1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềm tàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của vietnamairlines cho năm tài chính kết thúc ngày 31-12-2011

46 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềm tàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của VietnamAirlines cho năm tài chính kết thúc ngày 31-12-2011
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 572,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN II - NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC1.1 Tổng quan về kiểm toán hoạt động và rủi ro kiểm toán 1.1.1 Kiểm toán hoạt độn

Trang 1

TÓM TẮT CHUYÊN ĐỀ

Tổng công ty Hàng không Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam AviationCorporation, viết tắt là AVIAVIETNAM là doanh nghiệp hoạt động đầu tiên trong ngànhhàng không Đây cũng là doanh nghiệp chiếm hơn 80% thị phần trong ngành, gần như làđộc quyền trong ngành này

Qua phân tích, thu thập thông tin và các bài đánh giá, phân tích của các chuyên gia,báo chí đăng trên Internet, nhóm đã nhận dạng được 6 rủi ro tiềm tàng hoạt động củaTổng công ty Hàng không Việt Nam trong năm tài chính kết thúc 31/12/2011:

- Rủi ro liên quan đến việc phát hành cổ phiếu

- Rủi ro sáp nhập

- Rủi ro hệ thống bản lẻ

- Rủi ro công tác tuyển dụng nhân công trực tiếp

- Rủi ro tỷ giá hạch toán ngoại tê

- Rủi ro tỷ giá – giá trần vé máy bay

Từ đó, nhóm tiến hành đánh giá mức rủi ro tiềm tàng trong hoạt động của Tổng công

ty Hàng không Sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán và các nhân tố rủi ro được xác định ởtrên, xác định các phép thử nghiệm áp dụng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán đồng thời

đề nghị các phương pháp thực hiện

Trang 2

PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kiểm toán hoạt động xuất hiện như là một nhu cầu của công tác quản lí cơ bản trongmột tổ chức Một khi các nghiệp vụ phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp thì yêu cầunày đòi hỏi phải thành lập một bộ phận thực hiện chức năng kiểm toán hoạt động chịutrách nhiệm kiểm tra các hoạt động trong một công ty cũng như giám sát việc thực hiện

và phát hiện các sai phạm

Trên phạm vi rộng hơn, kiểm toán hoạt động còn được coi là sự mở rộng mối quan hệchặt chẽ với kiểm toán viên bên ngoài và quan trọng đó chính là đáp ứng yêu cầu thôngtin tài chính minh bạch, trung thực, hợp lí Do đó mà kiểm toán hoạt động ngày một pháttriển

Hiện nay, đã có nhiều đơn vị thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ của kiểm toán hoạtđộng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đơn vị vẫn còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sựthấy rõ vai trò của kiểm toán hoạt động Vì vậy, việc kiểm toán hoạt động vẫn còn nhiềubất cập như chưa phân định chức năng, quyền hạn của kiểm toán và thanh tra, tổ chứchoạt động thiếu tính bài bản và chuyên nghiệp Từ đó, sẽ có nhiều rủi ro và sai phạmtrong đơn vị Việc phát hiện những rủi ro và ngăn ngừa những sai phạm thật sự là rất cầnthiết và cấp bách

Đó là lí do,chúng tôi thực hiện để tài “Nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềmtàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của VietnamAirlines cho năm tài chínhkết thúc ngày 31/12/2011”

Trang 3

2 Mục tiêu đề tài:

Nhận dạng và phân tích những vấn đề có mức rủi ro tiềm tàng cao có thể tác động đếncuộc kiểm toán hoạt động Vietnam Airlines trong năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2011.Với mỗi nhân tố rủi ro tiềm tàng phát hiện được, giải thích tại vì sao xác định vấn đềnày có khả năng dẫn đến sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của Vietnam Airlines(trong năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2011) Đồng thời, xác định các bằng chứng sẽđược thu thập trong cuộc kiểm toán để chứng minh bản chất và tác động của những rủi rotiềm tàng đã được nhận dạng

Sử dụng các thông tin được thu thập được để nhận dạng những rủi ro trên, đánh giá mứcrủi ro tiềm tàng trong hoạt động của Vietnam Airlines Sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán vàcác nhân tố rủi ro được xác định ở trên, xác định các phép thử nghiệm áp dụng trong giaiđoạn thực hiện kiểm toán

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Giới hạn nghiên cứu:

Đề tài này nghiên cứu việc nhận dạng và phân tích những rủi ro tiềm tàng của cuộckiểm toán hoạt động của VietnamAirlines trong năm tài chính kết thúc vào ngày31/12/2011

Trang 4

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập tài liệu

- Tham khảo các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, các giáotrình… để làm cơ sở hoàn thành phần cơ sở lý luận cũng như làm nền tảng tìm hiểu thựctiễn tại đơn vị

- Phỏng vấn trực tiếp nhân viên công ty để tìm hiểu HTKSNB của Công ty vàothực tế

- Thu thập giấy tờ làm việc của các trợ lý kiểm toán khác cũng như của kiểm toánviên chính để làm tài liệu

