1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập nhóm đề tài chế biến thủy sản

50 679 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Biến Thủy Sản
Tác giả Lục Đại Doanh Nhân
Trường học Khoa Kinh Tế
Thể loại Bài tập nhóm
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 604 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng, đầu tư phát triển có hiệu quả, bền vững và tiếp tục hội nhập nhanh với thủy sản khu vực và quốc tế Về thuận lợi: + Việc gia n

Trang 1

đề tài chế biến thủy sản

Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân

Trang 2

Mục lục

Phân bố dân số theo vùng kinh tế -sinh thái giai đoạn 2001-2008 12

Lao động phân theo vùng kinh tế - sinh thái giai đoạn 2001-2008 13

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2008 15

Hiện trạng lao động CBTS XK phân theo vùng kinh tế, 2001-2009 17

Dự báo xu thế phát triển thị trường nội địa 24

Chính sách Thuế 32

Hỗ trợ tín dụng ưu đãi đóng tàu khai thác xa bờ 32

Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá 33

Hỗ trợ chi phí xăng dầu cho ngư dân 34

Hỗ trợ đóng mới, mua mới tàu và thay máy mới 35

Hỗ trợ bảo hiểm thân tàu và thuyền viên 35

.- Xu hướng về phong cách sống 36

 Chế độ thuế nhập khẩu vào EU 37

- trường Ucraina tăng 251,3% về lượng và 206,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008 38

Trang 3

Chế biến thủy sản là khâu cuối cùng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ Nhưng để cho thủy sản có giá trị sử dụng lâu hơn nữa thì phải cần có một hệ thống bảo quản tốt đó là hệ thống đông lạnh Và đó cũng là cơ sở để hình thành ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh

Những sản phẩm thủy sản được chế biến và bỏa quản không những phục

vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, đem về ngoại tệ cho đất nước Ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh ở Việt Nam qua 36 năm hình thành và phát triển nên những bước thăng trầm của ngành này luôn gắn liền với nhịp sống chung của nền kinh tế đất nước, nhất là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Nên nhóm chọn ngành “chế biến và bảo quản thủy đông lạnh làm chủ đề nghiên cứu”

Có 6 nội dung chính trong bài và những đóng góp của những thành viên trong nhóm như sau:

1 Sự hình thành và phát triển của ngành

(Lê Thị Thanh Hồng Ny)

2 Môi trường vĩ mô tác động đến ngành

(Đoàn Văn Thiện)

3 Các lượng cạnh tranh trong ngành và tình hình cạnh tranh

(Đỗ Thành Lâm)

4 Các lực lượng dẫn dắt ngành

(Lê Thanh Quốc)

5 Các nhân tố then chốt quyết định sự thành công của ngành

Trang 4

1 Sự hình thành và phát triển của ngành.

Quá trình phát triển của ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh có thểđược hình dung qua các giai đoạn sau:

1.1 Giai đoạn 1975 - 1980

Nằm trong tình trạng trì trệ chung của

kinh tế đất nước, ngành chế biến và bảo

quản thủy sản đông lạnh cũng lâm vào tình

trạng sa sút kéo dài Trang bị bảo quản

nguyên vật liệu rất thô sơ, lạc hậu Cá đánh

bắt được chỉ bảo quản bằng ướp muối

trong hầm tàu Các cơ sở chế biến có được

chủ yếu bằng nguồn viện trợ không hoàn

lại của quốc tế Năm 1980 cả nước mới chỉ

có 40 cơ sở chế biến đông lạnh với tổng

công suất cấp đông là 172 tấn/ngày Trong

khi đó nhiều nhà máy xây dựng xong

nhưng không phát huy được công suất,

nguyên liệu khai thác chỉ được huy động

cho chế biến từ 20 - 30% Công nghệ chế

biến lạc hậu nên có sự thất thoát lớn trong

quá trình chế biến và bảo quản Theo số

liệu của Viện Nghiên cứu Hải sản năm

1992, nguyên liệu qua chế biến so với tổng

nguyên liệu năm 1976 chỉ đạt 22%, trong

số đó tổng lượng hao phí là 21%; nguyên liệu không qua chế biến là 72%, hao phí là20% Đây là giai đoạn phát sinh nên không có nhiều rào cản cho đối thủ cạnh tranh

1.2 Giai đoạn 1981 - 1994

Cuối năm 1979, Nhà nước cho phép Bộ Thủy sản quản lý thống nhất và khép kíntoàn bộ quá trình từ đánh bắt đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, thay chotrước đây ngành chỉ đảm nhận khâu khai thác và chế biến, còn việc thu mua và tiêuthụ do ngành nội thương và ngoại thương đảm nhận Chủ trương này không nhữngkhắc phục được tình trạng manh mún, rời rạc, mà còn giải phóng mạnh mẽ sức sảnxuất, hoạt động sản xuất gắn bó chặt chẽ với tiêu dùng Trong 15 năm liên tục, ngànhthủy sản luôn hoàn thành vượt mức toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao vớitốc độ tăng trưởng bình quân 5 - 7%/năm về sản lượng khai thác; 12 - 13% về giá trịkim ngạch xuất khẩu Năm 1990 giá trị sản lượng đạt 1.020.000 tấn và thu về 205triệu USD hàng hóa xuất khẩu Năm 1994 đạt sản lượng 1.211.000 tấn và 458 triệuUSD kim ngạch xuất khẩu

Nổi bật nhất trong giai đoạn này là lĩnh vực chế biến phát triển rộng khắp với tốc

độ tăng bình quân 9 nhà máy mỗi năm Đến cuối năm 1994, số nhà máy chế biến thủysản đông lạnh lên đến 178 nhà máy, với tổng công suất cấp đông 780 tấn/ngày, thêmvào đó còn có hệ thống các nhà máy sản xuất nước đá với tổng công suất 2.000tấn/ngày đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt về chất trong quá trình giữ gìn độ tươicủa nguyên liệu, giảm tiêu hao, thất thoát sau thu hoạch, góp phần nâng cao giá trịkinh tế của sản phẩm Kết quả là tỷ lệ sản phẩm chế biến đông lạnh so với tổng

Trang 5

nguyên liệu tăng nhanh và đạt 51%/năm vào năm 1994, một tỷ lệ khá cao nếu so với11,4%/năm của thời điểm năm 1980.

Về chế biến thủy sản nội địa, điều đáng lưu ý thời kì là tỷ lệ sản phẩm được bảoquản đông lạnh phục vụ tiêu dùng nội địa ngày càng tăng nhanh cả về số lượng vàchất lượng Đây được xem là giai đoạn phát sinh của ngành vì thế kiểm soát bí quyếtcông nghệ là một rào cản nhập cuộc quan trọng trong thời kì này

1.3 Giai đoạn 1994 đến năm 2000

Nghị quyết 03/NQ/TW ngày 6 - 5 - 1993 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số05-NQ/HNTW ngày 10 - 6 - 1993, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung Ương Đảng khóa VII đều khẳng định xây dựng thủy sản trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn Bởi vậy, ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh cũng nhận được

sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành và các địa phương Nhiều chương trình,

dự án táo bạo như đánh bắt xa bờ đã được hình thành cũng như việc xây dựng một số

hệ thống đông lạnh để bảo quản thủy sản được chế biến Xuất khẩu tăng mạnh, từ 550triệu USD (năm 1995) lên 1,478 tỷ USD (năm 2000) Tuy nhiên, với giai đoạn 1996-

2000, theo đánh giá của các chuyên gia, mức tăng trưởng thực sự theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ mới là bước đầu Chính vì vậy đây là giai đoạn tăngtrưởng

Trong khoa thời kỳ đổi mới, ngành chế biến thủy sản đã có nhiều biến đổi đáng kể về qui mô và trình độ học công nghệ và mở rộng thị trường.

1.4 Giai đoạn từ năm 2001 đến nay

Chương trình chế biến và bảo quản xuất khẩu thủy sản đến năm 2005 đã được ThủTướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ năm 1998 là một chương trìnhtạo bước ngoặt trong thế kỷ XXI cho ngành chế biến thủy sản nước ta Có thể nói,chế biến xuất khẩu thủy sản là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trongkhai thác và nuôi trồng thủy sản

Đến nay, theo Cục Quản lý chất lượng nông- lâm sản và thủy sản (Nafiqad), cảnước có 300 cơ sở chế biến thủy sản và khoảng 220 nhà máy chuyên sản xuất các sảnphẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất 200 tấn/ngày Cũng theo thống

kê của Nafiqad, tính đến thời điểm này, cả nước có 300 doanh nghiệp được phép xuấtkhẩu thủy sản sang EU, hơn 440 doanh nghiệp sang Hàn Quốc, hơn 440 doanhnghiệp sang Trung Quốc, 30 doanh nghiệp sang Liên bang Nga, 60 doanh nghiệpsang Brazil và gần 450 doanh nghiệp sang Nhật Bản Tính đến cuối năm 2009, giá trịkim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 4,2 tỷ USD

