Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã Bản Xèo – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai”.. Mục đ
Trang 1BÀI LUẬN
ĐỀ TÀI:
Đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã Bản Xèo – huyện
Bát Xát – tỉnh Lào Cai
Trang 2PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống khuyến nông nhà nước Việt Nam chính thức được thành lậptheo Quyết định 13/CP ngày 02/03/1993 của thủ tuớng Chính phủ Qua gần
20 năm xây dựng và phát triển khuyến nông đã và đang khẳng định vị thếquan trọng của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ởnước ta Khuyến nông là hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vềnông nghiệp, nông thôn và phổ biến kinh nghiệm về sản xuất, quản lýkinh tế, cơ chế chính sách, giá cả thị trường nhằm giúp cho ngườinông dân có đủ khả năng tự giải quyết những vấn đề của bản thân vàcộng đồng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển cải thiện đời sống và xâydựng nông thôn mới Trong giai đoạn hiện nay, khi điều kiện nguồnlực còn hạn chế, nhà nước xóa bỏ cơ chế tổ chức bao cấp Hoạt độngsản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng, phát triển theo hướng hànghóa nên có nhu cầu cao về các dịch vụ khuyến nông Vì thế, đòi hỏiđội ngũ cán bộ khuyến nông phải hiểu biết rộng và có nhiều kỹ năng
để thực hiện các phương pháp khuyến nông một cách có hiệu quả Khuyến nông đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệpnông thôn hiện nay Trong đó hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnhhưởng nhiều từ công tác khuyến nông
Hiện nay sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của conngười Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển nâng cao đời sốngcủa con nguời nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất luợng môi trường
tự nhiên Thực tế cho thấy việc lựa chọn hoạt động sinh kế của người dânchịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố conngười, vật chất, cơ sở hạ tầng… Do đó việc đánh giá tác động của công tác
Trang 3khuyến nông tới hoạt động sinh kế của người dân giúp ta thấy đượcnhững ảnh hưởng của công tác khuyến nông tới cuộc sống lao động sảnxuất của người dân.
Trong những năm gần đây hoạt động sinh kế của người dân xã BảnXèo đã có những thay đổi lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của chính gia đình họ.Mặt khác cùng với sự thay đổi của các điều kiện ngoại cảnh như tình hìnhkinh tế - xã hội - khí hậu… đã làm cho người dân có những thay đổi thíchhợp với hoàn cảnh sống Vì vậy đây là cơ sở cho việc áp dụng các tiến bộkhoa học kĩ thuật vào lao động sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao độngcho người dân mà công tác khuyến nông chính là cầu nối giúp người dân
có những định hướng đúng đắn nhất trong sản xuất
Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại
xã Bản Xèo – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt độngsinh kế của người dân để đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạtđộng khuyến nông tại các cở sở của huyện Bát Xát và chiến lược sinh kếbền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá đuợc kết quả hoạt động và tác động của khuyến nông tại xãBản Xèo đến sản xuất nông nghiệp của người dân trong những năm gần đây
Tìm hiểu được các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân địa phương
Tìm hiểu được hiệu quả của công tác khuyến nông tới các hoạt độngsinh kế của người dân xã Bản Xèo - huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai
Xác định được những khó khăn và trở ngại trong hoạt động sinh kếcủa người dân
Trang 4 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công táckhuyến nông ở địa phương.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ những ảnh hưởng của công tác khuyếnnông tới hoạt động sản xuất của người dân
- Thấy được hiệu qủa của các hoạt động sinh kế mang lại cho ngườidân địa phương
1.5 Yêu cầu của đề tài
- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏngvấn để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung nghiên cứu của đềtài
- Đánh giá được thực trạng tác động của công tác khuyến nông đếnhoạt động sinh kế của người dân
- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Trang 5PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Cơ sở lí luận về khuyến nông
2.1.1.1 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụnhiều mục đích có qui mô khác nhau Vì vậy khuyến nông là một thuật ngữkhó định nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tùy theo lợi ích nómang lại
Dưới đây là một số định nghĩa khuyến nông khác nhau :
‘Khuyến nông được định nghĩa như thể là một tiến trình của việc lôikéo quần chúng tham gia vào việc trồng và quản lý cây một cách tựnguyện” (D.Mahony, 1987) [2]
“Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hòanhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại Các quan điểm, kỹ năng đểquyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương
sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để cókhả năng vượt qua các trở ngại gặp phải” (Theo tổ chức FAO,1987) [2]
“Khuyến nông khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táonhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết địnhđúng đắn” (A.W.Van den Ban và H.S.Hawkins,1996) [2]
“Khuyến nông khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghenhững khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự giải quyết lấy vấn đề chính củahọ” (Malla,1989) [2]
“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liênquan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài
Trang 6nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thựchành” (Thomas)
Theo nghĩa hẹp : Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chínhthức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến chongười nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giảiquyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông
hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để khôngngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [2]
Theo nghĩa rộng : Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả nhữnghoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn.[2]
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866
có nghĩa là “mở rộng, triển khai” Từ “Extension” ghép với từ “Agriculture”thành “Agriculture Extension” thì được dịch là “Khuyến nông”.[2]
Theo nghĩa cấu tạo của từ ngữ Hán - Việt thì “Khuyến nông” lànhững hoạt động nhằm khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để phát triểnsản xuất nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâmsinh, thuỷ sản ở nông thôn.[2]
Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện phápgiáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sảnxuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân,xây dựng và phát triển nông thôn mới.[2]