4.2 Phương pháp xử lí tài liệu:

Từ những tài liệu được tham khảo và các giấy tờ làm việc đã thu thập tiến hàng sosánh, đối chiếu, tổng hợp giữa quy trình kiểm toán theo chuẩn mực, chương trình kiểmtoán mẫu và quy trình kiểm toán tại đơn vị là để có cách nhìn toàn diện về thực tếHTKSNB tại đơn vị

5 Kết cấu của khóa luận:

Nội dụng của chuyên đề gồm 3 phần

1 Phần I: Đặt vấn đề

2 Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Kết cấu của phần này được qui định theo kết cấu 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Giới thiệu về Tổng công ty hàng không Việt Nam VietnamAirlines

Chương 3: Phân tích những vấn đề có mức rủi ro tiềm tàng cao…

Chương 4: Đánh giá chung mức rủi ro tiềm tàng trong hoạt động của VietnamAirlines…

3.Phần III: Kết luận

Trang 5

PHẦN II - NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC

1.1 Tổng quan về kiểm toán hoạt động và rủi ro kiểm toán

1.1.1 Kiểm toán hoạt động

Kiểm toán là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác minh tính trung thực và hợp

lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị,doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành

Kiểm toán hoạt động có nhiều định nghĩa khác nhau diễn đạt vấn đề này do chưathống nhất với nhau, nên có một số định nghĩa như sau:

Cơ quan kiểm toán nhà nước Mỹ (The United States General Accounting Office) địnhnghĩa như sau:“Kiểm toán hoạt động bao gồm kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả vàkiểm toán chương trình Kiểm toán tính kinh tế và tính hiệu quả bao gồm việc xác định:(1) Đơn vị có được nguồn lực (nhân viên, tài sản, và không gian), bảo vệ và sử dụngchúng có tính kinh tế và hiệu quả không ?, (2) Nguyên nhân của những hoạt động thiếuhiệu quả và không có tính kinh tế, và (3) Đơn vị có tuân thủ theo pháp luật và các quyđịnh liên quan đến những vấn đề về tính kinh tế và sự hiệu qủa không? Kiểm toán chươngtrình bao gồm việc xác định (1) Mức độ hoàn thành theo kết quả mong muốn hoặc lợi ích

do các cơ quan lập pháp hay đơn vị có thẩm quyền đề ra, (2) Sự hữu hiệu của các tổ chức,các chương trình, các hoạt động hoặc chức năng, và (3) Đơn vị có tuân thủ luật pháp hoặccác quy định có liên quan đến chương trình đó không ?”

Còn theo Tổ chức kiểm toán toàn diện của Canada (The Canadian ComprehensiveAudit Foundation) định nghĩa kiểm toán hoạt động là: “Một cuộc kiểm toán toàn diện làviệc kiểm tra nhằm đánh giá một cách khách quan và có tính xây dựng trong phạm vi cácnguồn tài lực, nhân lực và vật lực được quản lý có quan tâm đến tính kinh tế, tính hiệuquả và sự hữu hiệu và mối quan hệ về trách nhiệm giải trình phải được tách biệt rõ ràng.”

Trang 6

Theo quan điểm của Tổ chức kiểm toán toàn diện của Canada, kiểm toán toàn diện cóthể đươc xem xét bao gồm 3 loại công việc kiểm toán mà chúng có mối quan hệ với nhaunhưng cũng có thể tách ra theo từng loại riêng biệt gồm: kiểm toán báo cáo tài chính,kiểm toán tuân thủ, kiểm toán qua giá trị của đồng tiền (value for money audit).

Hai định nghĩa trên thuộc phạm vi của kiểm toán hoạt động trong khu vực nhà nước,còn trong khu vực tư nhân, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) đã định nghĩa về kiểmtoán hoạt động như sau : “Kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về

sự hữu hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của nhàquản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh giá, đồng thời đưa

ra những kiến nghị để cải tiến.”

Ngoài ra, còn nhiều định nghĩa khác nữa liên quan đến kiểm toán hoạt động vớinhững quan điểm có thể khác nhau, nhưng nội dung của các định nghĩa này tập trungtrình bày ở ba khía cạnh đó là tính kinh tế (Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và sựhữu hiệu (Effectiveness7) Do đó, có thể xem đây là những tiêu chuẩn quan trọng dùng đểxem xét kết quả của hoạt động được kiểm toán Vì vậy, người ta còn gọi loại kiểm toánnày bằng thuật ngữ đơn giản là kiểm toán 3E

Định nghĩa về kiểm toán 3E:

- Tính kinh tế:

Tính kinh tế có thể hiểu là “tối thiểu hoá chi phí cho các nguồn lực được sử dụngnhưng vẫn đảm bảo chất lượng phù hợp ở kết quả đầu ra” Khi xác định tính kinh tế, kiểmtoán viên sẽ phải xem các nguồn lực có đúng số lượng, chủng loại, địa điểm, thời gian vàđúng giá cả vv hay không ? Nói cách khác là kiểm toán viên phải xem đơn vị có khảnăng giảm thấp hơn việc chi tiêu so với quy định nhưng vẫn đạt được nguồn lực nhưmong muốn hay không? Hoặc khi đơn vị đã có những nguồn lực đó rồi, còn có cách lựachọn nào khác để giảm được chi phí thấp hơn so với hiện tại không?

