu sĩ sử dụng bài văn tế Nôm của thi hào Nguyễn Du trong các nghi thức thí thực cô hồn Tần suất sử dụng/ năm nhiều nhất là Điện Mẫu chùa Ngâu (Yên Ngưu – Tam Hiệp – Thanh Trì, 17 lần); đền Khánh Thụy (Hàng Hành - phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, 15 lần); điện mẫu chùa Thị Cấm (Nam Từ Liêm, 11 lần), Đền Dâu (phố Hàng Quạt, quận Hoàn Kiếm, 10 lần), đền Nguyên Khiết Linh Từ (phố

Trang 34

Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, 7 lần) Đây là những cửa điện thường xuyên tổ chức các nghi lễ hầu Thánh Tại những buổi lễ đó, các nghi thức tín ngưỡng tâm linh được diễn

ra thường xuyên trong đó không thể thiếu nghi thức khao thỉnh chúng sinh bá thí cô hồn Các nơi còn lại có số lần sử dụng dao động từ 3 – 5 lần Hơn nữa, trong lúc thí thực cô hồn bài văn tế của Nguyễn Du cũng được sử dụng một cách linh hoạt Cũng

theo cậu Đức thì: “Tuỳ theo thời gian mà thực hiện, đàn lễ nào có thời gian thì chúng tôi cũng yêu cầu các thầy pháp cúng cho được đầy đủ có trước có sau.” Riêng đền

Quán Thánh do thờ đức Huyền Thiên Trấn Vũ (một trong Thăng Long tứ trấn) nên tại đây không thực hành nghi lễ hầu Thánh, do đó cũng không thực hiện khoa nghi thí thực cô hồn và sử dụng bài văn tế của Nguyễn Du

Từ những phân tích và thực tế khảo sát trên cho thấy mức độ ảnh hưởng, lan tỏa

của bài văn tế Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành nghi lễ của tín ngưỡng

thờ Mẫu là khá phổ biến song tần suất và mức độ vận dụng cũng rất linh hoạt, uyển chuyển tùy vào từng không gian tâm linh, thời gian thực hiện khoa nghi, mong muốn của con nhang đệ tử, thậm chí là “nhân duyên” của mỗi thầy thống, thủ nhang, tu sĩ với bài văn này Cho dù được đọc đầy đủ, “toàn văn” 184 câu hay một phần; độc lập

riêng lẻ hay kết hợp với kinh Phật thì trải qua thời gian Chiêu hồn thập loại chúng sinh

cũng đã từng bước thâm nhập một cách tự nhiên và trở thành một phần không thể thiếu trong các thực hành nghi lễ của đạo Mẫu Việt Nam

2.2 Chiêu hồn thập loại chúng sinh trong thực hành các nghi lễ Phật giáo

2.2.1 Đôi nét về đạo Phật

Đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, ra đời vào khoảng thế kỷ

VI trước công nguyên ở vùng phía Tây Bắc Ấn Độ do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập, hiệu là Sakia MuNita (Thích Ca Mâu Ni) Ngài thành đạo năm 31 tuổi và năm 80 tuổi ngài viên tịch tại rừng Xala Trong 49 năm thuyết pháp độ sinh ngài đã đi du phương,

giáo hoá khắp cõi Ấn Độ, độ cho vô số chúng sinh giác ngộ, giải thoát

Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề: một là sự khổ não, hai là sự giải thoát ra khỏi khổ não Khổ não là sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ,

mà muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết dục vọng trên trần thế Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người mới lên được cõi Niết bàn, là cõi cực lạc Mà chân lý ấy

được chỉ bày trong Tứ diệu đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo, một trong những chân lý tuyệt diệu đầu tiên của Đạo phật Bên cạnh ấy là: Thập nhị nhân duyên, Bát chính đạo,…

Trang 35

Sau khi Đức phật nhập Niết Bàn thì các đệ tử của ngài đã tổ chức những Đại hội kết tập kinh điển vào thế kỉ V, IV, III TCN Những lần kết tập kinh điển này khiến cho chân lý của Đạo Phật càng trở nên hoàn thiện với tam tạng kinh điển: Kinh – Luật – Luận đồ sộ hơn bao giờ hết Cũng trong những Đại hội kết tập kinh điển ấy, Phật giáo dần phân hóa và chia ra làm hai bộ phận: một là Thượng toạ bộ (Tiểu thừa – Phật giáo nguyên thuỷ), hai là Đại chúng bộ (Đại thừa Phật giáo) Từ đó trở đi các đệ tử của ngài