Còn theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốcgia (TTKNKLQG) thì: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thôngtin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nhữngkiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, nhữngthông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ
Trang 7khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ vàcộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vàphát triển nông nghiệp nông thôn.[13]
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài họcđường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quátrình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắcriêng Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nóicách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinhdoanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nộidung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng vớiđiều kiện sản xuất của người nông dân
2.1.1.2 Vai trò của khuyến nông đối với phát triển nông thôn Việt Nam
Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nôngthôn :
Trong điều kiện nước ta hiện nay, trên 80% sống ở các vùng nôngthôn với 70% lao động xã hội để sản xuất ra nông sản thiết yếu cung cấpcho toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến…, và sản xuất nông nghiệp chiếm 37- 40% giá trị sảnphẩm xã hội Khuyến nông đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ
về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, đảm bảo anninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảmnghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân [4]
Trang 8Sơ đồ 2.1: Khuyến nông có vai trò trong sự nghiệp
phát triển nông thôn
(Nguồn: Bài giảng nguyên lý và phương pháp Khuyến nông)
Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triểnnông nghiệp :
Sơ đồ 2.2: Vai trò KN trong quá trình từ nghiên cứu đến
phát triển nông nghiệp
(Nguồn: Bài giảng nguyên lý và phương pháp Khuyến nông)
Khuyến nông góp phần xóa đói giảm nghèo: Thực hiện các chươngtrình dự án… để nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển nhằm năngcao đời sống kinh tế- văn hóa – xã hội nông thôn
Nông dân Cộng đồng thôn bản
Giao thông
Tín dụng Giáo dục
Trang 9 Vai trò của khuyến nông đối với nhà nước :
Giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triểnnông lâm nghiệp, nông thôn và nông dân
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp
Trực tiếp góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu nguyệnvọng của nông dân đến các cơ quan nhà nước trên cơ sở nhà nước hoạchđịnh, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp.[4]
2.1.1.3 Mục tiêu của khuyến nông
(Theo nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010)
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăngthu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nôngdân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợnông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiệnsinh thái, khí hậu và thị trường.[3]
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng pháttriển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinhthực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thônmới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệmôi trường.[3]
Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nướcngoài tham gia khuyến nông.[3]
2.1.1.4 Nội dung của khuyến nông
Theo nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông, ban hành ngày
08/01/2010 Hoạt động của khuyến nông bao gồm những nội dung sau:
Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo
Đối tượng
Trang 10Người sản xuất, bao gồm: nông dân sản xuất nhỏ, nông dân sản xuấthàng hóa, nông dân thuộc diện hộ nghèo; chủ trang trại, xã viên tổ hợp tác
và hợp tác xã; công nhân nông, lâm trường; doanh nghiệp vừa và nhỏ; chưatham gia chương trình đào tạo dạy nghề do Nhà nước hỗ trợ
Người hoạt động khuyến nông là cá nhân tham gia thực hiện các hoạtđộng hỗ trợ nông dân để phát triển sản xuất, kinh doanh trong các lĩnhvực như: ngành nghề sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ trong nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy nông, cơ điện nông nghiệp, ngànhnghề nông thôn;
Nội dung
Bồi dưỡng, tập huấn cho người sản xuất về chính sách, pháp luật; tậphuấn, truyền nghề cho nông dân về kỹ năng sản xuất, tổ chức, quản lý sảnxuất kinh doanh trong các lĩnh vực khuyến nông; tập huấn cho người hoạtđộng khuyến nông nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
ưu tiên là đào tạo nông dân trên truyền hình;
Qua trang thông tin điện tử khuyến nông trên internet;
Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước
Tổ chức triển khai
Trang 11Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động khuyến nông do các
tổ chức khuyến nông đảm trách
Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình độđại học trở lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiềukinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, có đóng góp, cống hiến cho xãhội, cộng đồng, đã qua đào tạo về kỹ năng khuyến nông.[3]
Thông tin tuyên truyền
Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chínhtrị xã hội
Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trongsản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chíkhuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triểnlãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác; xuất bản vàphát hành ấn phẩm khuyến nông
Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin khuyếnnông [3]
Trình diễn và nhân rộng mô hình
Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phùhợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng củangành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm
Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệphiệu quả và bền vững
Trang 12Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn,điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng.[3]
Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
Tư vấn về :
Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn;Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng caonăng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng caosức cạnh tranh của sản phẩm;
Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự ánđầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạolao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường;
Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất, kinh doanh;Cung ứng vật tư nông nghiệp
Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp, nôngthôn.[3]
Hợp tác quốc tế về khuyến nông
Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợptác quốc tế
Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nước ngoài
và tổ chức quốc tế theo quy định của luật pháp Việt Nam
Nâng cao năng lực, trình độ ngoại ngữ cho người làm công tác khuyếnnông thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học tậpkhảo sát trong và ngoài nước [3]
2.1.1.5 Các nguyên tắc của khuyến nông
Trang 13Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệpcủa Nhà nước.
Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nôngdân trong hoạt động khuyến nông
Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, cácdoanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân
Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông
để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoàitham gia hoạt động khuyến nông
Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng
Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địabàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.[3]
2.1.1.6 Các phương pháp khuyến nông
Xét về phương pháp thì hoạt động khuyến nông gồm 3 loại sau: Phươngpháp cá nhân, phương pháp nhóm, và phương pháp thông tin đại chúng
Phương pháp tiếp xúc cá nhân: Là phương pháp được sử dụng rộng
rãi trong khuyến nông Người cán bộ khyến nông đến thăm nhà nông dân,hoặc gặp gỡ họ ngoài đồng, trên nương để thảo luận những chủ đề mà haibên cùng quan tâm và cung cấp cho họ thông tin hoặc những lời khuyên.Những cuộc gặp gỡ này thường rất thoải mái và ít khi phải câu nệ điềugì.Nó biểu hiện sự quan tâm của cán bộ khuyến nông đối với từng ngườidân cho nên nó là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc củng cố lòng tin vàtình cảm giữa người dân và cán bộ khuyến nông Phương pháp này đượcthực hiện bằng cách: Thăm và gặp gỡ, gửi thư hoặc điện thoại giữa nôngdân và cán bộ khuyến nông [6]
Trang 14Ưu điểm: - Củng cố lòng tin và tranh thủ tình cảm của hộ nông dân
- Tạo được bầu không khí thoải mái và ấm cúng
- Dễ thực hiện, nhanh, kịp thời, đáp ứng thông tin theoyêu cầu
Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian
- Quá trình phổ biến thông tin chậm, diện hẹp
- Đến từng nông dân nên dễ gây nghi kỵ trong cộng đồng
Phương pháp nhóm: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin
được truyền đạt cho một nhóm người có chung một mối quan tâm và nhằmmục đích giúp nhau phát triển Phương pháp này được thực hiện bằng cách:hội họp, trình diễn, hội thảo đầu bờ, thăm quan và tập huấn kỹ thuật.[6]
Ưu điểm: Phương pháp này có tính phổ cập thông tin cao, tốn ít nhânlực, khơi dậy sự tham gia của dân, cải tiến kỹ thuật do dân góp ý, phát hiệnvấn đề mới nhanh chóng
Nhược điểm: Chỉ giải quyết được những vấn đề chung của nhóm,không giải quyết được những vấn đề riêng của từng cá nhân
Việc tổ chức nhóm và duy trì hoạt động thường xuyên và có hiệu quả
đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và kinh phí lớn
Phương pháp thông tin đại chúng: Là phương pháp được thực hiện
bằng phương tiện nghe (đài), phương tiện đọc (sách, báo, tạp chí), phươngtiện nhìn (tranh ảnh, mẫu vật), phương tiện nghe nhìn (phim video, phimnhựa, tivi).[6]
Ưu điểm của phương pháp này là phạm vi tuyên truyền rộng, phục vụđược nhiều người, linh hoạt ở mọi nơi, truyền thông tin nhanh và chi phí thấp Nhược điểm của nó là không có lời khuyên và sự giúp đỡ cụ thể chotừng cá nhân
Trang 152.1.2 Cơ sở lí luận về sinh kế
Theo DFID (Department For International Development) sinh kế
gồm 3 thành tố chính : nguồn lực và khả năng con người có được, chiếnlược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơnthuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở Mà nó còn đề cậpđến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng, các mối quanhệ… (Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp cácnguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyếtđịnh và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được cácmục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID) Về cơ bản các hoạt động sinh kế
là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khảnăng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và cácmối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộngđồng.[14]
2.1.2.1 Khái niệm sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáoBrundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Một sinh
kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục đượcnhững áp lực và cú sốc Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng
và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở cácnguồn tài nguyên thiên nhiên [14]
Trang 16Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một kháiniệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững baogồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập
và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vôhình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mởrộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi íchròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó cóthể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp chothế hệ tương lai.[11]
2.1.2.2 Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn vàquyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn
và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như đểđạt được mục tiêu nguyện vọng của họ.[11]
Sơ đồ 2.3: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo
nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc
-Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân -Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)
Các chiến lược SK
-Các tác nhân
xã hội (nam,
nữ, hộ gia đình, cộng đồng …) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên
-Cơ sở thị trường
- Đa dạng -Sinh tồn hoặc tính bền vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn -Cuộc sống đầy đủ hơn
-Giảm khả năng tổn thương
-An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên
-Giá trị không sử dụng của tự nhiên được bảo vệ
Trang 17(Nguồn: DFI, 2003) 2.1.2.3 Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủquan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặclượng Các loại nguồn vốn sinh kế gồm vốn về con người, vật chất, tàichính, xã hội, tự nhiên, …[11 ]
Vốn con nguời : con người là cơ sở của nguồn vốn này Vốn con ngườibao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức vàgiáo dục của các thành viên trong gia đình, những kĩ năng và năng khiếucủa từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lý của các thànhviên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây làyếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng của một
cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lý các nguồn vốn khác.[11]
Vốn xã hội : Bao gồm các mạng lưới xã hội các mối quan hệ với họhàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tínngưỡng, văn hóa,các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phichính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hộikhác nhau… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốnnày như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kếcủa họ [11]