Tuy nhiên, việc xác định được tính kinh tế không phải lúc nào cũng dễ dàng dù rằng

đã có những tiêu chuẩn có thể dùng để xem xét đến tính kinh tế của các nguồn lực Vì

Trang 7

vậy, đòi hỏi kiểm toán viên phải rất thận trọng khi xây dựng các tiêu chuẩn dùng để đánhgiá nó.

- Tính hiệu quả:

Tính hiệu quả được hiểu là việc cải tiến hoạt động để giảm giá thành hoặc giảm đượcnguồn lực sử dụng trên một đơn vị kết quả tạo ra Như vậy, tính hiệu quả liên quan mậtthiết giữa “yếu tố đầu vào” và “kết quả đầu ra” và nó được thể hiện qua chỉ tiêu năng suấtđạt được Năng suất là tỷ số giữa số lượng kết quả tạo ra (sản phẩm hoặc dịch vụ) đượcchấp nhận với lượng yếu tố đầu vào (các nguồn lực) được sử dụng để tạo ra chúng

Như vậy, tính hiệu quả là một khái niệm tương đối vì nó được đo lường bằng cách sosánh giữa năng suất với các chỉ tiêu, mục đích hoặc tiêu chuẩn được mong đợi

Về cơ bản, việc đánh giá tính hiệu quả của hoạt động đã có tiêu chuẩn chung đượcchấp nhận Vấn đề đặt ra là kiểm toán viên cần phải triển khai thành các tiêu chuẩn cụ thể.Kiểm toán viên thường phối hợp với nhà lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán và cácchuyên gia để xác định hoặc xây dựng chúng Ngay cả khi đã có sẵn những tiêu chuẩn,kiểm toán viên cũng cần xem xét những tiêu chuẩn đó có còn phù hợp không? Vì vậy, cầnphải thận trọng với những sự thay đổi trước khi chấp nhận tiêu chuẩn

Tính hiệu quả và tính kinh tế còn có ý nghĩa gần giống nhau nên đôi khi khó tách biệtđược một cách rõ ràng Nếu xét việc có được các nguồn lực như là các hoạt động của đơn

vị thì việc tối thiểu hoá chi phí để có được nguồn lực đúng số lượng, chủng loại, địa điểm,thời gian và đúng giá cả vv sẽ là “tính hiệu quả” của hoạt động tạo ra các nguồn lực đó.Còn nếu xét hoạt động ở phạm vi rộng hơn, tính kinh tế chỉ là một bộ phận của tính hiệuquả, vì tiết kiệm được chi phí cho nguồn lực cuối cùng cũng nhằm để giảm giá thành hoặcnguồn lực trên một đơn vị kết quả tạo ra đã định Nói cách khác, việc có được các nguồnlực có tính kinh tế góp phần tạo nên tính hiệu quả bằng cách tối thiểu hoá chi phí cho đầuvào được sử dụng

- Sự hữu hiệu

Trang 8

Sự hữu hiệu là đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu, mục đích đã được định trướccho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thực hiện (đạt được kết quả thoả đáng

từ việc sử dụng các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức) Vì vậy, trong kiểm toán sựhữu hiệu là phải xem xét giữa kết quả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế quahoạt động

Mặc dù chỉ là kiểm tra việc hoàn thành mục tiêu, thế nhưng kiểm toán viên vẫn có thể

sẽ gặp phải những rắc rối và khó khăn xung quanh vấn đề này như :

 Các mục tiêu thường xác định không rõ ràng, phức tạp, thay đổi và đôi khilại mâu thuẫn với nhau

 Việc xác định mức độ hoàn thành và đơn vị dùng để đo lường mức độ hoànthành thường không rõ ràng

 Nhiều kỹ thuật hoặc chiến lược thực hiện tuy khác nhau nhưng đôi khi lạicho ra kết quả giống nhau

Sự hữu hiệu cũng có mối quan hệ mật thiết với tính hiệu quả, bởi vì nó được xem nhưyếu tố quan trọng trong việc xác định mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và sự hữu hiệu củahoạt động (Cost-Effectiveness), đó là việc đạt được các mục đích với một chi phí thấpnhất, hoặc với chi phí ít hơn, hoặc ít nhất là với một chi phí hợp lý trong mối quan hệ vớigiá trị của kết quả tạo ra

1.1.2 Rủi ro kiểm toán

1.1.2.1 Khái niệm:

Rủi ro:

 Là các sự kiện xảy ra bất ngờ, không mong đợi

 Là sự kết hợp giữa mức độ nguy hiểm và tần suất xảy ra hoặc có thể xảy ra

 Khi rủi ro xảy ra, nó gây bất lợi cho con người và xã hội

Rủi ro kiểm toán (AR): là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xétkhông thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu

Trang 9

1.1.2.2 Các loại rủi ro kiểm toán:

- Rủi ro tiềm tàng (IR): là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáotài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có haykhông có kiểm soát nội bộ

 Mức độ rủi ro tiềm tàng là cơ sở để lựa chọn các thủ tục kiểm toán, xácđịnh khối lượng công việc, thời gian, nhân sự và các chi phí cần thiết cho cuộc kiểm toán

 Khi lập chương trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định cụ thể mức

độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu.Trường hợp không thể xác định được thì kiểm toán viên phải giả định rằng rủi ro tiềmtàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó Căn cứ vào mức độ đánh giá rủi ro tiềm tàng để dự kiếncác công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện cho các nghiệp vụ, các khoản mụctrọng yếu trên BCTC hoặc các nghiệp vụ, các khoản mục mà kiểm toán viên cho là có rủi

ro tiềm tàng cao

- Rủi ro kiểm soát (CR): là rủi ro trong đó một sai sót trọng yếu trong một tài khoảntrong báo cáo tài chính, riêng biệt hay gộp với các sai sót trong các tài khoản khác, đãkhông được hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ ngăn ngừa hoặc phát hiện vàsửa chữa trong thời gian mong muốn Hay nói cách khác đó là khả năng mà hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị không phát hiện và ngăn chặn được gian lận và sai sót

 Rủi ro kiểm soát luôn tiềm ẩn và khó tránh khỏi do hạn chế cố hữu của bất

kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào Nó ảnh hưởng đến khâu lập kế hoạch và xây dựng trình

tự, phương pháp kiểm toán thích hợp

 Để tránh rủi ro kiểm soát, KTV cần phải biết về hệ thống kế toán và thựchiện công việc kế toán để xác định các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu và nguồn gốc của

nó, về công tác tổ chức bộ máy kế toán, quy trình kế toán từ hệ thống chứng từ kế toán,tài khoản kế toán, sổ kế toán cho đến khi lập hệ thống BCTC Bên cạnh đó, KTV cầnđánh giá năng lực cũng như tính liêm khiết của kế toán trưởng và các nhân viên bộ phận

kế toán

Trang 10

- Rủi ro phát hiện (DR): là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên báo cáo tàichính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ và cũngkhông được kiểm toán viên phát hiện ra trong quá trình kiểm toán Rủi ro phát hiện cóquan hệ trực tiếp đến phạm vi kiểm toán và phương pháp kiểm toán áp dụng trong kiểmtoán Phạm vi kiểm toán càng rộng, phương pháp kiểm toán càng thích hợp và chặt chẽ,công việc kiểm toán càng tuân thủ chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán thì mức độ rủi rocàng thấp và ngược lại.

1.2.2.3 Đánh giá rủi ro kiểm toán:

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (mục 8 VAS 400- Đánh giá rủi ro vàkiểm soát nội bộ): Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc KTV và công ty kiểm toán xác địnhmức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi ro tiềm tàng,rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kếhoạch và trước khi thực hiện kiểm toán

Ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rất lớn, mang lại lợi ích thiết thực trongtất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán, nất là giai đoạn đầu tiên Trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, đánh giá rủi ro kiểm toán giúp kiểm toán viên:

 Giới hạn phạm vi công việc kiểm toán ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệmđược thời gian vừa đảm bảo chất lượng kiểm toán với mức phí hợp lý và cạnhtranh

 Xác định được những khoản mục hoặc nhóm nghiệp vụ chứa rủi ro cao, từ đótập trung nguồn lực để thỏa mãn các mục tiêu kiểm toán

1.2 Thử nghiệm kiểm toán

1.2.1 Vai trò của thử nghiệm

- Khẳng định các đánh giá ban đầu của KTV về KSNB cũng như tìm hiểu các hạnchế trong hệ thống

Trang 11

- Xác định những số liệu về rủi ro hoặc ảnh hưởng của chúng đến hoạt động.

- Thu thập bằng chứng cho cuộc kiểm toán

1.2.2 Các loại thử nghiệm:

- Thử nghiệm kiểm soát - TOC

 Thủ tục kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ

 Là một thủ tục kiểm toán nhằm xác định sự hoạt động của việc thiết kế vàhoạt động của các thủ tục kiểm soát

- Thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ- TOT và TOB

 Thủ tục kiểm tra chi tiết số dư

 Trắc nghiệm trực tiếp số dư và nghiệp vụ

 Cung cấp bằng chứng về các yếu tố cấu thành tài khoản và những vấn đềkhác có liên quan

- Các thủ tục tìm hiểu HTKSNB

 Thủ tục kiểm tra HTKSNB của đơn vị nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị, bảođảm độ tin cậy của thông tin, bảo đảm các quy định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạtđộng của đơn vị được tuân thủ đúng lúc, đảm bảo hoạt động có hiệu quả

 KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhânviên của đơn vị chi phối

