Mặt khác, lãi suất biến động sẽ kéo theo sự ảnh hưởng của các nhân tố khác, hệ quả là doanh thu của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai của doanh nghiệ
Trang 2[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
LỜI CẢM ƠN
ể thực hiện và hoàn thành xong bài báo cáo nhóm thực tế giáo
trình này, nhóm chúng em đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp
đỡ từ phía Khoa Kế toán-Tài chính, giáo viên hướng dẫn và các
thầy cô giáo
Với tình cảm chân thành, cho phép nhóm chúng em được bày tỏ lòng biết ơn tới
thầy cô giáo Khoa Kế toán-Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Huế đã giúp đỡ, trang bị
kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, nhóm chúng em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô giáo TS Trần Thị Bích
Ngọc, người đã hướng dẫn rất tận tình và đầy trách nhiệm từ lúc định hướng chọn đề tài
cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu
Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm nên bài báo cáo
không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Nhóm chúng em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn để bài báo cáo được hoàn thành tốt hơn
Nhóm xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Đ
Trang 4[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.2: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2006
Biểu đồ 2.3: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2007
Biểu đồ 2.4: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2008
Biểu đồ 2.5: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2009
Biểu đồ 2.6: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2010
Biểu đồ 2.7: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2011
Biểu đồ 2.8: Tình hình biến động chỉ số VN-Index năm 2012
Biểu đồ 2.9: Tình hình biến động lãi suất huy động giai đoạn 2000-2005
Biểu đồ 2.10: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2006
Biểu đồ 2.11: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2007
Biểu đồ 2.12: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2008
Biểu đồ 2.13: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2009
Biểu đồ 2.14: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2010
Biểu đồ 2.15: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2011
Biểu đồ 2.16: Tình hình biến động lãi suất huy động năm 2012
Biểu đồ 3.1: Dữ liệu hồi quy giai đoạn 2006-2012
Biểu đồ 3.2: Mối tương quan giữa biến độc lập và phần dư
Biểu đồ 3.3: Đồ thị phần dư đối với logarit nepe của lãi suất
Trang 5[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Kiểm định phân phối của VNI và R
Bảng 3.2: Kiểm định tính dừng các biến VNI và R
Bảng 3.3: Kiểm định nghiệm đơn vị phần dư
Bảng 3.4: Kiểm định phân phối các biến LnVNI và LnR
Bảng 3.5: Kiểm định tính dừng các biến LnVNI và LnR
Bảng 3.6: Kết quả hồi quy ảnh hưởng của LnR đến LnVNI
Bảng 3.7: Kiểm định Breusch-Godfrey đối với phần dư
Bảng 3.8: Kiểm định Jarque-Bera đối với phần dư
Bảng 3.9: Kiểm định White
Bảng 3.10: Kết quả mô hình hồi quy một số nước ở Châu Á
Trang 6[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
DANH MỤ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình quy trình nghiên cứu
Trang 7[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤ SƠ ĐỒ
MỤC LỤC
PHẦN : ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do thực hiện đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
ƢƠN 1: ỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤ ĐỘNG CỦA LÃI SUẤ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU 4
1 Cở sở lý luận về lãi suất 4
2 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu 8
3 Tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu 12
ƢƠN 2: ÌN ÌN ẾN ĐỘNG LÃI SUẤT VÀ CHỈ SỐ VN-INDEX TRÊN THỊ ƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 16
1 Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn từ 2006 - 2012 16
2 Tình hình biến động lãi suất giai đoạn từ 2006-2012 23
ƢƠN 3: ÌN Y KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ĐỘNG CỦA LÃI SUẤ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ ƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31
Trang 8[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
1 Phân tích sự tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam bằng mô hình hồi quy OLS 31
2 Ảnh hưởng của lãi suất đến giá cổ phiếu ở một số nước Châu Á 37
PHẦN III: KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Mặt khác, lãi suất biến động sẽ kéo theo sự ảnh hưởng của các nhân tố khác, hệ quả là doanh thu của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, làm giá cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường sa sút Hơn nữa, giá cổ phiếu và các tài sản tài chính là một trong những thước