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Lịch sử khuyến nông trong và ngoài nước
2.2.1.1 Lịch sử khuyến nông trên thế giới
Pháp
Thế kỷ 15 – 16: một số công trình khoa học nông nghiệp ra đời như:
“ngôi nhà nông thôn” của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tếnông thôn và khoa học nông nghiệp Tác phẩm diễn trường nông nghiệp
Trang 18của Oliver de Serres đề cập tới nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiếngiống cây trồng vật nuôi.[4]
Thế kỷ 18 cụm từ Phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Agricole),hoặc chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des TechnologiesAgrcoles au Payan) được sử dụng phổ biến [4]
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đến nay.Trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹthuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùngPari hoạt động với nguyên tắc:
- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến nôngđại học
Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chứcchương trình khuyến nông đại học
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã thực hiện công tácKhuyến nông
Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông
Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có
1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đốitượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh
Trang 19viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ởkhắp nơi trên đất nước.[4]
Cho tới nay Mỹ là nước có nền nông nghiệp rất phát triển với chỉ 6%dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất và sản lượng nôngnghiệp của Mỹ vẫn đạt mức cao Điển hình là sản lượng đậu tương năm 1985
là 55 triệu tấn, tới năm 2001 sản lượng đậu tương của Mỹ đã tăng lên 70 triệutấn cho đến nay Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, hàng nămxuất khẩu 16,9 triệu tấn chiếm 54% tổng khối lượng xuất khẩu đậu tương thế giới
“Cách mạng nâu” đó là phát triển chăn nuôi trâu, bò [4]
Thái Lan
Ngày 20/10/1967 Chính phủ Thái Lan mới có quyết định thành lập tổchức khuyến nông Tuy ra đời hơi muộn so với một số nước khác nhưngChính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đến hoạt động này Hàng năm Chínhphủ Thái Lan chi từ 120 – 150 triệu USD, thậm trí đến 200 triệu USD/năm
để đầu tư cho hoạt động khuyến nông Thái Lan cho tới nay có một hệthống khuyến nông khá mạnh, có thể nói khuyến nông Thái Lan có mặt tớitận làng, xã Ở Bộ nông nghiệp thuỷ sản có cục khuyến nông, ở cấp tỉnh cóTrung tâm khuyến nông, ở cấp huyện có trạm Khuyến nông
Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất trên thế giới với hơn 1,3 tỷngười nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu
Trang 20cầu trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớnnhất thế giới Theo Jinguguan: “Hiện nay và trong tương lai, khuyến nôngvẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp của Trung Quốc”.
Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nôngnghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao Các chương trình khuyến nôngchuyển giao giống cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuấtkhẩu kết hợp cải tạo đất; dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượngsữa được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sốngcho nông dân Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, góp phầnđẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chương trình khuyến nông quốc gia,giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạtđộng tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người nông dân nắmbắt được những kỹ thuật mới Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhànước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đãđạt được kết quả không ngờ sau vài năm thực hiện
Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đãgiúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triểnchung của nông nghiệp Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng caotrình độ canh tác, giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm nhưthế nào? Cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng của mình để chính họtrở thành những chủ nhân – chuyên gia kỹ thuật viên
Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổchức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tớitỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũngkhoảng 400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên Hiện nay khuyến nôngTrung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiềunăm không ngừng củng cố (Phạm Kim Oanh, 2006)
2.2.1.2 Lịch sử khuyến nông trong nước
Trang 21Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự pháttriển của nền sản xuất nông nghiệp Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đãtrực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi đểcác Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nôngsản tại chỗ Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa.Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnhđiền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay [2]
Các vua Lý (1009 -1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chínhsách chăm lo phát triển nông nghiệp
Triều vua Lê Thái Tông (1492) Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ vàKhuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xãtrưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều Triều đình ban bố chiếu khuyếnnông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong
bộ luật Hồng Đức.[2]
Thời vua Quang Trung (1807 – 1792): Từ năm 1789 sau khi thắnggiặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “chiếu khuyến nông” nhằmphục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm những đấtđai hoang hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển.[2]
Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức đinh điền
sứ Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này Ông đã có công khaikhẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn(tỉnh Ninh Bình)
Thời kỳ pháp thuộc (1884 – 1945) phát triển nông nghiệp và khuyếnnông chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp.Người Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ởcác tỉnh
Trang 22Từ sau cách mạng tháng 8/1945 – 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặcbiệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân “Tăng gia sản xuất!Tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! Đó là những việc cấp báchcủa chúng ta lúc này”.[2] Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dânbắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất.