Chiến lược biển đến năm 2020 đã đặt ra mục tiêu Việt Nam trở thành quốc giamạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triểntoàn diện các ngành nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triểnnhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Ngành chế biến thủy sản cũng

sẽ phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của mình, tạo động lực thúc đẩy các ngành kháccùng phát triển Đây chính là giai đoạn tăng trưởng của ngành nhu cầu sản phẩmngày càng được tăng lên Điều đặc biệt là sang thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóanày, các nhà máy đông lạnh liên tục mở rộng qui mô và thay đổi công nghệ tiên

tiến, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, bên cạnh đó một số nhà máy đông lạnh khác

cũng có những cải tiến công nghệ để phù hợp với yêu cầu thị trường .Ngày càng có

nhiều cơ sở chế biến thủy sản được đưa vào hoạt dộng,cho tới năm 2003 có khoảng

300 doanh nghiệp với khả năng sản xuất khoảng 200 tấn/năm.Và hiện nay ngành thủy

Trang 6

lại giá trị kinh tế rất to lớn về xuất khẩu(năm 2004,xuất khẩu thủy sản đạt 2.4 tỷUSD,chiếm 9,2% tổng giá trị xuất khẩu,năm 2009 dự đoán xuất khẩu thủy sản đạt 4-5

tỷ USD) Điều đó cho thấy đây chính là giai đoạn tăng trưởng vượt bậc của ngànhnên nhu cầu sản phẩm ngày càng được tăng lên

2 Môi trường vĩ mô tác động đến ngành.

2.1 Môi trường toàn cầu.

Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành thuỷ sản có nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng, đầu tư phát triển có hiệu quả, bền vững và tiếp tục hội nhập nhanh với thủy sản khu vực và quốc tế

Về thuận lợi:

+ Việc gia nhập WTO đã mang lại cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trongviệc thâm nhập thị trường thế giới, do các nước biết đến Việt Nam nhiều hơn, doanhnhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, trong đó

có sản phẩm thủy sản đông lạnh

+ Sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và nhữnglợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng sẽ tạo điều kiện để hàng thủy sản đông lạnhViệt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

+ Để đáp ứng được các quy định của WTO cũng như yêu cầu của các nước thànhviên, Bộ Thủy sản đã không ngừng điều chỉnh cơ chế chính sách và ban hành các vănbản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn cho phù hợp

+ Gia nhập WTO là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tưvào phát triển thủy sản tại Việt Nam noi chung và ngành thủy sản đông lạnh nói riêng.Ngành Thuỷ sản Việt Nam đã đứng vị trí thứ 7 trong topten có kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản lớn nhất, với 2,65 tỷ USD đạt được trong năm 2005, và đã có mặt ở 105 thịtrường nước ngoài…

Tuy nhiên, sự bùng nổ mạnh mẽ này là một phần khiến cho xuất khẩu thủy sản ViệtNam phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe về an toàn vệ sinhcũng như các vụ kiện chống bán phá giá (điển hình như vụ kiện cá tra, basa và vụ kiệntôm)

+ Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu,

cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vựcchế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm

+ Công tác quản lý nguồn lợi, quản lý tàu thuyền trên biển, công tác thống kê nghề

cá còn lạc hậu và chưa đáp ứng được các yêu cầu về hội nhập

Trang 7

+ Công tác đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tuy đã được quan tâmnhưng do hạn chế về kinh phí và kinh nghiệm nên chưa đáp ứng được yêu cầu cả về sốlượng và chất lượng trong điều kiện của WTO.

+ Năng lực, kinh nghiệm quản lý và trang thiết bị phục vụ cho kiểm tra, kiểm soátchất lượng, kiểm dịch hàng thủy sản nhập khẩu còn hạn chế - là thách thức lớn đối vớiviệc bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng như sức khoẻ và môi trường sống của cácloài thủy sản, đồng thời đó cũng là thách thức đối với những cạnh tranh không lànhmạnh sẽ diễn ra đối với thủy sản Việt Nam nói chung và thủy sản đông lạnh nói riêng.+ Do Việt Nam là nước đang phát triển nên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đanggặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, bên cạnh đó kỹ năng vàtrình độ quản trị của nhiều doanh nghiệp thủy sản chưa đáp ứng được các chuẩn mựcquốc tế và còn rất thấp so với các đối thủ

+ Hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh thủy sản (hệ thống thủy lợi, cácchợ thủy sản đầu mối, các trung tâm thương mại thủy sản) chưa có hoặc còn yếu, cộngvới khả năng cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là thách thức lớntrong việc giữ được thị trường trong nước

+ Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn,

vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhậpkhẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không quảng bá đượcsản phẩm, vừa có thể gây ra những rắc rối như vụ “cá basa” thành “cá mú” ở thịtrường Mỹ vừa qua

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam đang là mối lo ngại nhất làkhi sắp bước qua ngưỡng cửa WTO Nếu không nâng cao được sức cạnh tranh, thìngành thủy sản Việt Nam không những sẽ đuối sức trong cuộc đua xuất khẩu vớinhững đối thủ mạnh của châu á và châu Mỹ, mà còn bị “hạ nốc ao” ngay chính trên

“sân nhà

Vì vậy, chủ động các điều kiện và biện pháp để tăng khả năng cạnh tranh của sảnphẩm đã và đang được các cơ quan chức năng của Bộ Thủy sản dành nhiều công sứcchuẩn bị nhất Theo Vụ hợp tác quốc tế Bộ thuỷ sản, có bảy biện pháp cần được tậptrung đẩy mạnh:

Một là, tăng cường công tác nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong sản xuấtnguyên liệu thủy sản, đặc biệt là công nghệ sinh học, nhằm đa dạng hóa đối tượng xuấtkhẩu với giá thành hạ

Hai là, tổ chức lại sản xuất trong toàn ngành theo hướng liên kết ngang và dọc giữacác khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ thủy sản, nhằm tạo ra sản phẩm có chấtlượng cao, đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm và phù hợp với nhu cầu thịtrường trong và ngoài nước

Ba là, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá, tăng cường nănglực chế biến cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu,tăng năng lực chế biến mặt hàng giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao vềchất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm

Bốn là, tiếp tục công tác quy hoạch phát triển thủy sản, thực hiện chuyển dịch cơcấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản làm nguồn cung cấpchính nguyên liệu sạch cho chế biến, đặc biệt là chế biến thủy sản đông lạnh xuất

Trang 8

Năm là, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, chú trọng vào xây dựng thươnghiệu và phát triển thị trường cho các sản phẩm chủ lực.

Sáu là, tăng cường công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi để có biện pháp bảo vệ, táitạo nguồn lợi, thực hiện quản lý an toàn vệ sinh, môi trường, đảm bảo phát triển nghề

cá bền vững

Bảy là, tăng cường công tác quản lý, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuấtnguyên liệu với chế biến, tiêu thụ nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh

2.2 Yếu tố công nghệ.

Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về công nghệ CBTS tại các việnnghiên cứu chưa nhiều, chưa theo kịp yêu cầu của sản xuất, kinh doanh Trong khi tạicác doanh nghiệp việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, ứng dụng công nghệ chế biến thuỷsản ở trình độ cao đã có bước phát triển vượt bậc Đặc biệt là ở các doanh nghiệp chếbiến sản phẩm thuỷ sản đông lạnh và đồ hộp Vai trò của các doanh nghiệp CBTS xuấtkhẩu trong giai đoạn này rất lớn trong việc nhập và tiếp thu, ứng dụng công nghệ mới.Trong CBXK, sản phẩm giá trị gia tăng (làm sẵn, ăn liền) đã chiếm tỷ lệ đáng kể, vớihàng trăm mặt hàng, mẫu mã sản phẩm hấp dẫn Nhiều sản phẩm bao gói nhỏ, tiêu thụtại các siêu thị đang được các thị trường ưa chuộng Xu thế sản phẩm thuỷ sản xuấtkhẩu đang chuyển biến tích cực từ xuất khẩu nguyên liệu, sản phẩm thô, sơ chế làchính nay chuyển sang sản phẩm có hàm lượng công nghệ chế biến cao hơn mang lạigiá trị kinh tế nhiều hơn Đang thiếu hẳn các công trình nghiên cứu cải thiện chấtlượng sản phẩm thủy sản truyền thống để phát triển thị trường cho sản phẩm này, tiếntới xuất khẩu các sản phẩm có tiếng từ lâu trên thị trường trong nước và thế giới

Các công trình nghiên cứu khoa học về công nghệ CBTS tuy có số lượng khôngnhiều, nhưng đã tập trung giải quyết một số đòi hỏi cấp bách của sản xuất, nhất là côngnghệ bảo quản thuỷ sản sau thu hoạch Một số công trình đã nghiên cưú, ứng dụngcông nghệ về xử lý, sơ chế, bảo quản một số đối tượng thuỷ sản như công nghệ bảoquản mực và một số đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao trên tàu cá, các công nghệlàm lạnh nước biển để bảo quản cá ngừ đại dương

Có 2 vấn đề cần nhìn nhận riêng biệt, đó là:

2.2.1 Chế biến thủy sản.

Hiện nay cả nước có khoang 396 DN chế biến thủy sản quy mô công nghiệp,trong đó, có 284 doanh nghiệp với 356 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh vớicông suất thiết bị cấp đông đạt 7.870 tấn/ ngày đêm, số doanh nghiệp tăng bìnhquân 4,3%/năm trong khi công suất thiết bị cấp đông tăng bình quân 12%/năm.Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng trên, ngành công nghiệp chế biến còn nhữngtồn tại như: còn thiếu quy hoạch; công nghệ, trang thiết bị máy móc chế biếnnông lâm thủy sản phần lớn là cũ và lạc hậu, các dây chuyền công nghệ sảnxuất mới còn ít; chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biếnvới sản xuất nguyên liệu và thị trường; công tác xử lý chất thải, bảo vệ môitrường còn nhiều bất cập

2.2.2 Bảo quản thủy sản đông lạnh.

Thực trạng và những tác động từ yếu tố công nghệ.

