Việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa to lớn và thiếu thực khi áp dụng vào nhận thức và hoạt động thực tiễn...8 CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
~~~~~*~~~~~
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Tô Thu Trang
Mã sinh viên : 2011310080
Lớp tín chỉ : TRI114 (1+2.2/2021).13
Lớp hành chính : K59 – Anh 2 – Tài chính quốc tế
GV hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tùng Lâm
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DỤNG 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 3
1 Vật chất 3
1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất: 3
1.2 Định nghĩa vật chất 3
1.3 Các hình thức tồn tại của vật chất 4
1.3.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất 4
1.3.2 Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất 5
2 Ý thức 6
2.1 Nguồn gốc của ý thức 6
2.2 Bản chất của ý thức 7
2.3 Kết cấu của ý thức 7
3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức 8
3.1 Vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức 8
3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, tác động trở lại vật chất 8
3.3 Việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa to lớn và thiếu thực khi áp dụng vào nhận thức và hoạt động thực tiễn 8
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY 9
1 Thực trạng nước ta trước giai đoạn đổi mới 9
2 Những chủ trương, đường lối đổi mới đất nước và những thành tựu đạt được 10
PHẦN KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
* Lí do chọn đề tài
Lịch sử của triết học cũng là lịch sử của những cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề cơ bản của triết học với hai phạm trù lớn: vật chất và ý thức Song, để đi đến được những quan niệm, định nghĩa khoa học và tương đối hoàn chỉnh về chúng cũng phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định với sự
ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vật chất
là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, nhưng đồng thời ý thức cũng tác động trở lại vật chất Trên thực tế có rất nhiếu quốc gia trong đó có Việt Nam đã tìm ra con đường đi cho mình từ lý luận trên Chính sự nhận thức đúng đắn về mối liên hệ giữa vật chất và ý thức mà Đảng và nhà nước ta đã có hướng đi đúng đắn cho đất nước, cho dân tộc
Do vậy em quyết định thực hiện bài tiểu luận với đề tài “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay” để phân tích và làm rõ những lý luận chung nhất về vật chất - ý thức, mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
và ý thức, sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo những lý luận trên vào thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam
* Mục đích nghiên cứu
- Hiểu được quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức trong triết học nói chung và triết học Mác – Lênin nói riêng
- Ứng dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vật chất
1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất:
Chủ nghĩa duy vật trước Mác có rất nhiều định nghĩa về vật chất, trong đó nổi lên các định nghĩa điển hình sau đây:
* Thời kì cổ đại: đồng nhất vật chất với một dạng vật cụ thể:
- Talet cho rằng vật chất là nước
- Anaximen cho rằng vật chất là không khí
- Đêmôcrit cho rằng vật chất là nguyên tử
=> Quan niệm vật chất thời kì cổ đại mang tính trực quan, cảm tình Nó chỉ
có tác dụng chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo
* Thời kí cận đại thế kỷ XVII – XVIII: đồng nhất vật chất với thuộc tính của vật chất VD: Niutơn cho rằng khối lượng là vật chất
=> Quan điểm vật chất thời kì cận đại mang tính siêu hình, máy móc
1.2 Định nghĩa vật chất
Định nghĩa :
Trong tác phẩm “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán’’,V.I.Lênin đã định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Trong định nghĩa trên, ta cần lưu ý:
Lênin chỉ rõ :vật chất là một phạm trù triết học Như vậy phạm trù vật chất của Triết học là một phạm trù có tính khái quát nhất, không giống với khái niệm vật chất trong một số ngành khoa học cụ thể, hay trong đời sống
Trang 5thường ngày Vì vậy, không được đồng nhất vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các dạng tồn tại cụ thể của nó mà các khoa học chuyên ngành nghiên cứu
Vật chất có thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất là thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Thuộc tính tồn tại khách quan không lệ thuộc vào ý thức của con người là điều kiện cần và đủ để phân biệt cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc về vật chất
Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Điều này nói lên rằng, thực tại khách quan (vật chất) là có trước, cảm giác của con người là có sau Cảm giác của con người có thể chép lại, chụp lại, phản ánh được thực tại khách quan (vật chất) Như vậy thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng mà tồn tại thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình và bằng cảm giác (ý thức) con người có thể nhận thức được
Như vậy, rõ ràng là định nghĩa của V.I.Lênin đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng
1.3 Các hình thức tồn tại của vật chất
1.3.1 Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất
Định nghĩa về vận động :
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, vận động là một phạm trù triết học chỉ mọi sự biến đổi nói chung, từ sự thay đổi vị trí đơn giản đến tư duy Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất và là phương thức tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất:
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, nghĩa là không có vật chất nào không vận động, cũng như không có vận động ngoài vật chất Vật chất tồn tại bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình
Trang 6Vận động của vật chất là sự tự vận động Bởi lẽ nguồn gốc của sự vận động này nằm ngay trong chính bản chất cấu trúc nội tại của vật chất Vận động của vật chất không bao giờ mất đi, chỉ chuyển hóa từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác
Các hình thức vận động cơ bản của vật chất:
Ph.Ăngghen dựa vào thành tựu khoa học đương thời đã chia vận động thành 5 hình thức vận động cơ bản sau:
Vận động cơ học
Vận động vật lý
Vận động hóa học
Vận động sinh học
Vận động xã hội
Các hình thức vận động tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất Giữa các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở hình thức vận động thấp Tuy nhiên, hình thức vận động cao có sự khác biệt về chất và không thể quy đổi về hình thức vận động thấp
Vận động và đứng im:
Theo Triết học Mác – Lênin, đứng im là biểu hiện của một trạng thái vận động, đó là sự vận động trong cân bằng, trong sự ổn định tương đối Đứng
im là tương đối, vận động là tuyệt đối vì: vật chất chỉ đứng im trong một quan hệ nhất định, một hệ quy chiều nhất định; đứng im chỉ xảy ra trong một hình thức vận động và chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian xác định, ngay trong thời gian đó cũng nảy sinh những nhân tố dẫn đến phá vỡ sự đứng im đó