đo quan trọng nhất thể hiện sức khoẻ của nền kinh tế hiện đại Trong những năm gần đây, sự suy giảm tăng trưởng kinh tế bởi ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm Thị trường Chứng khoán có nhiều biến động, đặc biệt là giá cổ phiếu có những phiên thay đổi bất thường Do đó, để cung cấp đầy đủ bức tranh về tình hình cũng như mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản mà cụ thể ở đây là lãi suất trên Thị trường Chứng khoán nước ta, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu
với đề tài “Phân tích sự tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu trên Thị trường
Chứng khoán Việt Nam” để giúp mọi người hiểu rõ hơn về những vấn đề trên
Trang 10[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 2
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết một số mục tiêu cụ thể sau:
o Đánh giá tình hình biến động của chỉ số VN-Index và lãi suất trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 đến 2012
o Nghiên cứu sự ảnh hưởng và tác động của lãi suất đến giá cổ phiếu bằng cách
sử dụng mô hình hồi quy đơn, dựa trên phương pháp xử lý dữ liệu thời gian
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự tác động giữa lãi suất mà cụ thể ở đây là lãi suất huy động đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Chỉ số VN-Index tại Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh HOSE và lãi suất huy động của NHTM
+ Thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ 1/2006 đến 12/2012
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (tổng quan lịch sử) Một số nghiên cứu cùng mục tiêu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam và nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Huế đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo, giúp xác định sự tác động của lãi suất đến giá của các cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Các sách, bài báo về ngân hàng, tài chính, marketing, các số liệu sơ cấp lấy từ các trang web cophieu68.com, cafef.vn…, thông tin về lãi suất huy động của các ngân hàng trên trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sbv.com.vn), dữ liệu thống
kê của IMF và Bloomberg
4.2 Nghiên cứu định lượng
Dựa trên sự phù hợp với đặc thù về thông tin và kinh tế Việt Nam, nhân tố lãi suất được xem xét tương quan với Thị trường Chứng khoán Việt Nam Vì vậy mô hình nghiên cứu có dạng:
Trang 11
[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 3
Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu.Đồng thời sử dụng phương pháp xử lí số liệu chuỗi thời gian bằng phần mềm Eviews 6 để phân tích các số liệu thu thập được và kết hợp với các kiến thức về thống kê, kinh tế lượng,… để đưa ra những kết luận cụ thể
Quy trình nghiên cứu:
Sơ đồ 1.1: Mô hình quy trình nghiên cứu
5 Kết cấu đề tài
Nội dung đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần lớn:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Phần này được chia thành 3
chương chính như sau:
o Chương 1: Tổng quan về lãi suất và tác động của lãi suất đến giá cổ
phiếu
o Chương 2: Tình hình biến động lãi suất và chỉ số VN-Index trên Thị
trường Chứng khoán Việt Nam
giá cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Trang 12[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 4
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ƢƠN 1: ỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤ ĐỘNG CỦA
LÃI SUẤ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU
1 Cở sở lý luận về lãi suất
1.1 Những vấn đề cơ bản về lãi suất
Khái niệm và phân loại
o Khái niệm:
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian nhất định Đây là loại giá cả đặc biệt vì nó được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không trên cơ sở giá trị Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất
Ở trong tầm kinh tế vi mô, lãi suất là cơ sở cho các cá nhân cũng như các doanh nghiệp đưa ra quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành tiết kiệm; đầu tư
số vốn tích lũy được gửi vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác
Mặt khác ở tầm kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là công cụ điều tiết cho vay nhạy bén
và hiệu quả; thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung cầu vốn quyết định Khi cung lớn hơn cầu thì lãi suất giảm, khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng Giới hạn cao nhất của lãi suất bao giờ cũng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân, nếu bằng thì không có người nào đi vay Theo Marshall: Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị trường bất kỳ; lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị trường đó với lãi suất đó bằng tổng cung về vốn được cung ứng trên thị trường đó với lãi suất đó