- Các thủ tục phân tích

 Theo VAS 520- Quy trình phân tích: “Thủ tục phân tích là việc phân tích các

số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm những xu hướng, biếnđộng và tìm ra những mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sựchênh lệch lớn so với giá trị dự kiến”

 Giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toánkhác

Trang 12

1.2.3 Xác định phép thử nghiệm áp dụng

Loại thử nghiệm được lựa chọn và mức độ áp dụng cần thay đổi cho phù hợp với từnghoạt động, chu trình kiểm toán với các mức hiệu quả KSNB và rủi ro tiềm tàng khácnhau

Bảng 1.2.3 Xác định phép thử nghiệm áp dụng

Trường hợp

kiểm toán

Các thủ tụctìm hiểuHTKSNB

Thử nghiệmKiểm soát(TOC)

Thử nghiệm

cơ bản trênnghiệp vụ(TOT)

Các thủ tụcphân tích

Thử nghiệmchi tiết trên số

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển đổi hình thức sở hữu một phầntài sản của Nhà nước, biến doanh nghiệp từ sở hữu của nhà nước thành dạng sở hữu hỗnhợp, trong đó nhà nước có thể giữ một tỷ lệ vốn nhất định, tỷ lệ này tùy thuộc vào vai trò,

vị trí của nó trong nền kinh tế

Trang 13

1.3.1.2 Quy định về cổ phần hóa

Phải đảm bảo đủ hai điều kiện là không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốnđiều lệ và còn vốn nhà nước sau khi đã xử lý hành chính, đánh giá lại giá trị doanhnghiệp Đối với các doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa đã được xử lý tài chính và xácđịnh lại giá trị doanh nghiệp mà giá trị thực tế doanh nghiệp thấp hơn các khoản phải trảnhưng có khả năng khôi phục lại sản xuất, có thể tiếp tục duy trì việc làm cho người laođộng thì quy định rõ cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hoá chỉ đạodoanh nghiệp phối hợp với Công ty Mua bán nợ Việt Nam và các chủ nợ của doanhnghiệp xây dựng phương án tái cơ cấu doanh nghiệp trong thời hạn 03 tháng; trường hợpphương án tái cơ cấu doanh nghiệp không khả thi và hiệu quả thì chuyển sang thực hiệncác hình thức chuyển đổi khác theo quy định của pháp luật

Đối với quy định bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là việc thu hút cácnhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tham gia tái cơ cấu lại doanh nghiệp Nghị định mới

đã điều chỉnh mở rộng thêm cơ chế bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước cuộc đấugiá công khai, giá bán là giá thoả thuận hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư chiến lược vớinhau nhưng không thấp hơn giá khởi điểm đã được duyệt

Trường hợp thực hiện bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược sau khi bán đấu giácông khai ra công chúng như cơ chế hiện nay thì giá không thấp hơn giá đấu thành côngthấp nhất của cuộc đấu giá công khai Đồng thời, để các nhà đầu tư chiến lược thực sựđồng hành cùng doanh nghiệp sau chuyển đổi, dự thảo cũng quy định mỗi doanh nghiệpkhông quá 03 nhà đầu tư chiến lược Thời gian nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư chiếnlược ít nhất là 05 năm

Về xử lý tài chính trước khi định giá doanh nghiệp cổ phần, để khắc phục những bấtcập trong quá trình cổ phần hoá thời gian qua, Nghị định đã bổ sung quy định các tài sảnkhông được phép loại trừ khỏi giá trị doanh nghiệp gồm: tài sản là nhà cửa, vật kiến trúc(bao gồm cả các công trình ngầm, đường xá nội bộ, tường rào, sân, bãi nội bộ) mà doanhnghiệp có sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp; các tài sản là máy móc thiết bị, phương tiện

Trang 14

vận tải mới đầu tư đưa vào sử dụng trong thời hạn 05 năm hoặc có giá trị còn lại theo sổsách kế toán từ 50% nguyên giá của tài sản trở lên.

Đối với tài sản thuộc diện phải hủy bỏ là hóa chất, chất gây nguy hại, thuốc trừ sâu đãquá hạn doanh nghiệp chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành

xử lý, hủy bỏ theo chế độ quản lý tài chính và quản lý môi trường hiện hành trước thờiđiểm thực hiện đăng ký doanh nghiệp lần đầu hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Sau khixác định nguyên nhân, trách nhiệm, bồi hoàn theo chế độ quản lý tài chính hiện hành,phần tổn thất doanh nghiệp được xử lý vào kết quả kinh doanh theo quy định

Về xử lý tài chính ở thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổphần, do thị trường tài chính trong thời gian qua có nhiều biến động lớn, diễn biến bấtthường, vì vậy, đã quy định tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hoá được cấp Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, khi lập báo cáo tài chính để bàn giao từ doanh nghiệp100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần, doanh nghiệp thực hiện định giá lại các khoảnđầu tư chứng khoán (nếu có) đã xác định trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá; tổng giátrị các khoản đầu tư chứng khoán phát sinh tăng hoặc giảm so với giá đang hạch toán trên

sổ kế toán thì doanh nghiệp được hạch toán vào kết quả kinh doanh theo quy định phápluật