Hiện nay, cả nước có 878 kho lạnh sản xuất của các doanh nghiệp chế biến thủy sảnđông lạnh Hệ thống kho lạnh của cả nước mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tạm trữ sảnphẩm sau chế biến và đưa vào lưu thông trong điều kiện bình thường Hệ thống kholạnh của nước ta cũng còn nhiều hạn chế như sự phân bố không đồng đều và trình độ

Trang 9

công nghệ chưa cao Có một số doanh nghiệp do điều kiện kho lạnh không đáp ứngđược yêu cầu sản xuất nên phải thuê kho lạnh, nhất là vào thời điểm mùa vụ, từ đóhình thành nên các kho lạnh thương mại Tuy nhiên, các kho lạnh thương mại pháttriển cũng chưa nhiều, thiếu kho đông lạnh sâu để dự trữ nguyên liệu nhập khẩu phục

vụ cho chế biến xuất khẩu nhằm chủ động điều tiết giá thị trường Bên cạnh đó, khivào mùa vụ, nhu cầu gửi hàng cao đã tạo nên cơn sốt giá gửi kho lạnh Đồng thời, cáckho lạnh thương mại còn được bố trí chưa hợp lý Tại các khu vực trọng điểm như AnGiang, Đồng Tháp, Cà Mau, Kiên Giang và Bến Tre chưa có hoặc chưa đủ số lượngkho Các khu vực như cảng Sài Gòn, Hải Phòng hay các cửa khẩu biên giới phía Bắcchưa có kho lạnh ngoại quan phục vụ xuất nhập khẩu thủy sản Cũng vì thiếu kho lạnh trữ hàng nên hiện nay, đa phần các doanh nghiệp Việt Namchưa thể bán hàng trực tiếp mà hầu hết thông qua hệ thống trung gian Do đó, các hệthống đại lý ở EU bán khá nhiều mặt hàng sản xuất của Việt Nam, nhưng người tiêudùng chỉ biết đến thông qua nhãn hiệu các nước khác Đây cũng là lý do mà cácchương trình xúc tiến thương mại Việt Nam trong thời gian qua chưa thực sự hiệuquả

Theo ước tính của các nhà chuyên môn, để có một kho lạnh đạt chuẩn (-18 độ C), sảnlượng khoảng 10.000 tấn, cần đầu tư khoảng 1,5-2 triệu USD Tuy nhiên, kho lạnhthủy sản trữ lượng lớn vẫn còn khá hiếm Để đáp ứng nhu cầu phát triển, ngành Thủysản đề xuất Nhà nước có chính sách ưu đãi đầu tư, miễn giảm tiền thuê đất từ 3-5 nămcho doanh nghiệp trong đầu tư xây dựng kho lạnh Bên cạnh đó, tạo điều kiện và có cơchế chính sách để các doanh nghiệp chế biến thủy sản, những tập đoàn kinh tế mạnhđứng ra đầu tư khai thác kho lạnh./

Chi tiết về công nghệ làm lạnh thủy sản

THỊ TRƯỜNG MÁY LẠNH CÔNG NGHIỆP

Theo thống kê thị trường lạnh công nghiệp Việt Nam vào khoảng 30-35 triệu USD/năm Trải dài từ Bắc vào Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở thị trường Miền Tây NamBộ

Thị trường Miền Tây chiếm khoảng 20 triệu USD, phần còn lại 10 đến 15 triệuUSD ở Miền Đông Nam Bộ, Miền Trung và Miền Bắc

Hiện nay khi Việt Nam phát triển mạnh mẽ công nghiệp lọc hóa dầu và các nhà máy

vệ tinh đi kèm, ước tính lạnh công nghiệp cung cấp thêm cho thị trường khoảng 5-7triệu USD/năm

Các nhà cung cấp uy tín trong lĩnh vực lạnh công nghiệp ở Việt Nam:

Tập đoàn Johnson Controls-USA, Mycom-Japan, Grasso-Germany

Và các nhà cung cấp thiết bị phụ trong hệ thống lạnh: Valves Danfoss-Denmark,Aircooler-Guntner…

Việc xây dựng hệ thống lạnh công nghiệp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao vì vậykhông chỉ là nhà cung cấp thiết bị lạnh đơn thuần mà còn phải đem đến cho kháchhàng giải pháp tối ưu nhất: Tự động hóa tiên tiến, Tiết kiệm năng lượng và thân thiệnvới môi trường

ĐẦU TƯ VÀO NHÀ MÁY CHẾ BIẾN THỦY SẢN

Khi đầu tư vào nhà máy chế biên thủy sản cần có một quyết định đúng, ngoài giáthành của thiết bị cần xem xét các vấn đề dưới đây khi đầu tư vào hệ thống lạnh:

- Công suất, chất lượng và độ tin cậy của thiết bị ?

- Điện năng tiêu thụ trong quá trình vận hành ?

- Điều kiện và chi phí bảo trì ?

- Tính hiệu quả và độ an toàn trong thiết kế kỹ thuật của thiết bị ?

Trang 10

- Các công trình do nhà cung cấp đã lắp đặt trước đây ?

- Thị trường nội địa, khu vực, toàn cầu & Dịch vụ hậu mãi?

- Chất lượng của thực phẩm chế biến và khả năng cạnh tranh của chúng trên thịtrường ?

- Phí tổn và rủi ro phát sinh (so với chi phí của toàn bộ dự án) ?

- Thời gian hoàn vốn (khoảng bao nhiêu năm) ?

Thị trường ĐHKK và lạnh công nghiệp ở Việt Nam mới bắt đầu phát triển và cònnhỏ bé so với thế giới Chúng ta mới lắp ráp được loại máy ĐHKK cục bộ công suấtnhỏ và khả năng chế tạo loại máy lạnh công suất lớn gặp nhiều khó khăn do thị trườngtrong nước nhỏ bé và khó cạnh tranh về công nghệ với các nước tiên tiến Trước mắtcác cơ quan quản lý Nhà nước nên tập trung một số nội dung sau:

+ Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quảtrong lĩnh vực lạnh và ĐHKK

+ Xây dựng phòng kiểm định đủ điều kiện để đánh giá và dán nhãn sản phẩmĐHKK đạt tiêu chuẩn chất lượng

+ Xây dựng chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ cho các đơn vị và cá nhân đủkhả năng tư vấn thiết kế trong ngành lạnh và ĐHKK để từng bước khắc phục tìnhtrạng lạc hậu và thiếu chuyên nghiệp như hiện nay

2.3 Môi trường văn hóa và xã hội.

Các thói quen và phong tục tập quán tại việt nam ảnh hưởng rất nhiều đến việc cungcấp nguồn nhân lực cho các nhà máy chế biến và tiêu thụ các sản phẩm đông lạnhtrong thi trường nội địa

-yêu tố văn hoá xã hội tác động đến :

2.3.1 Nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản.

Chuyện tuyển công nhân (CN) ở các nhà máy chế biến thủy sản là hầu như thườngxuyên, vì nhiều CN làm một thời gian rồi nghỉ Tình hình biến động CN thủy sản diễn

ra ngày càng mạnh khi số lượng các nhà máy ngày càng nhiều và nâng công suất hoạtđộng Do đó, các chủ doanh nghiệp này không chỉ lo việc sản xuất, kinh doanh mà cònmệt với sự đến rồi đi của CN

Một lãnh đạo Công ty chế biến cá tra xuất khẩu cho biết, lượng CN luôn biến động,nên phải dùng nhiều “chính sách” thu hút CN Vị này nói với tôi: “Nếu anh giới thiệuđược người vào làm CN cho Công ty chúng tôi, anh sẽ được hưởng 1,5 triệu đồng/CN.Giới thiệu bao nhiêu người Công ty cũng nhận” Một lãnh đạo công ty khác than: “Tôirất “đau đầu” với việc làm sao để giữ CN Nhiều khi phải trực tiếp năn nỉ CN ở lại làmcho Công ty Tết, đúng ra phải thoải mái đi thăm ông bà, người thân, nhưng phải lolắng không biết sau Tết CN còn được bao nhiêu, có đảm bảo cho nhà máy hoạt độngkhông?”

CN biến động mạnh nhất vào mùa thu hoạch lúa, nhiều CN bỏ nhà máy về nhà làmnông dân, thu hoạch lúa mướn có thu nhập cao hơn Các chế độ chính sách của cácCông ty thường không giống nhau, nên xảy ra tình trạng CN từ Công ty này sangCông ty khác để có thu nhập cao hơn (có nhiều trường hợp CN xin đi Công ty kháclàm một thời gian thấy thu nhập không bằng Công ty cũ hay Công ty cũ nâng đơngiá, thì xin quay về Công ty cũ) Nhiều CN không quen được với tác phong côngnghiệp, không thích làm việc theo nội qui hay không chịu được với môi trường, cường

độ làm việc tại nhà máy nên trở về làm việc ruộng, vườn

Trang 11

Việt Nam là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào và điều này lại nghịch lí với hoàncảnh hiện nay của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vì công nhân viên chưa có tinhthần làm việc chuyên nghiệp hoặc doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu của ngườilao động.