o Phân loại:
Căn cứ vào hình thức tín dụng
- Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
Trang 13[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 5
- Lãi suất ngân hàng: áp dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng Bao gồm các loại lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu của NHTM, lãi suất chiết khấu của NHTW, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản
- Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu
Căn cứ vào thời hạn của tín dụng
- Lãi suất ngắn hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
- Lãi suất dài hạn: áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn và dài hạn
Căn cứ vào tính chất ổn định của lãi suất
- Lãi suất cố định: là lãi suất áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay
- Lãi suất biến đổi: là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc không báo trước Điều chính theo biến động của lãi suất trên thị trường
Căn cứ vào phương pháp trả lãi
- Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi lãi của khoản cho vay được khấu trừ ngày từ đầu kỳ vào giá trị vốn cho vay Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá trị và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng
- Lãi suất coupon: là lãi suất được hoàn trả định kỳ cố định cho đến ngày đáo hạn
- Lãi suất mãn hạn: là lãi suất được hoàn trả toàn bộ vào lúc cuối kỳ Có thể được xác định theo phương pháp lãi suất đơn hoặc theo phương pháp lãi suất kép
1.2 Vai trò của lãi suất đối với nền kinh tế
Lãi suất với quá trình huy động vốn
Vốn đối với nền kinh tế là hết sức quan trọng Do đó việc tích lũy và sử dụng vốn như thế nào là rất cần thiết đối với nền kinh tế của một quốc gia Một chính sách vốn đúng sẽ giúp cho nguồn vốn được phát huy tối đa vai trò cũng như chức năng của
nó Và chính sách lãi suất là một trong những nhân tố tác động lên chất lượng nguồn vốn Lãi suất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo giá trị tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay Chúng ta có thể cụ thể như sau:
Lãi suất tiền gửi phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát để bảo đảm quyền lợi giữa người cho vay vốn và người gửi tiền Để có lợi nhuận, ngân hàng phải thực hiện một lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất tiền gửi, nhưng không được lớn hơn tỷ suất lợi nhuận bình
Trang 14[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 6
quân Nếu lớn hơn sẽ làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp không có lời, dẫn đến thua lỗ phá sản, mất khả năng trả nợ cho ngân hàng, làm ngân hàng bị ảnh hưởng và cuối cùng là ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Bên cạnh đó, lãi suất ngắn hạn phải nhỏ hơn lãi suất dài hạn đối với cả hai khoản tiền gửi và vay nhằm đảm bảo tính ổn định cho khoản vốn
Lãi suất với quá trình đầu tư
Việc đầu tư vào một tài sản cố định hay một dự án được thực hiện khi doanh nghiệp dự tính lợi nhuận thu được lớn hơn số tiền họ phải bỏ ra để thực hiện khoản vay đó Khi lãi suất thấp các doanh nghiệp có xu hướng đi vay nhiều hơn để mở rộng đầu tư và ngược lại Ngay cả khi doanh nghiệp thừa vốn thì chính sách lãi suất vẫn ảnh hưởng đến doanh nghiệp, vì nếu lãi suất cao doanh nghiệp sẽ tiến hành gửi vào ngân hàng chứ không mở rộng đầu tư Do đó lãi suất và đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau
Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Đối với nguồn thu nhập của gia đình, số tiền này sẽ được dùng để thực hiện hai mục tiêu: tiêu dùng và tiết kiệm Sự phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm sẽ phụ thuộc vào nhu cầu con người, giá cả hàng hóa và lãi suất tiền gửi Lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa và tỷ suất tiền gửi, do đó tác động trực tiếp đến nguồn thu nhập Khi lãi suất thấp, giá cả hàng hóa thấp, người ta sẽ tiêu dùng hàng hóa nhiều hơn
so với việc tiết kiệm Ngược lại, khi lãi suất cao, con người ta có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lợi nhuận, làm tiêu dùng giảm, tiết kiệm tăng
Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Sự thay đổi của lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ sẽ ảnh hưởng lên tỷ giá hối đoái quốc gia Nếu lãi suất danh nghĩa tăng, chúng ta xét hai trường hợp Thứ nhất là tăng
do tỷ lệ lạm phát tăng, lãi suất thực không đổi, thì điều này sẽ làm cho đồng nội tệ giảm giá, tỷ giá tăng Trường hợp thứ hai lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tăng, lạm phát không đổi, người ta sẽ chuyển sang nắm giữ đồng nội tệ nhiều hơn làm cầu nội tệ tăng, nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm
Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia Tỷ giá tăng sẽ làm cho hàng hóa trong nước ở nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng nước ngoài đối với trong nước sẽ rẻ hơn, từ đó nhập
Trang 15[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 7
khẩu tăng, xuất khẩu giảm làm giảm xuất khẩu ròng Tương tự khi lãi suất giảm sẽ làm tăng xuất khẩu ròng
Lãi suất với lạm phát
Lãi suất và lạm phát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong thời kỳ lạm phát tăng cao, việc tăng lãi suất sẽ có ý nghĩa làm giảm lượng tiền lưu thông, giúp kìm hãm
sự gia tăng của lạm phát Tuy nhiên không nên lạm dụng vì khi tăng lãi suất sẽ làm giảm tổng cầu, tổng đầu tư, đẩy nền kinh tế không phát triển
Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt, nó có vai trò quan trọng trong việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực giữa các ngành kinh tế Vai trò đó được hiểu như sau: Khi quyết định đầu tư vào một dự án, một lĩnh vực, một ngành kinh tế nào đó thì điều chúng ta xem xét đầu tiên chính là dự án có mang lại lợi nhuận không và lợi nhuận này
có đảm bảo hiệu quả kinh doanh, có đảm bảo khả năng chi trả khoản lãi cho số tiền vay là chi phí ban đầu hay không Để đánh giá quyết định phân bổ nguồn lực, ta phải xem xét đến sự chênh lệch giữa nguồn thu nhập đem lại và số tiền vay phải trả Khi chênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ có hiệu quả
Lãi suất với Ngân hàng thương mại:
Với vai trò là “đi vay để cho vay”, muốn hoạt động tốt ngân hàng thương mại phải xác định cho mình một chính sách lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay hợp lí nhất Nếu lãi suất huy động tiền gửi quá thấp sẽ không thu hút được các doanh nghiệp và người dân gửi tiền vào, điều đó sẽ làm ngân hàng không có đủ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu khách hàng Bên cạnh đó, nếu lãi suất cho vay quá cao các doanh nghiệp sẽ không thể vay nữa, vì lợi nhuận tạo ra không đủ để bù đắp phần lãi vay, nên việc kinh doanh sẽ bị thu hẹp hoặc ngừng hoạt động Một chính sách lãi suất phù hợp sẽ là đòn bẩy vừa giúp ngân hàng làm ăn có lãi, có lời, vừa giúp nền kinh tế phát triển Do đó có thể nói lãi suất ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và khách hàng, là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước và công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng thương mại Sự thay đổi của lãi suất góp phần điều tiết sản xuất và tiêu dùng, cung và cầu hàng hóa, là công cụ để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 16[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 8
Ngoài ra, lãi suất còn là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế
Sự biến động của lãi suất có thể dự báo được một số yếu tố của nền kinh tế Từ đó các ngân hàng hoặc doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn phương án kinh doanh cho phù hợp
2 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu
Rủi ro là những thiệt hại mà nhà đầu tư không muốn xảy ra trong tương lai đối với một danh mục đầu tư Bao gồm rủi ro không hệ thống và rủi ro có hệ thống Cấu thành nên rủi ro là các nhân tố trong nền kinh tế có tác động tiêu cực đến danh mục đầu tư Vậy những nhân tố nào ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và ảnh hưởng như thế nào? Trong phần này, chúng ta sẽ làm rõ điều đó
Đối với chứng khoán nói chung và từng loại cổ phiếu nói riêng, khi lưu thông trên thị trường đều tuân theo quy luật của thị trường Giá của cổ phiếu được hình thành dựa trên quy luật cung-cầu và sự mất cân bằng trên thị trường sẽ dẫn đến sự biến động
về giá cả hàng hóa Do đó mà những nhân tố làm thay đổi lượng cung-cầu của cổ phiếu trên thị trường cũng chính là những nhân tố làm thay đổi giá cổ phiếu đó Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nhưng ta có thể chia làm 2 nhóm nhân tố chính: nhóm nhân tố cơ bản và nhóm nhân tố vĩ mô Khi tiến hành giao dịch trên thị trường, các nhà đầu tư thường dựa trên những nhân tố cơ bản lẫn nhân tố vĩ mô để đưa
ra những quyết định mua bán với giá cả phù hợp nhất
2.1 Nhân tố cơ bản
Trên thị trường, giá cổ phiếu được xác định dựa trên nền tảng các yếu tố cơ bản là: (1) Tình hình lợi nhuận (ví dụ chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phiếu – EPS EPS là thước đo để xác định phần lợi nhuận công ty tạo ra trên mỗi cổ phiếu)
(2) Hệ số định giá (ví dụ hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu – P/E)
(3) Tính thanh khoản của một loại cổ phiếu phản ánh mức độ quan tâm của công chúng đầu tư