đi du phương giáo hoá không chỉ khắp cõi Ấn Độ mà còn các quốc gia khác như Việt

Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Nhật Bản,…

Đạo Phật là một tôn giáo có cùng bản chất như mọi tôn giáo khác song cũng có một số đặc điểm riêng Thứ nhất: Đạo Phật không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới Thế giới tự nó vận động, phát triển thông qua luật vô thường, nhân quả Sự vận động ấy diễn ra trong không gian và thời gian Thứ hai: đạo Phật mang nhiều tính duy vật trong những quan niệm về thế giới và con người, về vận động mang hình thức biện chứng Thứ ba: các giáo lý đạo Phật chứa đựng nhiều nội dung đạo đức, hướng thiện, đồng thời cũng phủ nhận một cách gián tiếp những mâu thuẫn, xung đột

xã hội Những đặc điểm này đã khiến đạo Phật có được chỗ đứng vững chắc trong lòng xã hội Việt Nam

Xét về mặt địa lý, Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực Ngay từ đầu Công nguyên (TK I), Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam bằng hai con đường: đường thủy thông qua việc buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc (khi ấy cũng tiếp nhận Phật giáotừ Ấn Độ) Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc

Trên thực tế đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược, không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn bán Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn,….gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết đối với đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt ấy Vì vậy đạo Phật ở Việt

Trang 36

Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa, tạo nên một màu sắc mới – Phật giáo Việt Nam

Trải qua gần 2000 năm, do sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước, đạo Phật từng bước phát triển và hình thành nên một số giai đoạn với đặc điểm tương đối rõ rệt

Thời kỳ đầu Phật giáo đang trong giai đoạn phôi thai, buổi đầu của sự truyền bá

Nó mang nhiều dấu ấn của Phật giáo Ấn Độ Giao Châu khi đó đang là thuộc địa của Trung Hoa, mà Trung Hoa cũng muốn truyền bá tư tưởng của mình nên Phật giáo lúc đầu không được chính quyền ngoại xâm chấp nhận Song do sự tồn tại và phát triển của Phật giáo ở Giao Châu, chính quyền ngoại xâm cũng phải nới dần cho sự phát triển của Phật giáo Trung tâm Phật giáo lớn nhất lúc này là Luy Lâu Ở đây đã có những nhà sư Ấn Độ dịch một số kinh Phật để giảng giải cho người bản địa và có sự trao đổi về giáo lý với các thiền sư truyền bá Phật giáo theo con đường Trung Quốc Khi đã ăn sâu bén dễ trong lòng dân tộc Việt Đạo phật tồn tại và phát triển qua các triều đại, diễn trình lịch sử như: Phật giáo từ giữa thế kỷ VI đến thế kỷ X (hậu Lý Nam Đế và Bắc thuộc lần thứ 3); Phật giáo từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV; thời hậu Lê; Phật giáo thời Nam – Bắc phân tranh; thời kỳ khởi nghĩa nông dân (nửa cuối thế kỷ XVIII); thời Nguyễn; Phật giáo thời kỳ Pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX) và Phật giáo Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nay Trải qua bao thế kỉ Phật giáo cùng dân tộc đi qua những thăng trầm của lịch sử, lúc thăng khi trầm nhưng vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị tinh thần thiêng liêng, cao quí, tốt đẹp mà cốt lõi là ở lòng thương yêu, từ bi hỉ xả với muôn loài

2.2.2 “Chiêu hồn thập loại chúng sinh” trong thực hành nghi lễ Phật giáo

Mở đầu dẫn nhập tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh Đại thi hào Nguyễn

Du đã viết :

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt Toát hơi may lạnh buốt sương khô Não nùng thay buổi chiều thu Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng

Những dòng dẫn nhập này đã báo hiệu thời gian tổ chức đàn lễ thí thực cô hồn,

đó là tiết tháng Bảy âm lịch Trong đạo Lão, người ta gọi đây là tháng “Trung nguyên

xá tội địa quan” còn đạo Phật thì gọi đây là tháng “Ca đề” hay là tháng “Đại phúc” Vì

Trang 37

sao gọi là tháng “Đại phúc”? Bởi nó gắn liền với thời gian kết thúc ba tháng an cư kiết

hạ của chư Tỷ Khiêu trong đạo Phật, sau ba tháng tu hành, tụng kinh, lễ Phật, trai giới

trang nghiêm, chính bởi điều ấy mà công đức trong mỗi vị rất lớn Trong ngày rằm tháng Bảy, chư Tăng làm lễ Tự Tứ, trong đó còn có nghi thức cầu siêu cho bách gia trăm họ và Nghi thức cúng bạt độ chẩn tế cô hồn vào buổi chiều hôm đó Nhắc tới sự

việc này, ta nao lòng nhớ lại Đức Mục Kiền Liên về trước vào ngục cứu mẫu thân, giải kiếp ngạ quỷ khổ đau cho mẹ Chi tiết này khiến người người, dù là đệ tử am tường hay chưa hề thụ giáo triết lý nhà Phật đều thấy chạnh lòng nhớ tới đức song thân phụ mẫu sinh thành

Trong tiết trời ảm đạm, mùa thu tháng bảy âm lịch, ai nấy đều hết lòng một dạ chí thành hướng về đàn tràng nơi ấy tôn trí trang nghiêm ban Phật, dưới có bạn Đại Tăng thay Phật diễn nói đạo thừa, pháp bảo tôn kinh Nếu chúng ta chú ý quan sát thì những đàn chẩn tế cô hồn nhất là miền Bắc, ta đều thấy bốn chữ đại tự thêu trên vải

“Đại Phật Tuyên Dương” tức “Thay Phật tuyên dương Chính pháp” Ngoài ra ta còn thấy đàn tràng bày trí bài vị của Tam thập lục quỷ vương khiến không khí càng trở nên trang nghiêm hơn bao giờ hết Trong quá trình diễn ra đàn lễ, các nghi thức được nhuần nhuyễn đọc tụng từ nghi thức nhập đàn, sái tịnh, tụng sám Phổ Hiền cho đến khải thỉnh mười phương chư Phật; thỉnh đại thánh khải giáo A Nan Đà tôn giả, đức Diệu Nhiên Đại sĩ, …Mỗi một phần đi qua khi tán, khi tụng, khi lại ngâm nga,… ở nơi

đó hội tụ đủ các thanh âm trong trẻo hùng tráng, nhóm đủ các ngón nghệ trống, nạo,

chuông, mõ, tiu, cảnh,…Một phần không thể thiếu trong mỗi đàn tràng là Than cô hồn – triệu thỉnh thập loại cô hồn chúng sinh Một cảnh giới u huyền, não nề tang tóc,

thương tâm vô hạn được mở ra với chất đọc của dân gian “bi”, đi từ trái tim và lòng thương cảm với những kiếp người thống khổ, sống chẳng được đủ, chết chẳng được yên Một trăm tám mươi tư câu thơ Nôm song thất lục bát được cất lên đã liệt kê đầy

đủ những kiếp người: trên thì từ vua chúa, quan lại; dưới đủ sĩ, nông, công, thương rồi

lại cả Những kẻ màn loan trướng huệ, chân yếu tay mềm, lầu ca viện xướng Liều tuổi thanh xanh bán nguyệt buôn hoa Đặc biệt là những câu thơ Nguyễn Du viết về những hài nhi yểu mệnh khiến người ta không thể nào không xót xa, thương cảm: Kìa những

kẻ tiểu nhi tấm bé/ Nhỡ giờ sinh lìa mẹ, lìa cha/ Lấy ai bồng bế vào ra/ U ơ tiếng khóc thiết tha cõi lòng