2.3.2 Thị trường tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệp kinh doanh thuỷ sản đông lạnh:

Thị trường thủy sản nội địa tăng trưởng khả quan, song các doanh nghiệp chế biến thủy sản lớn chưa thật sự mặn mà với thị trường này.

Theo dự báo của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, nhu cầu tiêu thụ thủy sản nộiđịa 10 năm tới sẽ tăng 30 - 40% so với hiện nay, đạt khoảng 22 kg/người Tuy nhiên,các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản vẫn chưa mặn mà với việc quay lại thị trường nộiđịa, đặc biệt là thủy sản đông lạnh, dù thị trường xuất khẩu thủy sản ngày càng khó

, TS Trần Thị Dung, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Quy hoạch phát triển thủy sản(Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản) cũng dự báo, giai đoạn 2011 - 2020, giá trị thủysản chế biến tiêu thụ nội địa sẽ tăng bình quân 5,37%/năm Mức tiêu thụ trong nướcnăm 2015 được dự báo là 790.000 tấn, năm 2020 là 940.000 tấn Trong đó, sản phẩm

Dù mức tăng trưởng của thị trường thủy sản nội địa rất khả quan, song các doanhnghiệp chế biến thủy sản lớn chưa mặn mà với thị trường này Điều tra của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, khối doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ thủy sảnnội địa hầu như là các doanh nghiệp nhỏ và các hộ gia đình Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, dù đánh giá cao tiềm năng thịtrường nội địa, song thực tế lại chưa chú trọng việc mở rộng hoạt động tại thị trườngnày Đại diện Công ty cổ phần Thực phẩm Cholimex cho biết, dù doanh thu từ thịtrường nội địa của công ty này tăng khoảng 20%/năm trong những năm qua, nhưngsản phẩm tiêu thụ nội địa của Cholimex chỉ chiếm 10%.Tương tự Cholimex, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng ít đầu tư mở rộng thịtrường nội địa, với lý do giá bán thường thấp hơn giá xuất khẩu, trong khi chi phí vậnchuyển, bảo quản, quảng bá cao Mặt khác, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuấtkhẩu cũng cho biết, thế mạnh của họ là hàng đông lạnh, mà người tiêu dùng Việt Namvẫn có thói quen mua các sản phẩm thủy sản tươi sống tại các chợ lẻ Với loại sảnphẩm tươi sống, các đầu nậu, tư thương có lợi thế hơn các doanh nghiệp xuất khẩu do

Dân số, cơ cấu dân số và tác động của dân số đến nền kinh tế.

2.4.1 Dân số và cơ cấu dân số

Trang 12

Theo niên giám thống kê, năm 2008 toàn quốc có 86,2 triệu người, tăng 9,56% sovới năm 2001, tập trung sinh sống không đồng đều ở 63 tỉnh thành phố và trên 6 vùngkinh tế sinh thái ở Việt Nam Bình quân giai đoạn 2001-2008 dân số toàn quốc tăngtrưởng bình quân 1,15%/năm, trong đó dân số nam và nữ đều có tốc độ tăng bình quân1,15%/năm, dân số thành thị tăng 2,77%, dân số nông thôn tăng 0,57%/năm, trong đó:

- Cơ cấu dân số phân theo giới, suốt giai đoạn 2001-2008 dân số nam luôn duy trì

ổn định ở mức chiếm từ 49,1 - 49,2%, nữ duy trì trong khoảng từ chiếm 50,9 - 50,8%,như vậy có thể kết luận rằng hiện tại dân số ở Việt Nam chưa có sự mất cân bằng vềgiới

- Cơ cấu dân số phân theo thành thị, nông thôn cho thấy, suốt giai đoạn 2001-2008dân số khu vực thành thị tăng đều qua các năm từ chiếm 24,7% dân số toàn quốc năm

2001 tăng lên chiếm 28,1% năm 2008, do di dân từ nông thôn ra thành thị sinh sốngngày một tăng lên, đây là biểu hiện tốt của nền kinh tế đang phát triển Còn lại dân sốkhu vực nông thôn thì có xu hướng giảm xuống từ chiếm 75,3% năm 2001 xuống còn71,9% năm 2008

- Cơ cấu dân số phân theo vùng kinh tế cho thấy, vùng ĐBSH chiếm 22,8% dân sốtoàn quốc, vùng TDMNBB chiếm 13%, vùng BTB&DHMT chiếm 23%, vùng TâyNguyên chiếm 5,8%, vùng ĐNB chiếm 14,9%, và vùng ĐBSCL chiếm 20,5% dân sốtoàn quốc Bình quân giai đoạn 2001-2008 dân số vùng ĐBSH tăng 0,92%/năm, vùngTDMNBB tăng 1,04%/năm, vùng BTB&DHMT tăng 0,87%/năm, vùng Tây Nguyêntăng 1,83%/năm, vùng ĐNB tăng 2,23%/năm, và vùng ĐBSCL tăng 0,86%/năm

- Mật độ dân số bình quân toàn quốc năm 2008 là 260 người/km2 Trong đó vùngĐBSH là 933 người/km2; vùng TDMNBB có 118 người/km2, vùng BTB&DHMT cómật độ 207 người/km2, vùng Tây Nguyên có mật độ 92 người/km2, vùng ĐNB cómật độ 543 người/km2, và vùng ĐBSCL có 436 người/km2 Như vậy, vùng TDMNBB

và vùng Tây Nguyên có mật độ dân số thấp nhất, còn lại các vùng khác có mật độ dân

số tương đối cao

2.4.2 Đánh giá tác động của dân số đến nền kinh tế.

Như trên đã nêu, dân số Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL vàcác vùng ven biển khác như BTB&DHMT và Đông Nam Bộ Trừ vùng ĐBSH, đâycũng chính là các vùng có nghề cá và CBTS phát triển Bên cạnh những tác động khác,mật độ dân số cao sẽ góp phần tích cực vào việc cung cấp lao động cho nghề cá và chocông nghiệp CBTS của vùng

Phân bố dân số theo vùng kinh tế -sinh thái giai đoạn 2001-2008

Đơn vị tính: 1.000 người

T

TĐTB Q

84.1 37

85.1 72

Trang 13

TĐTB Q

11.779

12.097

12.456

Nguồn: Niên giám thống kê -Tổng cục thống kê, năm 2008

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của dân số đến sự phát triển nền kinh tế chung ở ViệtNam cũng như ngành thuỷ sản toàn quốc cũng cho thấy, để đảm bảo duy trì, ổn định

và phát triển nền kinh tế thì cứ 1% tăng trưởng về dân số thì nền kinh tế phải tăngtrưởng tương đương 4% Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2001-2008 dân số toànquốc tăng trưởng bình quân 1,15%/năm trong khi đó kinh tế toàn quốc tăng trưởngbình quân 7,4%/năm Như vậy có thể kết luận rằng với mức tăng trưởng dân số nhưhiện nay không có tác động xấu đến nền kinh tế của Việt Nam nói chung cũng nhưngành thuỷ sản ở Việt Nam nói riêng

2.4.3 Lao động, cơ cấu lao động và chất lượng lao động 2.4.3.1 Lao động và cơ cấu lao động.

Theo thống kê, năm 2008 toàn quốc có 44,9 triệu lao động chiếm 52,1% dân số toànquốc và tăng 14,9% so với năm 2001 Về tốc độ tăng trưởng lao động giai đoạn 2001-

2008 cho thấy, bình quân toàn quốc tăng 2,2%/năm, trong đó vùng Tây Nguyên vàĐNB có mức tăng trưởng cao nhất 3,7%/năm, đứng thứ 2 là vùng TDMNBB bìnhquân tăng 2,5%/năm, tiếp theo vùng ĐBSH có mức tăng trưởng bình quân 2,3%/năm,cuối vùng là vùng ĐBSCL có mức tăng bình quân 1,9%/năm

Lao động phân theo vùng kinh tế - sinh thái giai đoạn 2001-2008

Đơn vị tính: 1.000 người

Trang 14

Nguồn: Niên giám thống kê-Tổng cục Thống kê, năm 2008

- Cơ cấu lao động phân theo vùng kinh tế: từ hình 1 cho thấy, năm 2008 lao độngkhu vực ĐBSH chiếm 24,8% lao động toàn quốc, vùng TDMNBB chiếm 15%, vùngBTB&DHMT chiếm 15,2%, vùng Tây Nguyên chiếm 7,8%, vùng Đông Nam Bộchiếm 16,8%, và vùng ĐBSCL chiếm 20,5% lao động toàn quốc

- Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế: từ hình 2 cho thấy năm 2008, lao