1.3.2 Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Định nghĩa về không gian và thời gian :
Nếu như chủ nghĩa duy tâm phủ định tính khách quan của không gian và thời gian, các nhà siêu hình coi không gian và thời gian tồn tại độc lập
Trang 7không phụ thuộc vật chất thì theo Triết học duy vật biện chứng: Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật, biểu hiện trật tự phân bố của các sự vật Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến,
sự kế tiếp của các quá trình Nó biểu hiện trình tự xuất hiện, phát triển và mất đi của sự vật
Những tính chất của không gian và thời gian:
Tính khách quan, nghĩa là không gian và thời gian tồn tại độc lập
không phục thuộc vào ý thức con người Không gian và thời gian bao giờ cũng là không gian và thời gian của vật chất Không có không gian và thời gian ngoài vật chất
Tính vĩnh cửu và vô tận: vì vật chất luôn tồn tại, vận động, vĩnh viễn
nên không gian và thời gian cũng vĩnh cửu và vô tận Nghĩa là tính vô tận của vật chất quy định tính vô cùng, vô tận của không gian và thời gian
Tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian: không gian
có 3 chiều: rộng – dài – cao Thời gian chỉ có một chiều: Quá khứ - hiện tại – tương lai Lưu ý rằng, sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất giữa không gian và thời gian Bởi vậy nên, khi xem xét sự vật hiện tượng, phải xem xét chung trong không gian và thời gian xác định Xem xét sự vật hiện tượng phải tính đến quá khứ - hiện tại – tương lai phát triển của chúng
2 Ý thức
2.1 Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng , ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức : Nhân tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan ; trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người , từ đó tạo thành ý thức của con người về thế giới khách quan
Trang 8 Nguồn gốc xã hội của ý thức : có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc
xã hội của ý thức nhưng trong đó cơ bản nhất và trực tiếp nhất là nhân tố lao động và ngôn ngữ
2.2 Bản chất của ý thức
Triết học duy vật biện chứng cho bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vaò bộ não người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Cho nên,
ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, ý thức là hình ảnh chứ không phải là bản thân sự vật ; ý thức là hình ảnh của bản thân sự vật được thực hiện trong bộ não con người
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người, nghĩa là phản ánh ý thức, không phải bản copy Phản ánh ý thức là tích cực, chủ động Nghĩa là con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật, hiện tượng làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất của mình, qua đó con người có hiểu biết về sự vật, hiện tượng Hơn nữa con người còn biết vận dụng tri thức để nhận thức và cái tạo thế giới khách quan Phản ánh ý thức luôn mang bản chất xã hội Bởi lẽ, ý thức luôn là sản phẩm của sự phát triển của xã hội, dựa trên hoạt động thực tiễn xã hội, các quan hệ xã hội Con người tách rời khỏi xã hội sẽ không thể có ý thức
2.3 Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm nhiều thành tố có quan hệ tác động, gắn bó chặt chẽ với nhau Đó là : tri thức, tình cảm, ý chí Trong đó tri thức
là quan trọng nhất Tri thức cũng có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận tình cảm là hình thái đặc biệt của phản ánh ý thức Nó phản ánh trạng thái quan hệ giữa con người với con người ; giữa con người với thế giới khách quan.Tình cảm và tri thức có tác động quan
hệ qua lại lẫn nhau Tiềm thức là tri thức có được do phản ánh, thu nhận, tích luỹ và trở thành bản năng, kĩ năng hết sức tiềm tàng Tự ý thức là sự nhận thức của con người về bản thân mình (Con người ở đây có thể là một
cá nhân ; một tập đoàn người ; một dân tộc )
Trang 93 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức
3.1 Vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức
Theo triết học duy vật biện chứng, vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất cao có tổ chức của thế giới vật chất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thể giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức
3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, tác động trở lại vật chất
Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định những điều kiện vật chất, góp phần cái biến thể giới khách quan Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới Ngược lại, ý thức sẽ kìm hãm hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người nếu không phản ánh đúng thế giới khách quan
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất, thông qua hoạt động thực tiễn của con người dù đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên cơ
sở sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện vật chất liên quan
3.3 Việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có
ý nghĩa to lớn và thiếu thực khi áp dụng vào nhận thức và hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động nhân thức và hoạt động thực tiễn cần phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan Ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, phải thấy được vai trò tích cực của nhân tố
ý thức trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các điều kiện vật chất hiện có
Trang 10Cần tránh việc tuyệt đối hoá vai trò duy nhất của vật chất trong mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức Nghĩa là cần chống lại chủ nghĩa khách quan, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào điều kiện vật chất Mặt khác, cần chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, tinh thần, hạ thấp đánh giá không đúng vai trò của các điều kiện vật chất trong hoạt động thực tiễn
Trước năm 1986, đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn trì trệ, một hệ thống quản lí yếu kém cũng là do một phần không nhận thức đúng là đầy
đủ về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vấn đề này đã được nhận thức đúng sau đổi mới ở đại hội VI, và quả nhiên đã giành rất nhiều thắng lợi sau khi đã chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong phần tiếp theo của bài tiểu luận này, chúng ta sẽ cùng vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của phép duy vật biện chứng vào công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện tại
CHƯƠNG II VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ
Ý THỨC VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Thực trạng nước ta trước giai đoạn đổi mới
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chỉ đảm bảo nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chỉ cung cấp
đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu Mặt khác, nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề Ở miền Nam, sau 20