Trang 38

Xong những phần triệu thỉnh cô hồn, nghe tưởng chừng như có mười loại cô hồn nhưng chính thức ở đây có tới 13 loại cô hồn Có những đàn tràng cúng chẩn tế cô hồn

không chỉ dùng 24 đường thỉnh trong khoa nghi của Thủy Lục Chư Khoa mà đôi khi còn dùng cả những đường thỉnh Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du Hai

khoa nghi tuy độ dài ngắn khác nhau, cách thể hiện cũng không đồng nhưng ý vị đều

giống nhau Một điểm khác nữa ở đây khi chúng tôi khảo sát hai văn bản Chiêu hồn thập loại chúng sinh và Thủy Lục Chư Khoa thì thấy ở Chiêu hồn thập loại chúng sinh

đề cập tới số phận của những hài nhi tấm bé, còn ở Thủy Lục Chư Khoa thì không đề cập tới Một điểm nữa, trong Thủy Lục Chư Khoa lại đề cập tới một loại cô hồn là

“giới tu hành”, còn trong Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, tuyệt nhiên không nhắc tới Thủy Lục Chư Khoa chép:

Những ai cạo bỏ tóc râu Tìm thầy để học đạo màu từ bi

Dù gặp phải gian nguy hiểm trở Cũng một lòng quyết chí theo thầy Chân không chưa ngộ lý hay

Vô thường hai chữ thoát ngay đó mà

Phải chăng Nguyễn Du luôn coi những người tu hành là đã thoát ly luân hồi, sinh

tử, vòng tục lụy chẳng vướng mảy may nên không có “Tăng sĩ cô hồn” trong văn của mình? Hai văn bản đã có chút khác nhau nhưng những điều mà các tác giả viết nên với

ẩn ý thế nào thì điều đó là điều mà chúng ta không nên bàn sâu

Kết thúc sau mỗi đường than, triệu thỉnh cô hồn là phần trì chú, kiết ấn, biến thực, biến thủy, quy y cô hồn, chúc nguyện, sám hối, hồi hướng và kết thúc Ngoài

những đàn tràng lớn (đại đàn), chúng ta còn thấy nhiều tín đồ đạo Phật tổ chức các nghi thức trung đàn, tiểu đàn; trung đàn và tiểu đàn thì không gian, vật thực dâng cùng

thì khiêm tốn hơn nhưng đại bộ phận gồm đủ hương hoa, trà quả chính nhất vẫn không thể thiếu trong mỗi đàn tràng là kim ngân, vàng mã, y phục giấy,… Nhưng ngày nay thay dần quần áo giấy vào cúng như xưa, họ thay vào đó là quần áo thật đa phần là của trẻ em, sau khi cúng xong họ phân phát cho người đến dự lễ mang về cho con chaus mặc; điều này khá hay và mới mẻ Nói tới đây, trong văn cụ Nguyễn Du có câu:

Của có chi bát cháo nén nhang Gọi là manh áo thoi vàng

Trang 39

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên

Những đường thỉnh như làm sống lại những kiếp người trước khung cảnh mùa thu, đàn tràng khi tiểu, khi đại nhưng tâm thành của những người tổ chức lễ thì chuyên nhất một suy nghĩ chỉ những mong rằng:

Ai tới đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu, Phép thiêng biến ít ra nhiều Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh

Đàn tràng đồ lễ vật thực thường có hạn dù thiết trí bao nhiêu cũng chẳng thể đủ được cho biết bao cô hồn chúng sinh; bởi theo giáo lý củaĐức Phật dạy trong kinh:

Chúng sinh trong đường ngạ quỷ nhiều như cát sông Hằng chẳng thể tính đếm Vậy

thì số lượng đông như vậy, đàn tràng cúng đôi khi chỉ là bát cháo nén nhang thì có đủ chu tất cho chúng sinh được không? Tất nhiên là đủ bởi đây là nghi thức Phật giáo thì

nó sẽ tồn tại và phát triển trong tư tưởng Phật giáo như ở trên Nguyễn Du đã nói:

Phép thiêng biến ít ra nhiều Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh

Ở đây ta thấy, Nguyễn Du như đã thấm nhuần tinh thần Phật giáo một cách nhuần nhuyễn nên mới có thể gộp những trang kinh câu kệ dài bao trang nói về việc phép màu của Phật pháp khi ứng dụng gia trì những câu thần chú “biến ít ra nhiều” thành hai câu thơ Nôm như trên Nương nhờ thần lực gia trì của Phật, Pháp, Tăng và đại nguyện của Đại Thánh Anan mà chúng sinh đến với đàn tràng đều no đủ, siêu thoát Trong tiểu đàn cúng cô hồn có câu:

Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ứng quán pháp giới tính Nhất thiết duy tâm tạo

Đây là bài kệ cốt tủy của Hoa Nghiêm kinh- một bộ kinh lớn của Phật giáo, ý của

bài kệ nói tới vấn đề: Vạn pháp do tâm tạo

Nghi thức cúng của đạo Phật cũng chia làm hai loại, thứ nhất đó là nghi thức

cúng Phật, Thánh Hiền; thứ hai là nghi thức cúng phổ độ cõi âm (tiền cúng hạ thí) Hai nghi thức này đều hướng tới cầu nguyện thế giới hòa bình, quốc gia hưng thịnh, nhà nhà an khang hạnh phúc, hữu tình đồng chiêm lợi lạc Cũng chính vì xuất phát từ

Trang 40

những điều đó, nghi thức cúng Bạt độ cô hồn cũng không hạn định trong một không

gian, thời gian nào Nó có thể được tổ chức trong dịp đầu năm, cuối năm, hay lễ Khánh thành của một ngôi chùa, đạo tràng, tự viện,…Trong những nhân duyên không

định lượng quy định thời gian trong đấy còn có nghi thức Phả độ gia tiên hay còn gọi

là Đại đàn kỳ siêu, một cách gọi nữa là Đàn giải oan cắt kết Nghi thức này được diễn

ra khi đại gia đình nào đó hay trong dòng họ có những người cứ lần lượt “dắt tay” nhau ra đi (chết) người ta gọi đó là trùng tang, trùng phục khiến cho gia đình, dòng họ

đó trở nên hoang mang và lo sợ Theo lý giải của dân gian thì những người chết như vậy là những người nặng nghiệp chết vào giờ xấu nên thần Trùng đã quấy nhiễu âm hồn, bắt âm hồn trở nên lôi kéo con cháu cùng đi theo Những gia đình gặp vận hạn đó tìm đến những cửa chùa, cửa tĩnh để nhờ các thầy làm bùa chú dán ở nhà, chôn yểm ở

mộ những mong thần Trùng không quấy phá âm hồn và người sống nữa Những biện pháp đó khi làm xong mà trong lòng họ vẫn không yên tâm với những việc đã làm, họ lại tìm đến những cửa chùa, cửa tĩnh để làm lễ phả độ gia tiên Trong đàn Giải oan cắt

kết bao gồm rất nhiều nghi thức, trong đó quan trọng nhất là nghi thức Phá ngục và nghi thức Cắt đoạn Ở nơi đạo tràng người ta bày một chiếc nhà bằng giấy gồm ba

tầng thượng, trung, hạ ở trên tầng thượng là ban Phật ngự, tầng trung là ban Thập Điện và tầng hạ gồm 5 cửa với 5 màu khác nhau, mỗi cửa có các hình đầu trâu mặt ngựa, quỷ sứ giữ cửa, bên trong ngục giấy họ đặt 1 chiếc kiềng trên chiếc kiền họ đặt 1 chiếc choả, trong chảo họ đặt 1 cây nến, 1 chiếc xích, 1 chiếc khoá

và 1 chiếc búa ; đó người ta gọi là Ngục Ở nghi thức này có những pháp sư, đại đức cao tay dùng tích trượng đi nhiễu quanh đàn miệng niệm chú, tay bắt ấn quyết, dùng tích trượng phá 5 cửa ngục Tuy chỉ là hình tượng nhưng người ta lấy

“giả độ chân” Còn nghi thức cắt kết là nghi thức được diễn ra sau khi phá ngục Pháp sư dùng dao và kéo, thư phù và cắt giải (cắt 5 bạ) và dùng phù kê giải kết;

dù miêu tả kỹ lưỡng đến đâu ta cũng không thể cảm nhận được sự linh thiêng đến

tột độ của đàn tràng Kết thúc đàn Giải oan cắt kết là nghi thức Mông Sơn thí thực

chẩn tế cô hồn Trong nghi thức này người ta bày một đàn tràng trang nghiêm với

đủ lễ vật: thanh bông, trà quả, đèn nến lung linh thiết lập ban Phật và ban Pháp

Sự Phất phơ bay trong gió là bảng trà, bảng thang, ngọn phan, ngọn phướn giấy hòa cùng ngũ sắc Tam Thập Lục Quỷ Vương khiến cho không khí của đàn tràng trở nên trang nghiêm huyền bí, linh thiêng hơn bao giờ hết Trong khi diễn ra hiến

