Căn cứ theo quy định tại điều 5 Luật phá sản 2014, các đối tượng sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản để xem xét và giải quyết việc phá sản của một doanh nghiệp mất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*********
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Môn: Luật thương mại 2
Đề tài: PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển
Họ và tên sinh viên: Bùi Quang Hưng
MSSV: 17031771
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
I Khái niệm pháp luật phá sản 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm của tố tụng phá sản doanh nghiệp 3
II Quy trình của tố tụng phá sản 4
1 Nộp và thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản 4
2 Mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản 7
3 Hội nghị chủ nợ: 8
4 Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn 9
5 Tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản: 12
6 Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp: 14
III Những bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phá sản 16
1 Những bất cập còn tồn tại 16
2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả áp dụng luật phá sản .16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Tính từ ngày có dịch covid lây lan đến Việt Nam, mỗi ngày đất nước chúng ta có khoảng
448 doanh nghiệp tuyên bố phá sản (Theo Tổng cục thống kê) Có 9.942 doanh nghiệp đã giải thể trong 6 tháng đầu năm 2021, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2020 Với nhiều doanh nghiệp phá sản như vậy, với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, nên việc tuyên bố phá sản và xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến phá sản là một vấn đề rất cấp thiết hiện nay Chính vì vậy, em
đã chọn đề tài Pháp luật về phá sản doanh nghiệp để làm bài tiểu luận cuối kỳ
I Khái niệm pháp luật phá sản
1 Khái niệm.
Căn cứ theo khoản 4 Luật phá sản 2014, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.” Bên cạnh
đó, tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là khi doanh nghiệp, hợp tác
xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán
Đối với luật thương mại, pháp luật phá sản là một chế định đặc thù, được thể hiện qua việc vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật nội dung vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật hình thức, hay là pháp luật tố tụng Với tư cách là pháp luật nội dung, luật phá sản điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ, ghi nhận đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ tài sản đó Còn với tư cách là pháp luật hình thức thì pháp luật phá sản điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chủ nợ, con nợ và những người có liên quan, quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
2 Đặc điểm của tố tụng phá sản doanh nghiệp.
Như đã đề cập ở trên, tố tụng phá sản là pháp luật hình thức điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa các đương sự và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tố tụng phá sản là thủ tục phục hồi doanh nghiệp đặc thù vì trình tự, thủ tục phục hồi
Trang 4trong thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản, được tiến hành sau khi Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp và Tòa án đồng thời cũng quyết định thủ tục phục hồi này Hoạt động phục hồi này nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Tòa án và chủ doanh nghiệp tự thực hiện tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp, từ quyết định xem có phục hồi hay không, đến tự giải quyết các
phương án phục hồi doanh nghiệp,…
Khác với quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ, quan hệ tố tụng giữa các đương sự với
cơ quan nhà nước có dấu hiệu riêng Về chủ thể, một bên là các đương sự gồm chủ nợ, con
nợ và những người liên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần,… (trong trường hợp họ nộp đơn yêu cầu phá sản) Một bên là các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản, cơ quan thi hành án dân sự,… Về khách thể của quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp Nội dung của quan hệ này là những quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương
sự trước Nhà nước, hay là các hành vi tố tụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
II Quy trình của tố tụng phá sản.
1 Nộp và thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản.
a Nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là yêu cầu của chủ nợ đề nghị Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ Phá sản chỉ được Toà án xem xét, giải quyết trên cơ sở có yêu cầu mở thủ tục phá sản Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục bắt buộc đâu tiên của trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cụ thể trong Luật Phá sản Căn
cứ theo quy định tại điều 5 Luật phá sản 2014, các đối tượng sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản để xem xét và giải quyết việc phá sản của một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ:
Trang 5Thứ nhất, đó là các chủ nợ không đảm bảo hoặc có đảm bảo một phần Mục đích của Luật Phá sản trước tiên là nhằm bảo vệ quyền tài sản cho các chủ nợ, vì vậy các chủ nợ là đối tượng đầu tiên có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp để thu hồi các khoản nợ của mình Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Các chủ nợ bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì khoản nợ của họ đã được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp hay bảo lãnh của bên thứ ba
Thứ hai, những người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Các đối tượng này cũng được phép nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng
kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Như vậy, đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì việc nộp đơn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ Quy định này nhằm giúp doanh nghiệp mắc nợ có cở sở để tự giải thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán, giải quyết một cách hợp pháp các quan hệ nợ nần hoặc dưới sự giám sát của Tòa
án, doanh nghiệp mắc nợ có thể cùng với các chủ nợ thỏa thuận các biện pháp hòa giải, tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thiệt hại
Thứ tư, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp dnah có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Thứ năm, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều
Trang 6lệ công ty quy định Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích các cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ
trong công ty cổ phần
b Thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản.
Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản yêu cầu giải quyết phá sản là việc Toà án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, vào sổ thụ lý để giải quyết vụ việc phá sản Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như trách nhiệm của Toà
án trong quá trình tiến hành giải quyết vụ việc phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã có những quy định cụ thể về thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản Cụ thể, khi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được nộp lên Toà án, Thẩm phán được phân công xử lý vụ việc trong thời hạn ba ngày
sẽ xem xét và xử lý đơn về các nội dung: Trong trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản; Đối với trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chưa đầy đủ, Thẩm phán
sẽ thông báo cho người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn; Nếu thấy thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Toà án khác, Thẩm phán sẽ làm thủ tục chuyển đơn lên Toà án đó; Trong một số trường hợp nhất định, Thẩm phán phải trả lại đơn xin yêu cầu mở thủ tục phá sản; Thông báo việc xử
lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải bằng văn bản và gửi cho người nộp đơn và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán biết
Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu giải quyết phá sản hợp pháp của đương
sự và sau khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản Ngoài ra, không phải trong mọi trường hợp Toà án đều thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, theo điều 35 Luật Phá sản 2014, Toà án có quyền trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong các trường hợp pháp luật quy định, như người nộp đơn không có thẩm quyền, không sửa đổi, bổ sung đơn theo quy định, không nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản,…hoặc Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp
Trang 72 Mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản.