động nông, lâm nghiệp có khoảng 21,9 triệu người chiếm 48,8% lao động toàn quốc;

lao động thuỷ sản có khoảng 1,68 triệu người tăng 71,4% so với năm 2001 và chiếm

3,7% tổng số lao động toàn quốc, trong đó vùng ĐBSCL chiếm khoảng trên 60% còn

lại là các vùng kinh tế khác chiếm 40% tổng số lao động thuỷ sản toàn quốc, lao động

ngành công nghiệp-xây dựng có khoảng 9,3 triệu người chiếm 20,8%, và lao động

ngành dịch vụ có khoảng 11,9 triệu lao động chiếm 26,6% lao động toàn quốc Trung

bình giai đoạn 2001-2008 bình quân lao động ngành nông, lâm nghiệp giảm

0,8%/năm, lao động thuỷ sản tăng 7%/năm, lao động công nghiệp-xây dựng tăng

8,2%/năm, và cuối cùng lao động dịch vụ tăng 4,8%/năm

Trang 15

2.4.3.2 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm

- Tỷ lệ thất nghiệp: Năm 2008 theo thống kê toàn quốc có tỷ lệ thất nghiệp trong độtuổi lao động khoảng 2,38%, trong đó thành thị khoảng 4,65%, nông thôn khoảng1,53% Trong đó khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ thất nghiệp chung cao nhất 3,74%,thấp nhất là vùng TDMNBB và vùng Tây Nguyên khoảng 1,13-1,42%, các vùng cònlại tỷ lệ này trên 2% Khu vực thành thị vùng ĐBSH có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất5,35%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên khoảng 2,51%, còn lại các vùng kinh tế khác tỷ

lệ này là trên 4% Khu vực nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thuộc về vùngĐBSCL và vùng Đông Nam Bộ trên 2%, thấp nhất là vùng TDMNBB khoảng 0,61%,các vùng còn lại có tỷ lệ này trên 1%

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2008

Trang 16

- Tỷ lệ thiếu việc làm: Năm 2008 theo thống kê toàn quốc có tỷ lệ thiếu việc làmtrong độ tuổi lao động khoảng 5,1%; ở thành thị khoảng 2,34%; nông thôn khoảng6,1% Trong đó khu vực ĐBSH và ĐBSCL có lệ thiếu việc làm chung cao nhất trên6%, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ khoảng 2,13%, các vùng còn lại tỷ lệ này trên5% Khu vực thành thị thì vùng ĐBSCL có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất 3,59%; thấpnhất là vùng Đông Nam Bộ 1,03%; còn lại các vùng kinh tế khác tỷ lệ này là trên 3%;đối với khu vực nông thôn vùng có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất là vùng ĐBSHkhoảng 8,23%; vùng ĐBSCL khoảng 7,11%; thấp nhất là vùng Trung du và miền núiphía Bắc khoảng 2,56%; còn lại các vùng khác tỷ lệ này là trên 5%.

2.4.3.3 Chất lượng lao động.

Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam được đánh giá là rấtdồi dào nhưng lại yếu về chất lượng Lao động ở Việt Nam được đánh giá là khéo léo,thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện đại đượcchuyển giao từ bên ngoài vào, nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp Tính từ năm 2001đến 2008 có khoảng trên 10 triệu người được đào tạo trong tổng số ngần 45 triệungười trong độ tuổi lao động - tức khoảng 25% “lao động qua đào tạo”

Riêng đối với khu vực nông thôn, có thể nói trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuậtcủa lao động hiện nay thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước Trên 85% số laođộng ở nông thôn chưa từng qua trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật nào, khoảng18,9% số lao động nông thôn có trình độ văn hóa tiểu học Về thể lực của lao độngnông thôn ở độ tuổi 20 -24, thống kê năm 2008 cho thấy, chỉ có 75% số lao động cóthể lực bình thường, 23,6% gầy, 1,4% thừa cân

Theo đánh giá của các nhà kinh tế năm 2008 yếu tố lao động của Việt Namtham gia vào tăng trưởng nền kinh tế chiếm khoảng 20%, yếu tố vốn chiếm khoảng57,7%, và các yếu tố khác chiếm 22,3%

Dưạ vào những số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy nền kinh tế Việt Nam hiệnnay đang sở hữu nguồn lao động rất dồi dào, đây là một lợi thế rất lớn trong việc pháttriển kinh tế cũng như nguồn cung ứng nguồn lao động cho các nhà máy chế biến thủysản đông lạnh

Thực trạng nguồn lao động trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản nói chung và thủy sản đông lạnh nói riêng.

Chế biến thủy sản (CBTS) là một nghề mà người lao động phải làm việc trongđiều kiện công việc mang tính mùa vụ cao, nhiều thời điểm công nhân phải làm tăng

ca, hầu như không có ngày nghỉ Công việc lại đòi hỏi người công nhân phải đứng suốt

ca, ít di chuyển, môi trường không thoáng khí, ẩm ướt, tanh hôi cả ngày Thu nhập củangười lao động lại thấp, không hấp dẫn ngưới lao động vào làm nghề này, đặc biệttrong điều kiện cả nước mở ra nhiều khu công nghiệp với việc phát triển của các nghềmay mặc, da giày và các nghề khác, nên nghề CBTS không còn hấp dẫn được ngườilao động Bên cạnh đó, người lao động CBTS có thâm niên trong nghề chiếm tỷ lệthấp do bị các bệnh nghề nghiệp (như bệnh khớp, phù nề, viêm đường hô hấp ) phảinghỉ việc hoặc chuyển nghề khác

Tổng lao động làm việc trong ngành CBTS xuất khẩu tăng từ 115,9 ngàn người năm

2001 lên đến 301 ngàn người vào năm 2009 Sự tăng trưởng không đều giữa cácvùng kinh tế do sự tăng trưởng về sản lượng CBTS của các vùng rất khác nhau Vùng

Trang 17

ĐBSCL có TĐTBQ cao nhất là 22,5%/năm và đã tạo được việc làm cho xấp xỉ 202ngàn lao động vào năm 2009, trong khi vùng ĐBSH lại có xu thế giảm và đã giảm đến9,8%/năm về lao động trong giai đoạn này CBTSXK vùng ĐNB đã tạo được việc làmcho trên 65 ngàn lao động, nhưng có TĐTBQ chỉ là 2,5%/năm Trong khi, mặc dù chỉ

có được gần 29 ngàn việc làm cho người lao động, nhưng CBTSXK trong vùngBTB&DHMT đã tạo ra được TĐTBQ cao thứ hai và đạt 11%/năm

Hiện trạng lao động CBTS XK phân theo vùng kinh tế, 2001-2009

12.570

25.620

28.960

11,0

39.750

83.260

201.990

22,5

Nguồn: Số liệu điều tra và theo tính toán của nhóm chuyên gia, 2009

Theo số liệu điều tra năm 2009, số lao động thường xuyên chiếm đến 85% lao độngtrong các DN CBTSXK, nhưng trình độ của người lao động rất thấp, chủ yếu là laođộng phổ thông với trình độ văn hóa chủ yếu là cấp phổ thông cơ sở Họ được tuyểndụng và được đào tạo ngay trong công việc Do thực hành khoán trong sản xuất đếntừng người lao động, nên người lao động chịu khó, nhanh và khéo tay sẽ làm ra nhiềusản phẩm để có thu nhập cao Các công nhân có tay nghề cao sẽ có thu nhập thực tếcao, chứ cách trả lương hiện nay cho công nhân CBTS hầu như không phụ thuộc vàoviệc thi tay nghề như các ngành nghề công nghiệp khác

Ảnh hưởng của cơ cấu tuổi tới sự phát triển kinh tế nói chung và ngành thủy sản đông lạnh nói riêng.

Hành vi kinh tế cá nhân biến đổi qua các giai đoạn khác nhau của cuộc sống, nhữngthay đổi về cơ cấu tuổi có thể tác động lớn tới thành tựu kinh tế quốc dân Các nước có

tỷ lệ cao người phụ thuộc trẻ hoặc già thường phải dành một tỷ lệ nguồn lực tương đốicao cho các nhóm này, nên tăng trưởng kinh tế bị hạn chế Trái lại, các nước có bộphận lớn dân số ở độ tuổi sung sức nhất để lao động và tiết kiệm có thể đẩy nhanh tăngtrưởng thu nhập nhờ phần dân số đang lao động cao hơn, nhờ tích luỹ nhanh vốn vànhờ giảm chi cho những người phụ thuộc

Những phân tích trên cộng với cơ cấu dân số hiện nay chúng ta có thể nhận thấynền kinh tế Việt Nam hiện nay đang sở hữu nguồn lao động rất dồi dào, đây là một lợithế rất lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như nguồn cung ứng nguồn lao động chocác nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh

Phân bố địa lý dân cư.

Trang 18

Số người di cư trong 5 năm qua là 3,3 triệu người, tăng 163.000 người Vùng ĐôngNam bộ và Tây Nguyên luôn là địa điểm thu hút các luồng di cư Đông Nam bộ làvùng nhập cư cao nhất Các khu công nghiệp tập trung và các thành phố lớn luôn cósức hút mạnh mẽ nhiều người chuyển đến làm ăn sinh sống.