Từ năm 1958 – 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triểntrong sự tác động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp Từ đổi công(1956), đến HTX bậc thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTXtoàn xã năm 1974 Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương,cấp tỉnh, huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở Giai đoạn 1976 – 1988 nôngnghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia pháttriển sản xuất Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác độngcủa quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóatập chung Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lýnông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nôngthôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinhsống
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầunăm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán,
mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nôngnghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) Khoán 100 mặc dù chưaphải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cảitiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán độisang khoán hộ Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lýtập chung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để
mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam.[6]
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đườnglối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế Nghị quyết 10 của Bộ chính trịTrung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý
Trang 23trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng
hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn(gọi tắt là khoán 10) PGS.TS Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trongmột thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm
vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên quan trọnghơn bao giờ hết”
Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyếnnông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địaphương Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừaquản lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông Năm 2001 Trung tâmKhuyến nông Trung ương ra đời (trực thuộc cục khuyến nông) Tới năm
2003 Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập
Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thếcho Nghị định 13CP Trong nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổchức khuyến nông ( đặc biệt đội ngũ CBKN cơ sở) Bổ sung thêm nội dung
tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông; mở rộngđối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiệnmục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông
2.2.1.3 Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam hiện nay
a Ở Trung ương:
Theo Nghị định số 02/2010/NĐ- CP của Chính phủ và Quyết định số
1816 /QĐ- TCCB ngày 28/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp vàPTNT, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lậpphục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT vềkhuyến nông Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp cônglập phục vụ quản lý nhà nước của Bộ, song trên thực tế vẫn phải thực hiệnmột số nhiệm vụ có tính chất quản lý nhưng không chính danh như: xâydựng kế hoạch khuyến nông trung hạn và hàng năm; lập kế hoạch kiểm tra,giám sát, đánh giá các chương trình, dự án khuyến nông trung ương; hướngdẫn phương pháp, nghiệp vụ khuyến nông cho hệ thống khuyến nông địa
Trang 24phương; tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động khuyến nông trên phạm vitoàn quốc; đề xuất các cơ chế chính sách về khuyến nông…
- Cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 34,8%;
- Phân theo cấp hành chính: cấp tỉnh có 1.903 người (chiếm 5,5%),cấp huyện có 4.025 người (chiếm 11,6%), cấp xã có 11.232 người (chiếm32,3%), cộng tác viên khuyến nông thôn bản có 17.587 người (chiếm 50,6%)
- Phân theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:
+ Trình độ đội ngũ cán bộ khuyến nông chuyên trách (cấp tỉnh vàcấp huyện) cả nước như sau: trình độ trên đại học chiếm 3,6% (2 tiến sỹ,
187 thạc sỹ); đại học 66,8%; cao đẳng 5,6%; trung cấp 17,3%; khác 6,7%
+ Trình độ đội ngũ cán bộ khuyến nông viên cơ sở (cấp xã và thôn,bản): chủ yếu là trình độ trung cấp và sơ cấp, đã được đào tạo ngắn hạn vềphương pháp và nghiệp vụ khuyến nông
- Bình quân cả nước: 280 hộ sản xuất nông lâm, ngư nghiệp có 01cán bộ khuyến nông
Tổ chức và nhiệm vụ của hệ thống khuyến nông địa phương:
Thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ, hệ thốngkhuyến nông của các địa phương tiếp tục được củng cố và phát triển:
Cấp tỉnh: cấp tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có Trung tâm
Khuyến nông Đến nay tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước đã có tổchức khuyến nông cấp tỉnh Tuy nhiên tên gọi và nhiệm vụ chưa hoàn toànđồng nhất:
- Về tên gọi: hiện có 6 loại tên gọi khác nhau đối với tổ chức khuyếnnông cấp tỉnh là:
+ Trung tâm khuyến nông;
Trang 25+ Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư;
+ Trung tâm khuyến nông - khuyến lâm (Bắc Kạn);
+ Trung tâm khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư (Ninh Bình);+ Trung tâm khuyến ngư nông lâm (Đà Nẵng);
+ Trung tâm khảo nghiệm và khuyến nông - khuyến ngư (Thái Bình)
- Về nhiệm vụ: hiện còn 07 tỉnh, thành phố là: Tuyên Quang,Lạng Sơn, Thái Nguyên, Đồng Nai, Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ,nhiệm vụ khuyến ngư chưa giao cho các Trung tâm khuyến nông tỉnh
mà giao cho các đơn vị khác nhau như: Trung tâm thuỷ sản hoặc Chi cụcthuỷ sản tỉnh thực hiện
- Tổng số cán bộ khuyến nông cấp tỉnh là 1.903 người, giảm 10% sovới năm 2010, bình quân hiện nay mỗi Trung tâm khuyến nông tỉnh có 30cán bộ viên chức đang làm việc; đơn vị có số lượng cán bộ khuyến nôngcấp tỉnh lớn nhất là thành phố Hà Nội: 65 cán bộ; tỉnh có số lượng ít nhất làKon Tum: 14 cán bộ
Trung tâm khuyến nông tỉnh, thành phố là đầu mối để triển khai cáchoạt động khuyến nông trên địa bàn Ngoài các chức năng, nhiệm vụ vềkhuyến nông, một số đơn vị còn tham gia các hoạt động đào tạo nghề,nghiên cứu khoa học, khảo kiểm nghiệm các giống mới, thực hiện các dự
án, đề án theo phân công của Sở Nông nghiệp và PTNT
Cấp huyện: Theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy
định ở cấp huyện (huyện, thị xã có sản xuất nông nghiệp) có Trạm khuyếnnông huyện
Tính đến 31/12/2011, cả nước có 567 Trạm khuyến nông cấp huyện/
596 đơn vị cấp huyện, thị xã trong cả nước (đạt 95%) Trong đó tên gọi ởcác địa phương cũng khác nhau, đa số là Trạm Khuyến nông hoặc TrạmKhuyến nông - Khuyến ngư; tuy nhiên ở một số tỉnh có tên gọi khác nhưTrạm Khuyến ngư (Cà Mau); 02 tỉnh không có hệ thống khuyến nôngchuyên trách cấp huyện, mà giao cho các đơn vị khác nhau ở cấp huyệnnhư: Đà Nẵng, Quảng Nam (chỉ có bộ phận Khuyến nông thuộc Phòng
Trang 26Nông nghiệp hoặc Phòng kinh tế huyện); Hà Tĩnh giao cho Trung tâmchuyển giao khoa học công nghệ huyện và Lâm Đồng giao cho Trung tâmnông nghiệp huyện thực hiện nhiệm vụ về khuyến nông;
Tổng số cán bộ khuyến nông cấp huyện tính đến thời điểm31/12/2011 là 4.025 người, tăng 7% so với năm 2010
Mô hình quản lý Trạm khuyến nông huyện hiện nay còn chưa thốngnhất, có 20 tỉnh (chiếm 32%) Trạm Khuyến nông trực thuộc Trung tâmkhuyến nông tỉnh; có 34 tỉnh (chiếm 54%) Trạm Khuyến nông trực thuộcUBND huyện; có 5 tỉnh (chiếm 8%) Trạm Khuyến nông huyện trực thuộcPhòng Nông nghiệp huyện (Bắc Kạn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bình Định,Kon Tum); một số tỉnh còn thiếu Trạm khuyến nông như: Bình Dương: 7Trạm/ 9 huyện, Bắc Kạn: 3/8, Quảng Ninh: 9/14, Do vậy trong công táctriển khai hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng
Khuyến nông cơ sở (KNCS): khuyến nông cơ sở là tổ chức trực
tiếp, thường xuyên gắn bó với nông dân nên có vai trò đặc biệt quan trọng
- Cấp xã: Theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP, mỗi xã thuộc địa bàn khó
khăn có ít nhất 02 cán bộ khuyến nông viên cơ sở, ở các xã còn lại có ít nhất
01 cán bộ khuyến nông viên cơ sở ( KNVCS)
Tính đến 31/12/2011 tổng số KNVCS cấp xã trong cả nước là 11.232
là, tăng 21% so với năm 2010 Tuy nhiên vẫn còn 11 tỉnh chưa có mạng lướikhuyến nông viên cấp xã (Sơn La, Thái Nguyên, Hải Phòng, Phú Yên, BìnhThuận, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, TràVinh) và một số tỉnh số lượng còn chưa đủ theo quy định Nguyên nhânchính là do ngân sách địa phương còn khó khăn nên chưa bố trí được kinhphí để trả lương, phụ cấp cho KNVCS
Hiện tại, số lượng, hình thức tuyển chọn, phương thức quản lý, chế độđãi ngộ đối với đội ngũ KNVCS ở các tỉnh, thành phố rất khác nhau
+ Phương thức quản lý mạng lưới KNVCS ở các địa phương cũngkhác nhau, phần lớn các tỉnh giao cho Trạm khuyến nông huyện chỉ đạo vềchuyên môn, nghiệp vụ, UBND xã quản lý và trả phụ cấp cho khuyến nông
Trang 27viên Một số tỉnh như Lào Cai, Cà Mau,… KNVCS do tỉnh quản lý toàn diện(bao gồm cả quản lý nhiệm vụ chuyên môn, trả lương và các chế độ khác)
+ Mức trả lương và phụ cấp cũng khác nhau rất nhiều giữa các địa phương.Theo báo cáo của các địa phương, chỉ có một số tỉnh thực hiện trảlương cho cán bộ khuyến nông cấp xã theo ngạch bậc đào tạo (8/63 tỉnh:
Cà Mau, Yên Bái, Cần Thơ, Bắc Giang, Hà Giang, Sơn La, Lâm Đồng,Hậu Giang); các tỉnh còn lại trả theo phục cấp với các mức từ 100.000đ –1.000.000đ/người/tháng (cao nhất là tỉnh Gia Lai, KNVCS ở các xã vùngcăn cứ cách mạng được hưởng phụ cấp 1 triệu đồng/người/tháng; thấp nhất