Cần lưu ý rằng, EPS là một thước đo phổ biến, nhưng ngoài ra còn có những thước đo kế toán khác cũng được sử dụng để đánh giá tình hình lợi nhuận, ví dụ như
cổ tức trên mỗi cổ phiếu hay dòng tiền trên mỗi cổ phiếu Đồng thời, bản thân EPS
Trang 17[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 9
cũng có thể được điều chỉnh theo những nguyên tắc tài chính nhằm tạo ra những con
số phản ánh chính xác hơn về tình hình lợi nhuận của công ty
Vì vậy, khi mua một cổ phiếu nào đó nghĩa là bạn mua một phần tương ứng của dòng lợi nhuận công ty có thể tạo ra trong tương lai Đây chính là cơ sở cho việc xác định P/E, hay P/E thể hiện mức giá bạn sẵn sàng trả cho một phần của dòng lợi nhuận được hưởng trong tương lai từ việc đầu tư vào cổ phiếu đó Một phần của dòng lợi nhuận được tạo ra này sẽ được chia dưới dạng cổ tức hay cổ phiếu thưởng; phần còn lại sẽ được công ty giữ lại để tái đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Dòng lợi nhuận tương lai là kết quả của mức lợi nhuận hiện tại và tỷ lệ tăng trưởng trong tương lai
Đối với hệ số định giá như P/E, thước đo này được quyết định bởi tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và tỷ lệ chiết khấu được dùng để quy dòng lợi nhuận trong tương lai về giá trị hiện tại Nghĩa là một công ty có tỷ lệ tăng trưởng dự kiến cao sẽ dẫn đến hệ số định giá cao, nhưng tỷ lệ chiết khấu cao sẽ khiến cho hệ số định giá thấp Tỷ lệ chiết khấu phụ thuộc vào mức độ rủi ro của loại cổ phiếu đó những yếu
tố vĩ mô như lạm phát hay lãi suất cơ bản trong nền kinh tế
2.2 Nhân tố vĩ mô
Nhóm nhân tố vĩ mô bao gồm tất cả những tác động bên ngoài đến việc hình thành nên giá cổ phiếu Có rất nhiều nhân tố tác động đến giá cổ phiếu và tùy vào mỗi yếu tố đều có những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp và ở những mức độ khác nhau
Do đó chúng ta có thể kể đến 3 yếu tố có tác động lớn nhất trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và TTCK nói riêng bao gồm tỷ giá hối đoái, lạm phát và lãi suất
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi trường tài chính
và môi trường doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài Tỷ giá hối đoái tăng cao sẽ là chất xúc tác cho TTCK, thu hút nguồn đầu tư từ các nguồn vốn nước ngoài, tạo động lực cho thị trường phát triển Tuy nhiên, việc tỷ giá hối đoái tăng mạnh gây tác động tiêu cực khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường, một lượng vốn lớn nhanh chóng bị rút khỏi
Trang 18Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bị hạ thấp khiến giá cổ phiếu giảm Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu
sẽ tăng giá và ngược lại Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển tốt và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút Nếu dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh hưởng của nó đến giá chứng khoán cũng rất quan trọng đối với các nhà đầu tư
Lãi suất
Lãi suất trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán Khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng lên
Thông thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một người phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác Thế nhưng câu chuyện về lãi suất khi nó chạy sang TTCK lại không dừng lại ở đó Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền Khi lãi suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm Không chỉ vậy, quan hệ quan hệ giữa lãi suất thị trường và lãi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán Nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm, điều này khiến cho hoạt động trên TTCK giảm sút vì người ta thích gửi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán
Trang 19ta có thể bỏ qua yếu tố này
Môi trường xã hội và pháp luật
Hệ thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá chứng khoán trên thị trường Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tăng lên
Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới
Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có
xu hướng giảm khi nền kinh tế yếu đi) Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu
Tâm lý nhà đầu tư
Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến động của giá cổ phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của giá cổ phiếu, của lợi nhuận doanh nghiệp và của lợi tức cổ phần Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị trường cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan Khi số tiền do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền bán ra của người bi quan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá Tỷ lệ giữa 2 nhóm người này sẽ thay đổi tuỳ theo cách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh doanh, cũng như những đánh giá của họ về nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng
Chính vì thế, cùng một loại chứng khoán, có người cho rằng, xấu quá cần phải bán đi, nhưng ngược lại có người cho rằng, tương lai của nó rất sáng lạn cần phải mua vào Điều này cũng lý giải tại sao trên TTCK lúc nào cũng có người mua, người bán
Trang 20[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 12
Ngoài ra, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn nhảm, các biện pháp kỹ thuật của nhà điều hành thị trường, ý kiến của các nhà phân tích cũng có thể khiến thị giá
cổ phiếu biến động
3 ác động của lãi suất đến giá cổ phiếu
Như đã phân tích ở trên, TTCK là một chủ thể chịu tác động của nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô Đối với nhân tố lãi suất, về mặt lý thuyết, lãi suất huy động tăng sẽ dẫn đến lãi suất cho vay tăng theo, làm tăng chi phí vay vốn của các doanh nghiệp, hạn chế mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và qua đó làm giảm lợi nhuận, khiến cổ phiếu của các doanh nghiệp trở nên kém hấp dẫn hơn Trên thực tế đã có một thuyết cơ bản, chính thống và quy ước được dùng để giải thích sự vận động của giá cổ phiếu thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp Đó là thuyết quy ước về giá cổ phiếu (Conventinal Theory of Stock Prices) Theo thuyết này, nguyên nhân cơ bản của sự vận động giá cả là sự dự đoán lợi nhuận doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp là nhân tố trực tiếp quan trọng nhất trong việc quyết định giá cổ phiếu Bởi giá cổ phiếu chính là giá trị hiện tại (Present Value) của tất cả lợi tức cổ phần trong tương lai Do đó, khi lợi nhuận doanh nghiệp thay đổi, giá cổ phiếu sẽ thay đổi và khi lãi suất thay đổi thì chi phí vay vốn của doanh nghiệp cũng thay đổi, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu lợi nhuận công ty tạo ra thấp, dòng tiền tạo ra giảm cùng với lãi suất chiết khấu tăng lên sẽ làm giảm giá trị của cổ phiếu Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có tỷ trọng các khoản nợ vay ngân hàng lớn hơn VCSH, thì lãi suất tăng sẽ làm cho doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính và phải đối mặt với nguy cơ phá sản Lúc này nhà đầu tư lại yêu cầu mức bù rủi ro cao hơn và giá cổ phiếu tiếp tục giảm xuống Ta có thể thấy
rõ qua công thức định giá doanh nghiệp:
Ngoài ra, khi chi phí vay vốn doanh nghiệp tăng, sẽ hạ thấp lợi nhuận mà doanh nghiệp dùng để thanh toán cổ tức từ đó lợi tức cho các cổ đông giảm Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao (giả dụ lãi suất tiết kiệm) Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển
Trang 21[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 13
vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh doanh Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vì chi phí cho vay mượn xuống thấp, và giá cổ phiếu thường tăng lên
Bên cạnh đó, nếu lãi suất huy động trong nước tăng cũng có tác dụng thu hút luồng ngoại tệ đổ vào, gián tiếp giúp đồng nội tệ tăng giá và do vậy tác động làm giảm
tỷ giá hối đoái Do vậy mà các doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh này sẽ gặp phải khó khăn do hàng hóa xuất khẩu bị đắt lên, đồng thời trước đó đã chịu thêm chi phí vốn vay do lãi suất tăng Hệ quả là doanh thu của các doanh nghiệp này sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai bị ảnh hưởng theo, làm giá cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường sa sút Tuy nhiên, đối với nhóm doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh, thì bối cảnh trên lại là lợi thế cho họ Tuy nhiên thì do ảnh hưởng của chi phí vốn vay tăng lên, phần lợi thế này có nguy cơ bị triệt tiêu
Như vậy có thể thấy rằng, lãi suất và giá cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều Một ví dụ điển hình mà lãi suất có liên quan chặt chẽ tới TTCK: Vào tháng 2/2007, các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất VND do TTCK “bốc hỏa” Khi đó, nhiều người dân rút tiền tiết kiệm để đổ vào chứng khoán, buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để giữ chân khách hàng và cạnh tranh với kênh đầu tư chứng khoán Nhưng đến tháng 8/2007, TTCK trở nên trầm lắng và bắt đầu chuyển biến theo hướng ngược lại Lúc này các công ty chứng khoán, các công ty niêm yết và những nhà đầu tư cá nhân chùn chân, rủ nhau đem gửi tiền ở các ngân hàng1
Hay một ví dụ khác tại Việt Nam trong thời gian qua, việc lãi suất gửi tiết kiệm giảm đã sẽ làm giảm mức độ hấp dẫn của kênh đầu tư này và khiến một phần dòng tiền chuyển sang kênh đầu tư khác Các kênh đầu tư truyền thống như vàng, bất động sản