39 quyết định của Thú tướng Chính phủ, 4 thông tư liên tịch giữa các Bộ và 12 quyếtđịnh, chỉ thị của bộ trưởng các bộ (trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật năm 2008 có hiệu lực) (xem phụ lục1)

2.5.1.2 Đánh giá khái quát về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chi phối lĩnh vực chế biến và thương mại thủy sản

Thương mại là một lĩnh vực lớn liên quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực khác nhaunên có số lượng văn bản pháp luật khá nhiều Theo Luật Thương mại (2005) và một sốvăn bản dưới Luật khác chỉ tập trung quy định cho đối tượng là "thương nhân", trongkhi các "tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại", gồm cả nôngdân và các hợp tác xã, cũng như hoạt động mua bán sản phẩm do họ sản xuất, chế biến

và tiêu thụ lại chỉ được đề cập một cách rất hạn chế, không làm rõ quyền lợi và tráchnhiệm của các tổ chức, cá nhân này dưới dạng đặc biệt của "thương nhân" Do vậy, cáchoạt động mua, bán hàng hoá nông sản của nông dân không được quy định trongphạm vi, đối tượng áp dụng của văn bản; hoặc có đề cập đến, nhưng chỉ đề cập chungchung như một loại "tổ chức,cá nhân khác" còn trong các điều khoản cụ thể của vănbản cũng lại chỉ đề cập đến "thương nhân" Đây cũng là một trong những nguyên nhântạo ra kẽ hở về pháp luật, để nhiều thương nhân xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua

đã lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT đã giả mạo chứng từ xuất khẩu rút tiền củanhà nước, trong khi những người nuôi thủy sản, khai thác thủy sản chỉ vì không có hóađơn tài chính đã không được hưởng lợi từ chính sách này

Khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, thể chế, chính sách của ViệtNam đã có nhiều thay đổi cho phù hợp với luật pháp quốc tế, điều này đã giúp choCBXK thủy sản Việt Nam có thêm được sức mạnh pháp lý khi tham gia thị trườngxuất nhập khẩu thủy sản thế giới, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơngiữa các nước xuất khẩu thủy sản với các nước nhập khẩu thủy sản; và các nước nhậpkhẩu thủy sản ngày càng tạo ra nhiều rào cản thương mại và rào cản kỹ thuật Tuy vậy,Việt Nam cũng cần nắm chắc các quy định của luật pháp quốc tế về chính sách hỗ trợnông nghiệp (có cả thủy sản) trong thời kỳ quá độ, tận dụng triệt để chính sách này để

hỗ trợ nông ngư dân và các doanh nghiệp phát triển sản xuất nguyên liệu và gia tăngsản lượng, giá trị KNXK

Mảng quản lý nhà nước về chất lượng, VSATTP trong chế biến thủy sản xuất khẩu

có thể nói là đã khá thành công trong thời gian qua, từ việc xây dựng hệ thống các văn

Trang 19

bản quy phạm pháp luật; các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia để kiểm soátđiều kiện đảm bảo VSATTP; hình thành và phát triển cơ quan có thẩm quyền quản lýchất lượng, VSATTP thủy sản (Cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, với đạidiện của cục ở phía Nam và 6 trung tâm vùng) đến việc hình thành được hệ thống cácdoanh nghiệp CBTS quy mô công nghiệp đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiệnđảm bảo VSATTP và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường Kéo theo đó là hệthống các cơ sở nuôi, vùng nuôi, các tàu cá, cảng cá, các cơ sở thu mua sơ chế đáp ứngyêu cầu đảm bảo VSATTP.

Hệ thống các văn bản được xây dựng và ban hành áp dụng trong thời gian qua, dù

về hình thức không phân biệt giữa CBXK và CBNĐ, song các yêu cầu đưa ra chưathật phù hợp với điều kiện phát triển của hệ thống CBNĐ còn đang trong tình trạngkhá lạc hậu và thiếu kiểm soát hiện nay Đây chính là khâu còn đang bị "bỏ ngỏ"như

đã nêu trên Hậu quả là một số loại sản phẩm kém chất lượng vẫn được đưa ra thịtrường tiêu thụ dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệpvới nhau, làm giảm khả năng phát triển chung của ngành

Đầu tư, tín dụng và thuế

Nhìn chung, Nhà nước đang khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nóichung và trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến thuỷ sản nói riêng Tuy nhiên, xét trêngóc độ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì sự khuyến khích này chưa đápứng được nhu cầu đầu tư cũng như chưa định hướng được một cách đúng đắn quátrình đầu tư trong lĩnh vực này

- Về ưu đãi đầu tư

Theo quy định của Luật Đầu tư (Điều 27, Điều 28) và Nghị định số

108/2006/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư (Phụ lục I, II), xác định các đối tượng, lĩnh vựcđược hưởng ưu đãi còn dàn trải, chưa xác định đầu tư ở vùng nông thôn vào lĩnh vựcnông, lâm, thuỷ sản có được ưu đãi đặc biệt hơn các ngành nên chưa đủ sức hấp dẫncác nhà đầu tư Do đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có độ rủi ro cao và lợinhuận thấp, nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư vào các lĩnh vực khác thuộc danh mục lĩnh vực

ưu đãi đầu tư nhưng có lợi nhuận cao hơn

- Về chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư

+ Điều 33, Luật Đầu tư quy định nhà đầu tư có dự án thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn

ưu đãi đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế, nhưng thuế VAT vẫn còn cao đối với một số

ngành sản xuất chế biến nông sản và một số sản phẩm phụ khác Thuế thu nhập doanhnghiệp bình quân trước đây là 28%, nay mặc dù đã giảm xuống 25% nhưng vẫn là quácao đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản sử dụng nhiềulao động, nhiều rủi ro và tỷ suất lợi nhuận thấp

+ Một số quy định của luật pháp còn thiếu nhất quán, phân biệt đối xử giữa các loạihình doanh nghiệp cũng là nguyên nhân làm giảm đầu tư vào lĩnh vực thủy sản nóichung và chế biến thủy sản nói riêng

- Về chính sách tín dụng và các chính sách khác: Tín dụng phục vụ cho công nghiệp

ở nông thôn tăng lên, nhưng còn vướng mắc về các chính sách khác như việc thế chấpvay tiền còn phức tạp, quy hoạch (vùng, miền, ngành nghề, cây con…) còn thiếu vàyếu Các kênh tín dụng khác nhau (tín dụng Nhà nước, tín dụng ngân hàng, vốn đầu tưnước ngoài) còn phân tán Chính sách cho vay ưu đãi được thực hiện qua nhiều đầu

Trang 20

hàng CSXH) với các mức lãi suất cho vay khác nhau, người dân khó nhận biết đầy đủ

để tiếp cận các khoản vay ưu đãi

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn: Nghị định 108/2006/NĐ-CP(Điều 33 - Điều 36) đã có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào khucông nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Tuy vậy, chưa có chínhsách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ các vùng nguyên liệu, vùng nuôi trồng thuỷsản

2.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chế biến, thương mại thủy sản

2.5.2.1 Phân định chức năng giữa các bộ, ngành trong quản lý lĩnh vực chế biến và thương mại thủy sản

Tính đến nay, Chính phủ đã ban hành đầy đủ các Nghị định về phân công chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Có thể thấy, Chính phủ đã thực hiện tổ chức các bộ theo xu thế quản lý đa ngành, đalĩnh vực, nhiều vấn đề chồng chéo, trùng lắp, mâu thuẫn về chức năng, nhiệm vụ giữacác bộ, nhất là giữa Bộ NNPTNT với các Bộ khác trước đây đã được xử lý, thông quađiều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, sát nhập, hợp nhất các Bộ có liên quan v.v

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, vẫn còn tồn tại một số bất cập trong lĩnhvực chế biến và thương mại thủy sản liên quan tới chức năng, nhiệm vụ của BộNNPTNT với các Bộ khác Những bất cập này xuất phát từ sự chồng chéo, trùng lắphoặc phân công chưa hợp lý, chưa rõ ràng; hoặc phân định, giao việc không căn cứvào năng lực tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính và các điều kiện công vụ cần thiết

Mặc dù các có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực này, nhưngviệc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các Bộ; cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụquản lý nhà nước về đảm bảo chất lượng,VSATTP giữa Bộ NN&PTNT với các Bộchức năng trong thời gian qua vẫn tồn tại sự bất cập, hạn chế và đã kéo dài nhiều năm

Cụ thể là việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo ATVSTP cho cơ sở sản xuất,chế biến thực phẩm bị chồng chéo giữa Bộ Y tế và Bộ NN& PTNT, đã gây khó khăncho doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật; làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước Các Bộ có liên quan và các cơ quan thuộc Bộ NN&PTNT đã từng bước ràsoát, loại bỏ các vấn đề chồng chéo nói trên để tiến tới hoàn thiện hệ thống quản lý nhànước về đảm bảo VSATTP cho lĩnh vực thủy sản nói riêng và thực phẩm nói chung.Luật An toàn Thực phẩm năm 2010 số 55/2010/QH12 ra đời và có hiệu lực từ ngày1/7/2011, thay thế Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11,

đã làm rõ được trách nhiệm của các Bộ có liên quan, khắc phục các vấn đề chồng chéotrong thời gian qua

Quản lý thương mại thủy sản

Hiện nay, việc quản lý thương mại hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu được giao chokhá nhiều Bộ, cụ thể là:

+ Việc ban hành các chính sách thương mại, xúc tiến thương mại; quản lý cạnh tranh,

hạn ngạch xuất/ nhập khẩu, quản lý thị trường do Bộ Công thương chủ trì, Bộ NNPTNTphối hợp thực hiện trong phạm vi quản lý của mình

Trang 21

+ Việc quản lý và xử lý các vấn đề về rào cản thương mại (TBT), rào cản kỹ thuật (SPS) liên quan đến nông lâm thủy sản do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Bộ