Ngày đăng: 22/06/2022, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Quyển hạ, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
3. Phan Kế Bính (2006), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
4. Lý Khắc Chung (2002), Chuyện tâm linh Việt Nam, Nxb dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện tâm linh Việt Nam
Tác giả: Lý Khắc Chung
Nhà XB: Nxb dân tộc
Năm: 2002
5. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
6. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hoá Tâm linh, Nxb Văn hoá thông tin 7. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hoá Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Tâm linh", Nxb Văn hoá thông tin 7. Nguyễn Đăng Duy (1999), "Phật giáo với văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hoá Tâm linh, Nxb Văn hoá thông tin 7. Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin 7. Nguyễn Đăng Duy (1999)
Năm: 1999
10. Chơn Hạnh (1970), Nguyễn Du trên con đường trở về Phật giáo , Tạp chí tư tưởng (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du trên con đường trở về Phật giáo
Tác giả: Chơn Hạnh
Năm: 1970
11. Hoàng Xuân Hãn, Lễ vu lan với Văn tế cô hồn, Tạp chí Văn học số 2- 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ vu lan với Văn tế cô hồn
12. Vũ Văn Kính, Mấy ý kiến về việc hiệu đính Văn tế thập loại chúng sinh, Tạp chí Văn học, số 4-1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về việc hiệu đính Văn tế thập loại chúng sinh
13. Đinh Gia Khánh (2002), Văn học Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Mai Quốc Liên, Nguyễn Minh Hoàng (2015), Nguyễn Du toàn tập (tập 1), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du toàn tập
Tác giả: Mai Quốc Liên, Nguyễn Minh Hoàng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2015
15. Quảng Minh (2013), Thuỷ lục chư khoa, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuỷ lục chư khoa
Tác giả: Quảng Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2013
16. Sơn Nam, Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hoá Việt Nam , Văn hoá Việt Nam – Đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hoá Việt Nam , Văn hoá Việt Nam – Đặc trưng và cách tiếp cận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Mai Ngữ (1994), Thử bàn về thế giới tâm linh, Báo văn nghệ (37) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về thế giới tâm linh
Tác giả: Mai Ngữ
Năm: 1994
18. Vũ Ngọc Phan (1998), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb KH XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb KH XH
Năm: 1998
19. Hoàng Phê chủ biên (2003), Từ điển Tiếng Việt 2000, Nxb Đà Nẵng, Trung Tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt 2000
Tác giả: Hoàng Phê chủ biên
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
20. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
21. Phạm Công Sơn (2002), Văn hoá phong tục Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá phong tục Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Sơn
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
22. Hồ Bá Thâm, Tín ngưỡng dân gian- một lĩnh vực trong đời sống tâm linh cần sự quan tâm của xã hội, tạp chí Nghiêm cứu tôn giáo (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian- một lĩnh vực trong đời sống tâm linh cần sự quan tâm của xã hội
23. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Phương pháp dân chủ: thể hiện đưới nhiều hình thức khác nhau  như  đân  chủ  thực  sự,  dân  chủ  trực  tiếp,  dân  chủ  gián  tiếp, - CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH  TRONG  THỰC HÀNH NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
h ương pháp dân chủ: thể hiện đưới nhiều hình thức khác nhau như đân chủ thực sự, dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp, (Trang 30)
Phụ Lục 3: Một số hình ảnh thực hành nghi lễ/nghi thức  đàn tràng - thí thực cô hồn - CHIÊU HỒN THẬP LOẠI CHÚNG SINH  TRONG  THỰC HÀNH NGHI LỄ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
h ụ Lục 3: Một số hình ảnh thực hành nghi lễ/nghi thức đàn tràng - thí thực cô hồn (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w