là tỉnh Thái Bình, KNVCS chỉ hưởng phụ cấp 100 ngàn đồng/người/tháng);một số địa phương quy định mức phụ cấp KNVCS hưởng theo khả năngchi trả của ngân sách địa phương như Bình Định, Long An, … Nhiều nơi
do phụ cấp thấp nên KNVCS phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác củađịa phương hoặc phải tham gia làm dịch vụ và trực tiếp sản xuất để đảmbảo đời sống
- Cấp thôn: Nghị định 02 quy định cấp thôn bản có cộng tác viên
khuyến nông (CTVKN) và các câu lạc bộ khuyến nông (CLBKN)
+ Công tác viên KN: Đến thời điểm hiện nay, có 17/63 tỉnh có mạng
lưới cộng tác viên thôn, bản với tổng số 17.587 người, giảm 5% so với năm
2010 Tuỳ theo điều kiện đặc thù của địa phương, các tỉnh có thành lậpmạng lưới khuyến nông viên thôn, bản (thường là ở những tỉnh miền núi cóđịa bàn rộng, điều kiện đi lại khó khăn) Lực lượng CTVKN là cánh tay nốidài của hệ thống khuyến nông đến với nông dân Tuy nhiên, chế độ đối vớiCTVKN hiện nay cũng rất khác nhau và nhìn chung còn rất thấp từ 50.000– 332.000đ/người/tháng (thấp nhất là Bắc Giang, Hoà Bình, mức phụ cấp50.000đ/người/tháng; cao nhất là Hà Giang, Điện Biên, mức phụ cấp 0,4mức lương tối thiểu tương đương 332.000đ/người/tháng)
+ Câu lạc bộ khuyến nông (CLBKN):
Theo báo cáo của các địa phương, đến nay cả nước có 780 CLBKN
ở 4 tỉnh Sơn La, Thanh Hoá, Tiền Giang, Trà Vinh với tổng số hội viên gần20.000 người CLBKN được tổ chức dưới nhiều hình thức, nhưng phổ biến
Trang 28ở 2 hình thức cấp xã và cấp thôn, bản CLBKN là hình thức tổ chức hoạtđộng khuyên nông có hiệu quả, thu hút, tập hợp nông dân để phổ biếnthông tin và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất Tuynhiên những khó khăn mà nhiều CLBKN gặp phải hiện nay về cơ sở vậtchất kỹ thuật, địa điểm hoạt động, nguồn thông tin về KHKT mới để cungcấp cho các hội viên, kinh phí hoạt động,…
Trong những năm tới để thúc đẩy phát triển các CLBKN cần phải có
sự quan tâm của chính quyền địa phương về điều kiện cơ sở vật chất và cơchế hoạt động, sự chỉ đạo, gắn kết của hệ thống khuyến nông các tỉnh,thành phố để các CLBKN hoạt động và phát triển ổn định, bền vững
2.2.1.4 Hệ thống khuyến nông tỉnh Lào Cai
Trang 29Sơ đồ 2.4: Tổ chức trung tâm khuyến nông tỉnh Lào Cai
(Nguồn: trung tâm khuyến nông tỉnh Lào Cai)
2.2.2 Đặc điểm địa bàn xã Bản Xèo – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai
TT khuyến nông Quốc gia Sở NN &PTNT tỉnh Lào Cai
TT khuyến nông tỉnh Lào Cai
Trang 302.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình
Xã Bản Xèo là một xã vùng cao của huyện Bát Xát cách trung tâmhuyện lỵ 24km về phía Tây Bắc
- Phía Bắc giáp xã Dền Thàng, xã Cốc Mỳ
- Phía Tây giáp xã Nậm Pung
- Phía Nam giáp xã Pa Cheo
- Phía Đông giáp xã Mường Vy và Bản Vược
Xã Bản Xèo có địa hình phức tạp, thuộc vùng chuyển tiếp giữa dãy núiHoàng Liên Sơn và thung lũng sông Hồng với các dãy núi đặc trưng( dãy núi San Lùng cao 1181,3m) dãy Tây Nam cao 1256m và 1258m,dãy Đông Nam cao 1693m Là một xã có nhiều lợi thế để phát triển kinh
tế mặc dù có địa hình phức tạp ¾ diện tích của xã là đồi núi nhưng do cóđường giao thông và chợ nên là một trung tâm giao thương liên thôngvới các xã lân cận
Khí hậu
Xã Bản Xèo là một xã vùng cao của huyện Bát Xát nơi đây chịu ảnhhưởng của gió mùa Tây Bắc có khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới ẩm Do sựbiến đổi của khí hậu toàn cầu thời tiết ngày càng khắc nghiệt nên xã cũngchịu ảnh hưởng không nhỏ từ các tác động trên Ở xã có 2 mùa rõ rệt trongnăm đó là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Tuy nhiên tùy theo từng năm thì thời gian mưa nắng cũng khác nhau.Điển hình như năm nay đến gần hết tháng 5 mà thời tiết khô hạn vẫn kéodài gây ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất của nhân dân làm dân không có nước
mà sinh hoạt và sản xuất Các loại cây lúa ngô rau màu đều không thể pháttriển được
Trang 31Bảng 2.1: Tổng hợp khí hậu xã Bản Xèo năm 2010
(Nguồn: Trạm khí tuợng thủy văn huyện Bát Xát )
Nhìn chung nhiệt độ của xã giữa các tháng chênh lệch nhau rõ rệt cótháng 12 nhiệt độ tối thấp xuống 8.4(oC) trong khi đó nhiệt độ tối cao caonhất ở tháng 6 là 37.2(oC) nhiệt độ trong năm tính theo trung bình khá làmát mẻ chỉ với 18.43(oC) Thời tiết rét đậm nhất vào tháng 12,1 và tháng 2
do đó đã làm cho địa phương cấy vụ lúa chiêm muộn so với các xã kháctrong huyện
Lượng mưa trung bình trong năm 165.92 mm mưa tập trung chủ yếuvào tháng 4 cho đến tháng 8 Các tháng khác cũng có mưa nhưng ít hơn
Ẩm độ không cao trung bình 85% cao nhất vào tháng 9 (89%) vàthấp nhất vào tháng 1(80%)
Trang 32 Tài nguyên.