NNPTNT phối hợp thực hiện trong phạm vi quản lý của mình

+ Quản lý thị trường hàng nông, lâm, thuỷ sản, Bộ NN&PTNT được giao nhiều

nhiệm vụ với nhiều vai trò khác nhau, có nhiệm vụ được giao vai trò chủ trì theo chứcnăng, có nhiệm vụ được giao vai trò phối hợp, hoặc chỉ tham gia là thành viên một tổchức phối hợp liên ngành theo tính chất vụ việc cụ thể

Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, thuộc BộNN&PTNT thực hiện quản lý Nhà nước về chế biến và thương mại thủy sản Tuynhiên, hiện nay Cục này mới chỉ có văn phòng đại diện phía Nam Nhiệm vụ quản lýNhà nước của Cục khi triển khai về đến các địa phương, thường được giao cho chi cụcPhát triển nông thôn thuộc Sở NN&PTNT thực hiện Việc quản lý các cơ sở chế biếnthủy sản, thương mại thủy sản ở địa phương lại do bên Sở Công Thương quản lý Đây

là vấn đề cần được thảo luận giữa hai Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương để tạo được

sự phân công trách nhiệm rõ ràng và cơ chế phối hợp thực hiện quản lý nhà nước vềchế biến, thương mại thủy sản được minh bạch và dễ thực hiện, tập trung được nguồnlực hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các hộ chế biến, thương mại thủy sản phát triển đượctốt hơn

2.5.2.2 Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản

Nông nghiệp và PTNT)

Trước khi hợp nhất với Bộ NN&PTNT (31/7/2007), ngành thủy sản có một hệthống tổ chức từ trung ương đến địa phương

- Tại Trung ương: Bộ Thủy sản là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về thủy sản, bao gồm: nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo vệ nguồn lợithủy sản trong nội đồng và trên biển trong phạm vi cả nước; quản lý các dịch vụ công

và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nướcthuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật Theo Nghị định số 43/2003/NĐ-CPngay 02/5/2003, Bộ Thủy sản có các đơn vị trực thuộc như: Văn phòng Bộ, Vụ Kếhoạch và Tài chính, Vụ Tổ chức Cán bộ,Lao động, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Nuôi trồngthủy sản, Vụ Kinh tế tập thể và tư nhân, Vụ Khoa học,công nghệ, Vụ Pháp chế, Thanhtra Bộ, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Cục Quản lý chất lượng, an toàn

vệ sinh và thú ý thủy sản; khối các đơn vị sự nghiệp gồm các Viện nghiên cứu, trườngtrung học, các trung tâm và tạp chí…

- Tại địa phương

+ Trong số 29 tỉnh ven biển có 24 sở Thủy sản, 01 sở Nông-Lâm, 04 sở NN&PTNT

có quản lý thủy sản Các tỉnh có Sở Thủy sản là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, QuảngNam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, BàRịa-Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và KiênGiang Đà Nẵng có Sở Nông-Lâm quản lý nhà nước về thủy sản Các tỉnh có Sở Nôngnghiệp và PTNT có quản lý nhà nước về thủy sản là Thành phố Hồ Chí Minh, Long

An, Ninh Bình và Thái Bình

+ Các tỉnh còn lại (không có bờ biển), có 01 tỉnh có sở Thủy sản (An Giang) và 34tỉnh có sở NN& PTNT quản lý nhà nước về thủy sản

Trang 22

Trong giai đoạn này, nhìn chung việc quản lý nhà nước về thủy sản mặc dù còn cónhững hạn chế nhất định, song cũng đã có những đóng góp rất đáng kể cho việc pháttriển ngành này trên thực tế, đưa ngành thuỷ sản từ một ngành sản xuất nhỏ, lẻ trởthành một ngành có giá trị xuất khẩu lớn như hiện nay

TW đến địa phương đang trong giai đoạn tổ chức lại, nên các hoạt động quản lý ngành

có phần bị xáo trộn do thay đổi tổ chức và điều động cán bộ giữa các tổ chức có liênquan

Giai đoạn từ 2009 đến nay

Theo Nghị định số 75/2009/NĐ-CP, điều chỉnh cơ cấu tổ chức của Bộ NN&PTNTthì kể từ ngày 01/11/2009, Tổng cục Thủy sản đã được thành lập trên cơ sở Cục Khaithác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chuyển đổi Cục Nuôi trồng thủy sản thành Vụ Nuôitrồng thủy sản… Tổng cục Thủy sản có 6 đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước

và đơn vị sự nghiệp trực thuộc Với 21 nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù được Thủ tướnggiao, Tổng cục Thủy sản sẽ chịu trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ và phát triển nguồnlợi thủy sản; hướng dẫn, tổ chức nuôi trồng, khai thác thủy sản; quản lý tàu cá và cơ sởdịch vụ hoạt động thủy sả và một số vấn đề khác có liên quan

Cùng với hoạt động quản lý Nhà nước của Tổng cục Thủy sản, các Cục Quản lý chấtlượng nông lâm sản và thủy sản; Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản vànghề muối với những nhiệm vụ quản lý nhà nước về chế biến và thương mại, đặc biệt

là xuất khẩu các sản phẩm thủy sản cũng đang thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nướcđối với các vấn đề chế biến, thương mại thủy sản, bảo đảm VSATTP thủy sản Hệthống tổ chức của các cơ quan nêu trên đang ngày càng được hoàn thiện từ trung ươngđến các địa phương để đảm bảo cho hoạt động quản lý Nhà nước được thông suốt,phục vụ tốt cho phát triển chế biến, thương mại thủy sản, đặc biệt cho XKTS

Một vấn đề tồn tại lớn nhất hiện nay, là mặc dù xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã vàđang phát triển nhờ thực hiện tốt các yêu cầu của các thị trường về sự tương đồng hệthống các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các văn bản quy phạm pháp luật

đã được ban hành; và đã có cơ quan có thẩm quyền nhà nước chịu trách nhiệm về đảmbảo VSATTP (NAFIQAD) Nhưng NAFIQAD mới chỉ đủ mạnh ở cơ quan Cục và cácTrung tâm vùng về năng lực quản lý, nguồn lực thực hiện quản lý nhà nước tại các nhàmáy chế biến quy mô công nghiệp; Trong khi cả một mảng quan trọng về sản xuấtnguyên liệu cho chế biến thủy sản và thu mua sơ chế (trước nhà máy chế biến) thuộcquyền hạn quản lý của địa phương, lại chưa có được một mạng lưới tổ chức như mongmuốn Bên cạnh việc thay đổi tổ chức bộ máy của Bộ NN&PTNT, còn nhiều địaphương chưa thực sự quan tâm đầu tư nguồn lực cho đơn vị này đủ mạnh về cơ sở vậtchất và biến chế thực hiện nhiệm vụ này

3 Các lực lượng cạnh tranh trong ngành và tình hình cạnh tranh.

3.1 Các lực lượng cạnh tranh trong ngành.

Trang 23

3.1.1 Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.

Đất nước ta trải dài nằm trong vùng nhiệt đới với đất đai màu mở và nông sảnthủy sản trở nên phong phú đa dạng lẫn về số lượng và chất lượng Vì thế các công

ty chế biến nổi lên ngày càng nhiều và ngành “chế biến và bảo quản thủy sản đônglạnh” vì thế không thể tránh khỏi có các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Các đối thủcạnh tranh có thể là các ngành sau đây: (đây chỉ là ví dụ, trên thực tế có thể cáccông ty trong lĩnh vực hoàn toàn không một chút tương đồng vói ngành nhưng họ

có thể làm những gì mà mình muốn.)

Sản xuất và đóng hộp dầu, mỡ động, thực vật

Chế biến và bảo quản rau quả khác

Chế biến và đóng hộp rau quả

Chế biến và bảo quản rau quả

Chế biến và bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt khác

Chế biến và đóng hộp thịt

Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt

Các công ty của các ngành trên được xem như một mối đe dọa bởi các công ty này

sẽ đem vào nganh một nguồn năng lực sản xuất mới và muốn chiếm đoạt thị phần củacác công ty hiện tại Chính vì đối thủ cạnh tranh tiềm tàng có thể gia nhập ngành “chếbiến và bảo quản thủy sản thủy đông lạnh” để chiếm thị phẩn ảnh hưởng trực tiếp cáccông ty hiện tại trong ngành và làm cho các công ty hiện tại trở nên cảnh giác hơn,thực tế trong việc cạnh tranh với các hình thức mới từ các đối thủ, như hệ thống phânphối, các hinh thức marketing mới…

Và tất nhiên là các công ty trong chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh sẽ tìmcách cố gắng ngăn cản các công ty khác có ý định gia nhập ngành Tuy nhiên hiện nayngay trong chính các doanh nghiệp trong ngành nói riêng và các doanh nghiệp thủysản Việt Nam nói chung đều gặp phải là càng thâm nhập sâu vào thị trường thế giới thìxuất khẩu thủy sản Việt Nam càng gặp nhiều khó khăn hơn do các rào cản phi thuếquan Những tháng đầu năm 2010, đã gặp không ít khó khăn về việc khan hiếm nguồnnguyên liệu, giá cả không ổn định, ngành thủy sản Việt Nam còn phải đối mặt vớinhững những khó khăn do các quy định khắt khe mang tính bảo hộ ngày càng nhiều từcác nước nhập khẩu Muốn đứng vững ở thị trường xuất khẩu, không còn cách nàokhác là nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, phá vỡ thế qui mô sảnxuất nhỏ, mặt hàng có giá trị gia tăng cao, xây dựng thương hiệu có uy tín… trên cơ sởđảm bảo các tiêu chuẩn quy định của thị trường xuất khẩu Chẳng hạn đối với thịtrường EU một trong những hàng rào khó vượt qua để vào EU của các mặt hàng ViệtNam chính là các qui định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Các mặt hàngxuất khẩu chính của Việt Nam sang EU phải tuân thủ các qui định SPS ở châu Âugồm: thủy sản đông lạnh, các loại thực phẩm chế biến… Các biện pháp do EU áp dụngnhìn chung được coi là hết sức ngặt nghèo Ít có khả năng các biện pháp này có thểđược điều chỉnh căn cứ trên các khiếu nại của các đối tác thương mại của EU