Đồng thời, trong thời gian 30 ngày kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp lần đầu, doanh nghiệp cổ phần hóa phải hoàn thành việc lập báo cáo tàichính tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, đề nghị

cơ quan thuế kiểm tra quyết toán thuế, thực hiện quyết toán, xác định giá trị phần vốn nhànước tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần và các tồn tại về tài chính cầntiếp tục xử lý làm cơ sở bàn giao cho công ty cổ phần mới

Về xác định giá đất trong giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm rà soát,xây dựng và gửi phương án sử dụng toàn bộ diện tích đất đang quản lý, sử dụng gửi đếnlấy ý kiến UBND cấp tỉnh trên địa bàn trước khi thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp.Doanh nghiệp được lựa chọn hình thức thuê đất hoặc giao đất theo quy định của Luật Đất

Trang 15

đai Trong thời hạn 30 ngày, các địa phương phải có ý kiến chính thức đối với lô đấtdoanh nghiệp tiếp tục sử dụng sau cổ phần hoá, giá đất để xác định giá trị đất trong giá trịdoanh nghiệp và hoàn tất các thủ tục liên quan đến đất đai trước khi chính thức chuyểnsang công ty cổ phần.

Về áp dụng kiểm toán nhà nước, để tăng cường giám sát, chống thất thoát vốn và tàisản nhà nước, quy định việc áp dụng Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán lại kết quảđịnh giá và xử lý các vấn đề về tài chính trước khi công bố giá trị doanh nghiệp Phạm vi

áp dụng là các doanh nghiệp quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt độngkinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề đặc thù (như: bảo hiểm, ngân hàng, bưuchính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác); cácCông ty mẹ thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp kháctheo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ Thời gian hoàn thành, công bố kết quả kiểm toánkhông quá 60 ngày làm việc kể từ ngày tiến hành kiểm toán Căn cứ kết quả kiểm toáncủa Kiểm toán Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định công bố giá trịdoanh nghiệp và triển khai các bước tiếp theo của quá trình cổ phần hoá theo quy định

Trang 16

1.3.3.2 Phân loại tỷ giá:

- Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:

 Tỷ giá chính thức:

Là một loại tỷ giá do ngân hàng trưng ương của mỗi nước công bố Tỷ giá hối đoáinày được công bố mỗi ngày vào đầu giờ làm việc của ngân hàng trung ương Dựa vào tỷ

Trang 17

giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bánngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi

 Tỷ giá kinh doanh:

Là tỷ giá dùng để kinh doanh mua bán ngoại tệ Tỷ giá này do các ngân hàng thươngmại hay các tổ chức tín dụng đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức dongân hàng trung ương công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanhnhư: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối vớingoại tệ cần mua bán

Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán

 Tỷ giá chợ đen: Tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chínhthức

- Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán:

 Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại

tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau Loại tỷ giá này do tổchức tín dụng yết giá tại ngày giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảotrong biểu độ do Ngân hàng nhà nước quy định Việc thanh toán giữa các bên phải đượcthực hiện trong vong hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán

 Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giáhoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tín toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảotrong biên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của ngân hàng nhà nước tại thời điểm

ký hợp đồng

 Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá mua bán ngoại tệ của giao dịch đầu tiên trong ngày

 Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùngtrong ngày

- Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá:

 Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền màkhông đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng

Trang 18

 Tỷ giá thực là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quangiá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá.

- Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được phân thành hai loại:

 Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Đây là tỷ giá cơ sở đểxác định các loại tỷ giá khác

 Tỷ giá thư hối là tỷ giá chuyển đổi ngoại hối bằng thư

- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế:

 Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ

 Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu trả tiềnngay bằng ngoại tệ

 Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạnbằng ngoại tệ

 Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khoảnqua ngân hàng

 Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá thanh toán ngoại hối bằng tiền mặt

1.3.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá

Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp được quyết định bởicác lực lượng thị trường, cung và cầu:

- Cán cân thương mại ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

- Mức độ tăng trưởng hay suy thoái nền kinh tế

- Đầu tư nước ngoài

- Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước

- Lạm phát ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

- Tâm lý số đông, các tin đồn cũng như kỳ vọng trong tương lai của người dân

1.3.3.4 Ý nghĩa tỷ giá hối đoái:

- So sánh sức mua giữa các đồng tiền

Trang 19

- Vai trò kích thích và điều chỉnh xuất nhập khẩu

- Điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại

- Công cụ sử dụng trong cạnh tranh thương mại, giành giật thị trường tiêu thụ hànghóa, khai thác nguyen liệu của các nước khác với giá rẻ

1.3.3.5 Tác động của tỷ giá đến các quan hệ kinh tế quốc tế:

- Tác động đến thương mại quốc tế:

 Khi tỷ giá hối đoái tăng theo nghĩa là đồng tiền nội tệ có giá trị giảm xuống

so với đồng ngoại tệ sẽ có tác động bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại có lợi ích cho xuấtkhẩu