và ngoại tệ đều đang hàm chứa nhiều rủi ro nên khó thu hút vốn đầu tư Giá vàng thế giới đang trong xu hướng giảm cộng thêm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới quá cao, khiến kênh đầu tư này khá rủi ro Bất động sản hiện đang đóng băng và thanh khoản thấp khiến khả năng chôn vốn của các nhà đầu tư là rất cao Tỷ giá VND/USD
1
http://forum.vietstock.vn/archive/index.php/t-8119-p-3.html
Trang 22[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 14
khá ổn định và chưa cho thấy khả năng biến động mạnh khi lạm phát tại Việt Nam được kiềm chế và thặng dư cán cân thanh toán của Việt Nam vẫn khá tốt, do đó kênh đầu tư ngoại tệ hiện tại cũng không tiềm năng Với các lý do trên, cộng thêm xu hướng hồi phục của nền kinh tế Việt Nam thì một phần dòng tiền tiết kiệm đã chuyển vào chứng khoán
Tuy nhiên chúng ta phải luôn nhớ rằng, lãi suất không phải là yếu tố có tính quyết định đối với giá chứng khoán và có rất nhiều cách thức khác nhau để xem xét sự thay đổi của giá chứng khoán và khuynh hướng thị trường Do vậy, không ai có thể tự tin nói rằng một công bố gia tăng lãi suất huy động của ngân hàng có thể tạo nên ảnh hưởng xấu đến toàn bộ giá chứng khoán
Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô mà cụ thể là nhân tố lãi suất với chỉ số chứng khoán – đại diện cho tình hình của TTCK – cũng đã được nhiều sinh viên và các chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Mỹ – Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
đã sử dụng phương pháp tập hợp các thông tin thứ cấp và những nhận định của chuyên gia về chứng khoán để thực hiện đề tài “Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh HOSE” Tác giả cho rằng 3 nhân
tố tác động đến giá cổ phiếu bao gồm: nhân tố ngoại sinh (lãi suất, lạm phát ), nhân tố nội sinh (gắn với công ty cổ phần) và nhân tố can thiệp (tâm lý nhà đầu tư, đầu cơ)
Công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên của nhóm sinh viên Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh đã sử dụng mô hình OLS, GARCH, EGARCH để nghiên cứu “Mối liên hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và Thị trường Chứng khoán Việt Nam” và nhóm cũng chỉ ra rằng lãi suất có sự tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu trên TTCK
Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến Thị trường Chứng khoán Việt Nam” của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt và Ths Phạm Dương Phương Thảo đã sử dụng mô hình OLS, kết quả cho thấy khi các nhân tố khác không đổi tại Việt Nam thì: nhân tố cung tiền, lạm phát, giá dầu và sản lượng công nghiệp có tương quan dương, còn lãi suất, tỷ giá có tương quan âm với TTCK
Zhou (1996) cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu sử dụng phân tích hồi quy Ông thấy rằng lãi suất có tác động quan trọng đến lãi cổ phiếu,
Trang 23[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 15
đặc biệt là trong dài hạn, nhưng giả thuyết cho rằng lợi nhuận cổ phiếu dự kiến sẽ di chuyển một đối một với lãi suất cũ bị từ chối Ngoài ra, kết quả của ông cho thấy lãi suất dài hạn giải thích một phần quan trọng trong sự thay đổi trong tỷ lệ giá cổ tức và cho thấy sự biến động cao của TTCK có liên quan đến sự biến động cao của lãi suất trái phiếu dài hạn, điều này có thể được tính bằng cách thay đổi dự báo về tỷ lệ chiết khấu
Lee (1997) sử dụng hồi quy trong ba năm để phân tích mối quan hệ giữa TTCK
và lãi suất ngắn hạn Ông đã cố gắng dự báo lợi nhuận vượt quá (tức là sự khác biệt giữa lợi nhuận TTCK và các rủi ro lãi suất ngắn hạn) trên các chỉ số Standard & Poor
500 với mức lãi suất ngắn hạn, nhưng phát hiện ra rằng mối quan hệ này không ổn định theo thời gian Nó dần dần thay đổi từ tiêu cực đáng kể đến không có mối quan
hệ, hoặc thậm chí đến một tác động tích cực mặc dù mối quan hệ không đáng kể
Jefferis và Okeahalam (2000) làm việc tại thị trường Nam Phi, Botswana và Zimbabwe, cho thấy lãi suất cao hơn sẽ dẫn đến việc ép giá cổ phiếu thông qua việc thay thế có hiệu lực (lãi suất cao trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu), tăng tỷ lệ chiết khấu (và do đó giảm giá trị hiện tại của lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai), hoặc tác động làm giảm đầu tư và do đó trong tương lai giảm lợi nhuận dự kiến
Arango (2002) cho thấy một số bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến và nghịch đảo giữa giá cổ phiếu trên TTCK Bogota và lãi suất tính theo ngân hàng lãi suất cho vay liên, ở một mức độ bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ
Hsing (2004) thông qua một mô hình VAR cấu trúc cho phép xác định đồng thời nhiều biến nội sinh như đầu ra, lãi suất thực suất, tỷ giá , chỉ số TTCK và phát hiện ra rằng có một mối quan hệ nghịch đảo giữa giá chứng khoán và lãi suất
Trang 24[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 16
ƢƠN 2: ÌN HÌNH BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT VÀ CHỈ SỐ VN-INDEX TRÊN THỊ ƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Tình hình biến động chỉ số VN- ndex giai đoạn từ 2006 - 2012
Giai đoạn từ năm 2000 - 2005:
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động chỉ số VN-Index giai đoạn 2000-2005
(Nguồn: cophieu68.com)
- Giai đoạn đầu: Từ khi ra đời cho đến hết năm 2000, chỉ số chứng khoán
VN-Index đã tăng “phi mã” từ 100 điểm lên 571 điểm – gấp 5,7 lần trong vòng 6 tháng
- Giai đoạn thứ 2: bắt đầu từ năm 2001 đến giữa năm 2004, chỉ số VN-Index gần
như “rơi tự do” từ 571 điểm xuống còn trên 130 điểm
- Giai đoạn thứ 3: từ nửa cuối năm 2004, chỉ số VN-index tăng dần lên trên 200
điểm và đến hết năm 2005 đã vượt qua mốc 300 điểm
Giai đoạn từ năm 2006 - 2012
Trang 25[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 17
Thị trường giao dịch tập trung những tháng đầu năm 2006 đã chứng kiến sự lên điểm nhanh chóng của chỉ số VN-Index Sau một thời gian dài xoay quanh mức 300 điểm, VN-Index đã vượt ngưỡng 400 điểm vào phiên giao dịch ngày 01/3/2006 Đến cuối tháng, vào phiên giao dịch ngày 31/3/2006, ngưỡng 500 điểm cũng bị phá vỡ Kết thúc phiên giao dịch ngày 25/4/2006 VN-Index đạt 632,69 điểm - con số cao nhất kể
từ khi TTCK Việt Nam được hình thành năm 2000 Cùng với sự lên điểm của Index, khối lượng và giá trị giao dịch cũng tăng cao Khối lượng cổ phiếu khớp lệnh bình quân phiên cho 5 tháng đầu năm 2006 là 1,7 triệu cổ phiếu, giá trị đạt hơn 84 tỷ đồng, cao lần lượt gấp 3 và 5 lần so với mức bình quân của 4 tháng cuối năm 2005
VN-Chỉ số giá chứng khoán VN-Index tại phiên giao dịch cuối cùng của năm (ngày 29/12) tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ở mức 751,77 điểm, tăng mạnh so với mức 307,5 điểm của phiên giao dịch cuối cùng năm 2005 Như vậy tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% Đây là mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng
Năm 2007
Tiếp nối thành công của năm 2006, TTCK Việt Nam tiếp tục có những bước chuyển mình trong năm 2007 Với những phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng, TTCK đã và đang chứng minh vị thế và tẩm ảnh hướng đáng phải có của nó với đời sống kinh tế đất nước
TTCK chính thức có một bước nhảy vọt cả về số lượng các công ty niêm yết, chất lượng hàng hóa và quy mô giao dịch trong năm 2007 Làn sóng các công ty niêm yết cuối năm 2006 nhằm hưởng ưu đãi thuế đã không gây ra khủng hoảng như một số chuyên gia dự báo, mà trái lại, đã trở thành một lực đẩy tích cực Với sự góp mặt của FPT, PVD, PPC, SSI, DPM,…, số lượng các cổ phiếu lớn có ảnh hưởng liên thông gần với VN-Index tăng lên Thị trường không còn chịu tác động chỉ từ một hai mã cổ phiếu nên độ cân bằng cao hơn
Trang 26Với độ mở của nền kinh tế khá lớn thì cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam Sự ảnh hưởng này tác động
Trang 27vụ kinh doanh của công ty chứng khoán sắp được áp dụng chắc chắn làn sóng sáp nhập và phá sản công ty chứng khoán là không thể tránh khỏi
Trang 28[NHÓM 3 – K44TCNH] GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc Page 20
tư cá nhân So với các kênh đầu tư khác như vàng, USD, bất động sản, tiết kiệm, có thể nói kênh đầu tư chứng khoán rất hấp dẫn và đem lại lợi nhuận lớn nhất ở Việt Nam trong năm 2009 Đây là năm đầu tiên TTCK Việt Nam bắt đầu có sự liên hệ chặt chẽ với TTCK thế giới, là một tín hiệu tích cực vì nó cho thấy TTCK và kinh tế Việt Nam bước đầu trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới chứ không còn là một thị trường biệt lập nữa
TTCK đã khởi đầu năm 2010 một cách khởi sắc với tâm lý hứng khởi tiếp nối
từ năm 2009 Nhưng với chính sách tiền tệ được thắt chặt nên thị trường bắt đầu rơi vào giai đoạn lình xình dẫn đến chỉ số VN-Index đã biến động trong dải hẹp trong cả năm Bên cạnh đó, việc thực thi Thông tư 13, trong đó đưa ra những quy định chặt chẽ hơn nhiều liên quan đến tỷ lệ vốn cho vay trên vốn huy động (LDR) và hệ số an toàn vốn (CAR), các nhà đầu tư bắt đầu lo ngại về không chỉ sự pha loãng cổ phiếu trong ngành mà cả việc các ngân hàng sẽ buộc phải bán cổ phiếu ra thị trường để có đủ vốn đáp ứng những quy định mới Và tâm lý vốn đã bất ổn của nhà đầu tư do việc giá cổ phiếu không tăng trưởng cuối cùng đã hoàn toàn trở nên bi quan Lúc này, pha loãng trở thành một từ phổ biến và thị trường đã trừng phạt những công ty tăng vốn mà