Với trong nước việc thành lập nên một doanh nghiệp gia nhập ngành ngoài rào cảnphi thuế quan cũng như chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm đạt chuẩn quốc tế thì cònrào cản không thể nói tới là lực lượng nhân công, Việt Nam tuy là có dồi dào lao độngnhưng trình tay ghề vẫn còn hạn chế cho nên để đáp ứng được một lượng nhân công đểthành lập một doanh nghiệp mới là một khó khăn trước mắt Bên cạnh đó các đối thủtiềm tàng muốn gia nhập ngành cũng phải chuẩn bị về công nghệ chế biến cũng như

Trang 24

dây chuyền sản xuất và cả công nghệ đông lạnh đi kèm theo đó là một diện tích đấtrộng cho kho bãi bảo quản thủy sản đông lạnh.

Về mặt kinh tế để vượt qua rào cản ngành này là tương đối cao, và chắc chắn rằngcác đối thủ cạnh tranh tiềm tàng phải tính đến việc một khi gia nhập ngành làm cho sốlượng sản phẩm trên thị trường tăng cao, và theo lý thuyết cung-cầu thì lúc này làmmức giá thấp hơn trước Với mức giá thấp này sẽ không mang lại lợi nhuận cho doanhnghiệp và đồng nghĩa với việc chịu lỗ hoặc bổ sung một lượng vốn để tiếp tục sản xuấtcho chu trình tiếp theo, và liệu như thế thì doanh nghiệp mới gia nhập ngành có thểtiếp tục đứng vững

3.1.2 Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành.

Các doanh nghiệp trong một ngành luôn là đối thủ của nhau luôn cạnh tranh vớinhau, ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh cũng không ngoại lệ Khi mộttrong các doanh nghiệp trong ngành thay đổi các chiến lược hay tung các sản phẩmmới… thì đều làm cho tranh đua trở nên mạnh hơn bởi mỗi doanh nghiệp luôn muốnkhẳng định vị thế của mình trên thị trường

3.1.2.1 Cấu trúc cạnh tranh của ngành.

+ Về mặt định tính:

Vì ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh là một ngành phân tán nênkhông có công ty nào giữ vị trí thống trị trong ngành này, chưa có công ty nào có đủsức mạnh có thể tác động đến thị trường trong ngành

Các sản phẩm thủy sản đông lạnh hầu như không có sự khác biệt giữa các doanhnghiệp trong ngành, nên để cạnh tranh các đối thủ tìm đến các chiến lược marketing,chiến lược giá, hệ thống phân phối… Các rào cản gia nhập ngành thấp bởi là ngànhphân tán, tạo thuận lợi cho các đối thủ tiềm năng gia nhập mong vớt lợi nhuận khinhững lúc ngành phát triển thuận lợi Lúc này sẽ dư thừa năng lực sản xuất trongngành sản lượng tăng nhanh trên thị trên, để chứng tỏ năng lực vượt trội các doanhnghiệp trong ngành thực hiện chính sách cắt giảm giá làm cho giá của toàn ngành bâygiờ giảm xuống để gây khó khăn cho đối thủ mới gia nhập ngành chế biến và bảoquản thủy sản đông lạnh này

Dẫn kết cục là lợi nhuận giảm dần do một cuộc chiến giữa các doanh nghiệp trongngành về giá đã xảy ra, những doanh nghiệp nào không trụ vững trước tình hình nàythì phải đành chia tay với ngành Các doanh nghiệp chia tay với ngành làm thức tỉnhcho các doanh nghiệp nào khác có ý định gia nhập ngành

3.1.2.2 Các điều kiện nhu cầu

Dự báo xu thế phát triển thị trường nội địa

Cùng với sự gia tăng dân số và mức tiêu thụ sản phẩm thủy sản theo đầu người củaViệt Nam tăng (mức tiêu thụ năm 2007 đã tăng 65 % so với năm 2000) Dự báo mức

Trang 25

tiêu thụ thủy sản tại thị trường trong nước cũng sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới Và nếunăm 2020, Việt Nam hoàn thành cơ bản quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vớikhoảng 40% dân số sống ở các đô thị và thu nhập đầu người bình quân khoảng 3.000USD , mức tiêu dùng thủy sản trên đầu người có khả năng gia tăng khoảng 40-45% sovới mức năm 2007 (22 kg)

Tuy nhiên, do mức thu nhập (mức sống) thay đổi, số người thành thị và có thu nhậpcao tăng lên nên sản phẩm thủy sản tiêu thụ sẽ càng ngày đòi hỏi có chất lượng và giátrị cao hơn Các loại thủy sản nuôi truyền thống sẽ càng ngày càng tiêu thụ ít hơn ởkhối này, ngược lại, càng ngày càng có nhiều yêu cầu về các loại thủy sản có chấtlượng cao, có nhiều thịt, ít xương dễ cung cấp qua các nhà hàng siêu thị ở dạng tươi,sống

- Đối tượng thủy sản tiêu dùng nội địa: Xu hướng của người dân Việt Namtrong thời gian tới chủ yếu vẫn tiêu dùng thủy sản nước ngọt như: cá chép, trắm, rôphi, cá tra vì giá cả hợp lý và nguồn hải sản càng ngày càng khan hiếm Các đốitượng thủy sản nước mặn, lợ như: tôm, mực, cua, cá các loại, sò nhất là hàng tươisống sẽ được tiêu thụ nhiều tại các nhà hàng, các khu du lịch và đô thị lớn trên toànquốc

- Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thủy sản nội địa : Tập quán tiêu dùng thủy sảnthô của người dân Việt Nam sẽ giảm, tỷ lệ tiêu dùng thủy sản đã qua chế biến, làmsẵn, nhưng vẫn giữ độ tươi xạnh sẽ tăng lên trong thời gian tới vì người dân không cóthời gian để chế biến khi quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanhchóng, lúc này thủy sản đông lạnh sẽ đáp ứng nhu cầu đó

 Theo như dự báo trên nhu cầu sản phẩm thủy sản đông lạnh tăng và kèm theo

đó là chất lượng sản phẩm cũng phải nâng lên thì việc các doanh nghiệp thủy sảnđông lạnh ganh đua mạnh hơn Các doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ chế biến,công nghệ làm lành sản phẩm an toàn hơn, quy mô sản xuất chế biến mở rộng… đểchiếm ươu thế trên thị trường sắp tới trước khi các doanh nghiệp khác cướp mất vị thếnày Một khi các doanh khác nhận ra điều kiện này lúc này có sự chạy đua trongngành làm cho sự cạnh tranh cao hơn

- Doanh nghiệp gắn bó lâu năm với ngành này phai rởi bỏ thật không dễ dàng,nhân tố tâm lý gắn bó với ngành

- Thủy sản đông lạnh là một trong các ngành xuất khẩu mang về ngoại tệ cao, vàngành cũng góp phần đảm bảo lượng thực trong nước, bởi khi ngành có chiều hướngsuy thoái gặp khó khăn thì lúc này chính phủ can thiệp giúp ngành vượt qua khó khăn

Do đó đây xem là rào chắn từ phía chính phủ

- Các doanh nghiệp thủy sản đông lạnh trong cuộc chiến thời kỳ suy thoái tintưởng sau thời kỳ khó khăn trước mắt thì ngành sẽ tươi sáng hơn có tương hơn trong

kỳ sau đó là niềm tin làm cho họ tiếp tục cố gắng bám trụ trong ngành

Ngày đăng: 23/02/2014, 12:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Sự hình thành và phát triển của ngành. - bài tập nhóm đề tài chế biến thủy sản
1. Sự hình thành và phát triển của ngành (Trang 4)
- Cơ cấu lao động phân theo vùng kinh tế: từ hình 1 cho thấy, năm 2008 lao động khu vực ĐBSH chiếm 24,8% lao động toàn quốc, vùng TDMNBB chiếm 15%, vùng BTB&DHMT chiếm  15,2%, vùng Tây Nguyên chiếm  7,8%,  vùng  Đông  Nam  Bộ chiếm 16,8%, và vùng ĐBSC - bài tập nhóm đề tài chế biến thủy sản
c ấu lao động phân theo vùng kinh tế: từ hình 1 cho thấy, năm 2008 lao động khu vực ĐBSH chiếm 24,8% lao động toàn quốc, vùng TDMNBB chiếm 15%, vùng BTB&DHMT chiếm 15,2%, vùng Tây Nguyên chiếm 7,8%, vùng Đông Nam Bộ chiếm 16,8%, và vùng ĐBSC (Trang 14)
1. Sự hình thành và phát triển của ngành 2 - bài tập nhóm đề tài chế biến thủy sản
1. Sự hình thành và phát triển của ngành 2 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w