Việc mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản có vai trò quan trọng trong tiến hành vụ việc phá sản Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản là cơ sở pháp lý để tiến hành giải quyết phá sản một doanh nghiệp; là căn cứ để áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp; còn là căn cứ để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn một số hoạt động trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản Theo pháp luật phá sản, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì các chủ nợ có quyền yêu cầu Toà
án mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp đó Theo Khoản 2 Điều 9 và Khoản 2 Điều 42 Luật Phá sản năm 2014, thẩm phán là người ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Để đảm bảo tính khách quan, chính xác khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Toà án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Nếu có đầy đủ căn cứ để chứng minh rằng doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán, thì Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đom yêu cầu mở thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản của Toà án phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp
có trụ sở chính và đăng trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cổng thông tin điện tử của Toà án và 02 số báo địa
phương liên tiếp nơi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có trụ sở chính Bên cạnh đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người tham gia thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nhận được quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản, quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Toà án có thể bị đề nghị xem xét lại hoặc bị kháng nghị Thẩm quyền xem xét đơn đề nghị hay kháng nghị về quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản thuộc về Toà án cấp trên của Toà án ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản Cùng với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có trách nhiệm
Trang 8chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Sau khi mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường Tuy nhiên, theo Điều 48 Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp bị cấm thực hiện một số hoạt động như: cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; từ bỏ quyền đòi nợ; chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp Doanh nghiệp sau khi mở thủ tục phá sản đều phải chịu sự quản lý và giám sát của Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản là việc làm cần thiết để đảm bảo các doanh nghiệp này không tiếp tục mắc sai lầm, tạo cơ sở cho việc xây dựng thành công phương án sản xuất, kinh doanh sau này
3 Hội nghị chủ nợ.
Mặc dù không phải là thủ tục bắt buộc trong mọi trường hợp giải quyết phá sản, song Hội nghị chủ nợ có vai trò quyết định trong việc doanh nghiệp mắc nợ có được áp dụng thủ tục phục hồi hay không, là hình thức pháp lý quan trọng nhất để các chủ nợ thông qua đó bảo vệ quyền lợi họp pháp của mình trong tố tụng phá sản
Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ trước hết thuộc về chủ nợ Những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ đều được quyền tham gia Hội nghị chủ nợ Trong trường hợp không thể trực tiếp tham gia Hội nghị chủ nợ, họ cũng có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác để đại diện cho mình Với các trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và nợ lương người lao động thì những người lao động này là chủ nợ của doanh nghiệp Trong trường hợp
đó, đại diện người lao động, đại diện công đoàn được người
lao động ủy quyền sẽ tham gia Hội nghị chủ nợ Trường hợp doanh nghiệp được người thứ ba bảo lãnh cho các giao dịch phát sinh nghĩa vụ tài sản, thì những người bảo lãnh, sau khi đã trả
nợ thay cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trở thành chủ nợ không có bảo đảm của các doanh nghiệp
Trang 9Tham gia Hội nghị chủ nợ là nghĩa vụ đối với chính những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và người nộp đom yêu cầu mở thủ tục phá sản Trường hợp không tham gia được thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ như người uỷ quyền Trường hợp người đại diện doanh nghiệp mất khả năng thanh toán cố ý vắng mặt không có lý do chính đáng thì Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có văn bản đề nghị Toà án xử lý
theo quy định của pháp luật
4 Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Phục hồi hoạt động kinh doanh là nội dung thể hiện quan điểm tiến bộ, tính nhân đạo của pháp luật phá sản hiện đại đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán những cơ hội và điều kiện để tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi bờ vực của phá sản
a Xây dựng và thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là chủ thể nắm rõ các hoạt động kinh doanh của mình nhất nên pháp luật phá sản yêu cầu họ phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh để những người có trách nhiệm xem xét trước khi trình lên để Hội nghị chủ nợ thông qua Hội nghị chủ nợ là chủ thể thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh vì phương án này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ
Theo trình tự mà Luật Phá sản quy định, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ
nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và gửi cho Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cho ý kiến Hơn nữa, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gửi ý kiến cho doanh nghiệp để hoàn thiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Ngay sau khi nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
đã được doanh nghiệp bổ sung hoàn thiện, Quản tài viên, doanh nghiệp
Trang 10quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ báo cáo Thẩm phán Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán xem xét trước khi đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét thông qua
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh khi được quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành và có hiệu lực ràng buộc đoi với tẩt cả các chủ
nợ Trường hợp phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có sử dụng tài sản bảo đảm thì phải quy định rõ thời gian sử dụng tài sản có bảo đảm, phương án xử lý tài sản bảo đảm và phải được chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản đó đồng ý Trường hợp không tổ chức lại được Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết về việc thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Toà án tuyên bố doanh nghiệp phá sản
Sau khi phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được Hội nghị chủ
nợ thông qua, theo quy trình, Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ để phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đó đi vào triển khai trong thực tế Nghị quyết này, khi được thông qua và công nhận, sẽ có hiệu lực đối với tất cả người tham gia thủ tục phá sản có liên quan
b Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phải nêu rõ các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ Các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh gồm: huy động vốn; giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ; thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới công nghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác; bán hoặc cho thuê tài sản và các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật
Thời hạn để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thực hiện theo nghị
quyết của Hội nghị, chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Và
trong trường hợp nghị quyết của Hội nghị chủ nợ không xác định thời hạn thì thời hạn