 Khi tỷ giá giảm có tác động hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu

- Tác động đến hoạt động đầu tư: Khi tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ hạn chế việc đầu tư

ra nước ngoài của nhà đầu tư trong nước, vì họ sẽ không có lợi nếu chuyển vốn bằng đồngnội tệ ra nước ngoài để đổi lấy ngoại tệ tăng giá Các khoản vốn đầu tư này nếu được táiđầu tư hoặc để mua hàng hóa trong nước thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn Và ngược lại

1.3.4 Giá trần vé máy bay

1.3.4.1 Khái niệm

Giá trần: Giá trần là mức giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiệntrong phiên giao dịch Giá trần = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao độnggiá)

Giá trần là mức giá tối đa bắt buộc, nhằm điều chỉnh mức giá thấp hơn mức giá cânbằng của thị trường hiện tại Điều này gây nên hiện tượng thiếu hụt hàng hóa và lúc nàythị trường chợ đen sẽ xuất hiện giá trần được đặt ra để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.Giá trần vé máy bay là mức giá cao nhất mà Bộ tài chính đặt ra cho hàng hàngkhông Căn cứ vào mức giá trần vé máy bay trên, cự ly vận chuyển và tình hình thịtrường, các hãng hàng không sẽ quy định cụ thể về mức giá trên các đường bay và điềukiện áp dụng theo phương thức đa dạng giá vé

Trang 20

1.3.4.2 Căn cứ định mức giá trần

Mức giá trần thường cao hơn mức giá hiện tại nhưng thông thường giao dịch tại mứctrần hoặc gần mức này là an toàn Thêm vào đó, sự chuyển dịch giá có thể đột biến vàtăng lên mức giá trần một cách đột ngột Vì vậy, nhiều nhà đầu tư và giao dịch thường lậpnên một vùng mức trần

1.3.4.3 Một số yếu tố làm thay đổi mức giá trần vé máy bay:

- Chi phí thực hiện chuyến bay: giá xăng – dầu, thực phẩm… thay đổi

- Do tỷ giá USD

- Nhu cầu thị trường

- Tình hình thời tiết

- Kích thích, thúc đẩy doanh thu kinh doanh, làm ăn có lãi, …

- Cân bằng các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài công ty

- …

1.3.4.4 Ảnh hưởng của việc định giá trần vé máy bay:

- Các doanh nghiệp có chính sách, cơ chế, định giá vé phù hợp với mỗi chuyến bay

- Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn vị nếu giá trần quá cao so với thực

tế, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp

- Kích thích, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển tốt hơn

Trang 21

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT

NAM (VIETNAM AIRLINES)

2.1 Khái quát sự ra đời, phát triển của Vietnam Airlines

Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

200 Nguyễn Sơn, Quận Long Biên, Hà Nội, Việt Nam

Số đăng ký KD: 106000844 cấp ngày 26/1/2007 tại Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội

Mã số thuế: 0100107518

2.1.1 Thời kỳ đầu tiên

Lịch sử của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bắt đầu từ tháng Giêng năm 1956,khi Cục Hàng không Dân dụng được Chính phủ thành lập, đánh dấu sự ra đời của NgànhHàng không Dân dụng ở Việt Nam Vào thời điểm đó, đội bay còn rất nhỏ, với vẻn vẹn 5chiếc máy bay cánh quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến bay nội địa đầu tiên được khaitrương vào tháng 9/1956

Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu việc mở rộng và khai thác hiệu quả nhiều tuyến bayquốc tế đến các các nước châu Á như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a và Sing-ga-po Vào cuối giai đoạn này, hàng không dân dụng Việt Namtrở thành thành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO)

Tháng 4 năm 1993 chính là thời điểm lịch sử khi Hãng Hàng không Quốc gia ViệtNam (Vietnam Airlines) chính thức hình thành với tư cách là một tập đoàn kinh doanhvận tải hàng không có quy mô lớn của Nhà nước Vào ngày 27/05/1996, Tổng Công tyHàng không Việt Nam được thành lập trên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh dịch vụ hàng không, lấy Vietnam Airlines làm nòng cốt

Trang 22

2.1.2 Tiến trình phát triển

Vào ngày 20/10/2002, Vietnam Airlines giới thiệu biểu tượng mới - Bông Sen Vàng,thể hiện sự phát triển của Vietnam Airlines để trở thành Hãng hàng không có tầm cỡ vàbản sắc trong khu vực và trên thế giới Đây là sự khởi đầu cho chương trình định hướngtoàn diện về chiến lược thương hiệu của Vietnam Airlines, kết hợp với những cải tiếnvượt trội về chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng đường bay và đặc biệt là nâng cấp đội máybay

Tháng 10/2003, Vietnam Airlines tiếp nhận và đưa vào khai thác chiếc máy bay hiệnđại với nhiều tính năng ưu việt Boeing 777 đầu tiên trong số 6 chiếc Boeing 777 đặt muacủa Boeing Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của chương trình hiện đại hóa đội bay củahãng Ba năm sau đó, Vietnam Airlines trở thành một trong những hãng hàng không cóđội bay trẻ và hiện đại nhất trong khu vực