Đất đai
Đất nông nghiệp có tổng diện tích 176,25 ha trong đó đất trồng cây hangnăm 161,46 ha, đất trồng cây lâu năm 14,28 ha, đất nuôi trồng thủy sản2,01 ha
Đất phi nông nghiệp : 117,75 ha
Đất chưa sử dụng : 1.292,06 ha
Rừng
Diện tích tự nhiên 2.665 ha diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp 1.464
ha (trong đó diện tích đất có rừng là 1.103,8 ha, rừng tự nhiên 820,2 ha,rừng trồng 283,7 ha, đất trống là 360,2 ha)
Rừng phân loại theo 3 loại :
- Rừng phòng hộ tổng số 982,7 ha ( rừng tự nhiên 800,1 ha, rừng trồng182,6 ha, đất trống 217 ha)
- Rừng sản xuất tổng số 121,1 ha (rừng tự nhiên 20 ha, rừng trồng 101,1
ha, đất trống 143,2 ha)
Diện tích mặt nước 5,1 ha
2.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Bản Xèo là một xã thuần nông có đến 95% người dân tham gia vàohoạt động sản xuất nông nghiệp với 5 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn 7thôn Mỗi dân tộc có một phong tục tập quán riêng đã tạo nên một nền vănhóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc Ở đây có dân tộc Dao là đông nhấtchiếm 49.6%, dân tộc Giáy (38.1%), Kinh (12%), Mông (1.2%) và ít nhất
là Hà Nhì chỉ có 0.2 % Người dân tích cực lao động sản xuất nhằm nângcao đời sống của chính gia đình mình Thể hiện ở bình quân lương thựctrên đầu người ngày càng tăng Trong 3 năm qua bình quân lương thực trênđầu người tăng khá nhanh năm 2009 là 606 (kg/người/năm) đến năm 2010tăng lên 716 (kg/người/năm) tăng 18% so với năm 2009 đến năm 2011 chỉ
Trang 33tăng (741/716) 3.5% so với năm 2010 Do năm 2011 xảy ra dịch bệnh vàthời tiết biến đổi đã ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của người dân.
Theo thống kê của UBND xã thì cả xã có 1.939 người (2011) 420 hộ,mật độ dân số là : 67 người/km2 Số hộ nghèo trên địa bàn xã là 267 hộ, cậnnghèo 114 hộ, khá giầu là 39 hộ Mục tiêu nhằm xóa đói giảm giảm nghèođưa các các hộ nghèo ngày càng phát triển thoát khỏi đói nghèo là mục tiêuhàng đầu của địa phương hiện nay
Số người trong độ tuổi lao động 1014 người chiếm 52,3% trong tổng
số nhân khẩu của xã Đó là một nguồn lực lao động dồi dào nếu tận dụngtốt sẽ tạo ra nhiều lương thực thực phẩm phục vụ cho gia đình và xã hội.Tuy nhiên nguồn lao động ở xã không có chuyên môn tay nghề là rất lớn
Họ tham gia lao động trong gia đình là chủ yếu Do vậy vào những lúcnông nhàn thì lượng lao động này thường không có việc làm Vì vậykhuyến nông cần có các giải pháp nhằm tận dụng được số lao động đem lạihiệu quả cao nhất
Đánh giá thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn xã
Thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn xã qua các năm đều tăngtruởng nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi như : Giống lúa lai,giống ngô có năng suất cao được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng đưa vàosản xuất Ngoài ra còn mở rộng một số ngành nghề như: Nuôi dê hộ giađình, chế biến xay sát theo nhóm hộ, nghề mộc phục vụ tại địa phương vàcác xã lân cận Ngành nghề chăn nuôi tập trung chủ yếu ở các hộ gia đìnhvới quy mô vừa và nhỏ gắn với việc phát triển kinh tế gia đình Ngoài làngnghề nấu rựơu của dân tộc Dao tại thôn San Lùng đã được Cục sở hữu trítuệ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận năm 2007 là làngnghề truyền thống nên sản phẩm rượu đã được tiêu thụ nhanh chóng và cóthương hiệu trên thị trường.Vẫn còn nhiều sản phẩm tiêu thụ chưa có mũinhọn người dân bán không được giá và thu lại lợi nhuận thấp.[9]
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các hoạt động khuyến nông tại xã Bản Xèo – huyệnBát Xát – tỉnh Lào Cai
- Hoạt động sinh kế của người dân xã Bản Xèo – huyện Bát Xát –tỉnh Lào Cai
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm: Một số thôn tại xã Bản Xèo – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai.Thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 6/2/2012 đến ngày19/5/2012, số liệu được sử dụng trong phạm vi 3 năm ( 2009 - 2011)
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá các hoạt động khuyến nông tại địa bàn nghiên cứu
- Các hoạt động sinh kế chính của các hộ nông dân tại xã Bản Xèohuyện Bát Xát- tỉnh Lào Cai
- Những khó khăn và thuận lợi và đề ra gải pháp trong các hoạt độngsinh kế của người dân
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Thu thập số liệu sơ cấp
Các thông tin sẽ được thu thập và tổng hợp qua phiếu điều tra vàphỏng vấn trực tiếp Số lượng điều tra 60 hộ nông dân trên địa bàn 4 thôncủa xã Bản Xèo
Trang 35Bảng 3.1: Số lượng nông dân được phỏng vấn
Các đối tượng Thôn Bản Xèo 1 Thôn Nậm
3.3.1.3 Thu thập số liệu ở thực địa
Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự vật, sự kiệncác mối quan hệ trong bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp để ghinhận những gì quan sát được ở thời điểm khảo sát, quan sát
3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Các thông tin thu được qua điều tra phỏng vấn sẽ được tổng hợp trênEXCEL và xử lý số liệu bằng phần mềm Pivot Table excel 2003 Tổng hợpthành các bảng, biểu rồi đưa ra các phân tích nhận xét tổng hợp trên trangvăn bản Microsft Word,