Hãng hàng không đẳng cấp thế giới:

Trong vòng 15 năm qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 10%/ năm (trừ giaiđoạn khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997), Tổng Công ty Hàng không Việt Nam đãkhông ngừng lớn mạnh và vươn lên trở thành một hãng hàng không có uy tín trong khuvực châu Á nhờ thế mạnh về đội bay hiện đại, mạng bay rộng khắp và lịch nối chuyếnthuận lợi, đặc biệt là tại Đông Dương

Khởi đầu với những chuyến bay nội địa không thường lệ, ngày nay mạng đường baycủa Vietnam Airlines đã mở rộng đến 19 tỉnh, thành phố trên cả nước và 23 điểm đếnquốc tế tại Mỹ, Châu Âu, Úc và Châu Á

Năm 2006, sau khi được đạt được chứng chỉ uy tín về an toàn khai thác của Hiệp hộiVận tải Hàng không Quốc tế (IATA), Vietnam Airlines đã chính thức trở thành thànhviên của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế và khẳng định chất lượng dịch vụ mangtiêu chuẩn quốc tế của mình

Năm 2010, VNA gia nhập liên minh SkyTeam

Trang 23

Hướng tới tương lai đến mục tiêu xếp hạng "hàng đầu" trong khu vực, dưới sự lãnhđạo đúng đắn của các cấp ủy Đảng và Ban lãnh đạo, Vietnam Airlines đã tích cực pháthuy tư duy đổi mới, thể hiện sự năng động sáng tạo, vượt lên chính mình để hướng tớimục tiêu trở thành hãng hàng không uy tín, có bản sắc và vị thế trong khu vực, hội nhậpthành công vào thị trường quốc tế.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển và đặc biệt là nâng cao chất lượng dịch vụ, VietnamAirlines sẽ tiếp tục ưu tiên đầu tư mở rộng đội bay lên 101 chiếc vào năm 2015 và 150chiếc vào năm 2020 với nhiều chủng loại máy bay tiên tiến hàng đầu thế giới như AirbusA350XWB, Boeing 787-9…

Để làm chủ được công nghệ hiện đại và nắm bắt cơ hội bứt phá vươn lên, VietnamAirlines luôn chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực đặc thù vàcoi đây là yếu tố cốt lõi Đội ngũ phi công, kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật, cán bộ thương mại

và quản lý của Vietnam Airlines ngày càng có bản lĩnh và chuyên môn giỏi, tiếp cận vớitrình độ khu vực

Với việc gia nhập Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) năm 2006 và là hãnghàng không đầu tiên của Đông Nam Á được kết nạp thành viên của Liên minh hàngkhông toàn cầu SkyTeam năm 2010, Vietnam Airlines đã đánh dấu quá trình hội nhậpquốc tế thành công, xây dựng nên một thương hiệu lớn, giàu sức cạnh tranh của đất nước,

là cầu nối đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới

Những bước phát triển của Vietnam Airlines trong thời gian qua đã khẳng định vớikhách hàng, công chúng và bạn bè quốc tế về sức mạnh của trí tuệ và năng lực con ngườiViệt Nam đã xây dựng, quản lý và điều hành thành công một hãng hàng không quốc tếvới quy mô lớn Hai mươi năm lịch sử đã khép lại với nhiều thành tựu đáng ghi nhận vàtiếp tục mở ra thời kỳ phát triển mới với hãng hàng không quốc gia Việt Nam VietnamAirlines đang nỗ lực không ngừng để phấn đấu trở thành hãng hàng không tiên tiến, mangđậm bản sắc văn hóa Việt Nam, đạt chất lượng dịch vụ 4 sao và có quy mô hàng đầutrong khu vực ASEAN vào năm 2015

Ngày đăng: 23/02/2014, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2.3 Xác định phép thử nghiệm áp dụng - nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềm tàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của vietnamairlines cho năm tài chính kết thúc ngày 31-12-2011
Bảng 1.2.3 Xác định phép thử nghiệm áp dụng (Trang 11)
Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu, biến doanh nghiệp sở hữu một chỗ thành doanh nghiệp sở hữu nhiều chỗ, tức là quá trình chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang hình thức sở hữu chung thơng qua việc chuyển một phần tài sản cho người k - nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềm tàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của vietnamairlines cho năm tài chính kết thúc ngày 31-12-2011
ph ần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu, biến doanh nghiệp sở hữu một chỗ thành doanh nghiệp sở hữu nhiều chỗ, tức là quá trình chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang hình thức sở hữu chung thơng qua việc chuyển một phần tài sản cho người k (Trang 12)
Theo VSA 400, ta có bảng sau: - nhận dạng và phân tích những rủi ro có tiềm tàng cao có thể tác động đến kiểm toán hoạt động của vietnamairlines cho năm tài chính kết thúc ngày 31-12-2011
heo VSA 400, ta có bảng sau: (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w