1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Sản Xuất Và Tiêu Thụ Lạc Của Hộ Nông Dân Xã Nghi Thái, Huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Vương Thị Chi
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Huyền Châm
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: MỞ ĐẦU (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của vấn đề (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
    • 1.3. Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (16)
  • PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LẠC CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN (18)
    • 2.1. Cơ sở lý luận về sản xuất và tiêu thụ lạc (18)
      • 2.1.1. Một số khái niệm liên quan (18)
      • 2.1.3. Vai trò của sản xuất và tiêu thụ lạc (25)
      • 2.1.4. Nội dung nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ lạc (26)
      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ lạc (29)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ lạc (31)
      • 2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu lạc trên thế giới (31)
      • 2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam (34)
      • 2.2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho các hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện (37)
  • PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (38)
      • 3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên (38)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (47)
      • 3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu (47)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu (47)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích thông tin (50)
      • 3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu (51)
  • PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (54)
    • 4.1. Thực trạng sản xuất lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (54)
      • 4.1.1. Tình hình sản xuất lạc của các xã Nghi Thái (54)
      • 4.1.2. Thực trạng sản xuất lạc của các hộ nông dân điều tra (56)
    • 4.2. Thực trạng tiêu thụ lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (62)
      • 4.2.1. Tình hình tiêu thụ lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái (62)
      • 4.2.2 Tình hình tiêu thụ lạc của các hộ nông dân điều tra (63)
    • 4.3. Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất lạc của các hộ nông dân (69)
      • 4.3.1. Kết quả sản xuất (69)
      • 4.3.2. Hiệu quả sản xuất (70)
    • 4.4. Phân tích các yếu tố ảnh tới sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (71)
      • 4.4.1 Các yếu tố bên trong hộ (71)
      • 4.3.2. Các yếu tố bên ngoài hộ (77)
      • 4.3.3. Phân tích SWOT trong sản xuất và tiêu thụ lạc tại xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (81)
    • 4.5. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (83)
      • 4.5.1. Giải pháp về thúc đẩy sản xuất lạc (83)
      • 4.5.2 Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ (84)
  • PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (87)
    • 5.1. Kết Luận (87)
    • 5.2 Kiến nghị (88)
      • 5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước (88)

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  VƯƠNG THỊ CHI THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LẠC CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ NGHI THÁI, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP HÀ NỘI 2021 HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LẠC CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ NGHI THÁI, HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN Họ và tên Vương Thị Chi Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp Lớp K63 KTNNA Niên khóa 2018 2022 Gi.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LẠC CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN

Cơ sở lý luận về sản xuất và tiêu thụ lạc

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

Sản xuất là quá trình kết hợp và điều chỉnh các yếu tố đầu vào, bao gồm tài nguyên và các yếu tố sản xuất, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997).

Sản xuất là quá trình kết hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào như lao động, đất đai, máy móc, vốn và nguyên liệu để tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ Đầu vào của sản xuất được tính theo giá trị thị trường và bao gồm các chi phí như tiền thuê nhà, thuê đất, mua nguyên liệu và chi phí lao động Kết quả của quá trình này, hay đầu ra, là các sản phẩm như lương thực, thực phẩm, rau xanh và hoa quả, nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.

Mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra trong sản xuất được thể hiện qua hàm sản xuất, phản ánh mối quan hệ kỹ thuật giữa các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra.

Trong đó: Q là sản lượng sản phẩm nhất định

X1,X2,X3, ,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất Có 2 phương thức sản xuất là:

Sản xuất tự cung tự cấp phản ánh trình độ phát triển còn hạn chế của các chủ thể sản xuất, khi mà sản phẩm được tạo ra chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu cá nhân mà không có dư thừa để cung cấp cho thị trường.

Sản xuất hàng hóa tập trung vào việc tạo ra sản phẩm chủ yếu để trao đổi trên thị trường, với quy mô lớn và khối lượng sản phẩm dồi dào Hình thức sản xuất này mang tính chuyên canh cao, dẫn đến tỷ lệ sản phẩm hàng hóa đáng kể.

Phương thức sản xuất theo hướng thị trường tập trung vào ba câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Điều này có nghĩa là sản xuất cần tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của thị trường trong mọi khâu của quá trình sản xuất Tóm lại, sản xuất là quá trình mà con người tác động vào các đối tượng sản xuất thông qua các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ phục vụ đời sống con người.

2.1.1.2 Khái niệm về tiêu thụ

Có nhiều quan niệm khác nhau về tiêu thụ, tuy nhiên bản chất của tiêu thụ sản phẩm vẫn được hiểu một cách thống nhất

Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều khâu liên kết chặt chẽ với nhau, nhằm mục tiêu cuối cùng là đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng.

Tiêu thụ sản phẩm, theo nghĩa hẹp, là quá trình chuyển hóa từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị (Dương Văn Hiểu và Nguyễn Thị Minh Thu, 2010).

Hoạt động tiêu thụ sản phẩm cần ba yếu tố chính: đối tượng thực hiện trao đổi, sản phẩm hàng hóa và tiền tệ Ngoài ra, cần có các chủ thể kinh tế như người bán, người mua và trung gian môi giới Cuối cùng, thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch trao đổi.

Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hàng hóa, vì đây là khâu cuối cùng chuyển hóa sản phẩm thành tiền Nếu sản phẩm không được tiêu thụ, nhà sản xuất sẽ không đạt được mục tiêu lợi nhuận và quá trình tái sản xuất sẽ bị đình trệ Hơn nữa, tiêu thụ sản phẩm thực hiện chức năng giá trị và tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm Đồng thời, nó cũng nâng cao vị thế của doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý, phương thức giao dịch thuận tiện và dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm bán ra, thu hút khách hàng và mở rộng thị phần.

Những nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ hàng hóa

Nhóm nhân tố thị trường bao gồm nhu cầu, cung ứng và giá cả Nhu cầu thị trường phụ thuộc vào thu nhập và cơ cấu dân cư của từng khu vực Thông thường, khi thu nhập tăng, nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo Tuy nhiên, đối với sản phẩm nông nghiệp thiết yếu, nhu cầu có thể giảm, trong khi sản phẩm cao cấp và chế biến lại có xu hướng tăng mạnh.

Công nghệ chế biến tiên tiến không chỉ nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm mà còn giúp tăng giá bán Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống giao thông, phương tiện thông tin, và kho tàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lưu thông nhanh chóng và kịp thời.

Trình độ tổ chức tiêu thụ của người sản xuất nông sản có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với các cá nhân và tổ chức để đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng Khả năng nắm bắt thông tin thị trường, kiến thức về marketing và tổ chức hệ thống tiêu thụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiêu thụ và giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp.

Nhóm nhân tố sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cây trồng và vật nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tiêu thụ sản phẩm Nếu sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, quá trình tiêu thụ sẽ diễn ra thuận lợi hơn Chất lượng và số lượng nông sản, cùng với giá thành sản xuất, sẽ quyết định giá trị sản phẩm và giá bán nông sản trên thị trường.

Chính sách vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ nông sản, với một số chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường Tuy nhiên, cũng có những chính sách, như đầu tư và tiêu dùng, cùng với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, có thể gây cản trở cho quá trình tiêu thụ (Từ Thị Thanh Hiệp, 2003).

2.1.1.3 Khái niệm kênh tiêu thụ

Cơ sở thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ lạc

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu lạc trên thế giới

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất của Lạc của một số nước trên thế giới năm 2019 Tên nước Diện tích

Nguồn: FAOSTAT số liệu thống kê 2019

Cây lạc, một loại cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia Theo FAO, hơn 100 quốc gia sản xuất lạc với tổng diện tích 29,5 triệu ha và sản lượng đạt 48,75 triệu tấn Châu Á dẫn đầu về sản xuất lạc, với diện tích trồng 11,11 triệu ha và sản lượng khoảng 27,25 triệu tấn.

Theo bảng số liệu 2.1, Ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới với hơn 4,7 triệu ha và sản lượng đạt 6,7 triệu tấn Trung Quốc đứng thứ hai với 4,5 triệu ha và sản lượng 17,52 triệu tấn Tại Châu Phi, Nigeria dẫn đầu về diện tích sản xuất lạc với 3,8 triệu ha và sản lượng 4,4 triệu tấn.

Trong những năm gần đây, năng suất và chất lượng lạc trên thế giới đã tăng lên nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, tạo ra giống lạc mới với năng suất và chất lượng cao Israel dẫn đầu thế giới về năng suất lạc với khoảng 53,12 tạ/ha, tiếp theo là Mỹ và Trung Quốc với khoảng 38,98 tạ/ha Mặc dù diện tích trồng lạc tại Israel và Mỹ không lớn, nhưng năng suất cao nhờ vào việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.

Kinh nghiệm sản xuất của một số nước trên thế giới:

Trong 20 năm qua, sản xuất lạc của Trung Quốc và thế giới đã phát triển vượt bậc, sản lượng lạc, tổng sản lượng và kim ngạch thương mại đều tăng đáng kể, sản lượng lạc và hình thức thương mại đã thay đổi rất nhiều Diện tích trồng lạc ở Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng Trong khi năng suất trên một đơn vị diện tích và tổng sản lượng đã tăng lên rất nhiều, thì việc nghiên cứu khoa học về cây lạc ở Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ, một số giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng thích ứng rộng đã được phát triển, kỹ thuật trồng trọt đã được chứng minh và mở rộng Trung Quốc đã trồng 4.633,5 nghìn ha lạc trong năm 2019, tăng 138.000 ha so với năm 2018 Sản lượng đậu phộng của Trung Quốc năm 2019 là 17,52 triệu tấn, tăng 1,08% so với 17,332 triệu tấn của năm 2018 Ở Trung Quốc hiện nay các giống có tiềm năng năng suất cao tới 7,5 tấn /ha được trồng phổ biến như: Haihua1, XuZhou 68-4, Hua

37, Luhua 9,11,14 Đây là những giống được đưa ra sản xuất đại trà Còn các giống chất lượng cao có giá trị xuất khẩu như Baisha 1016, Hua 11,17, Luhua

10, 8130 đang được sản xuất ở vùng thâm canh cao.

Chính sách của Trung Quốc về sản xuất lạc tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu trong nước hiện tại và tương lai Nhiều biện pháp đã được triển khai để tăng diện tích và năng suất lạc hàng năm, bao gồm trồng xen, thâm canh, và cải thiện hệ thống thủy lợi Ngoài ra, việc giảm giá thuê đất cũng khuyến khích phát triển các trang trại quy mô lớn Những đầu tư vào sản xuất lạc đã góp phần đáng kể vào sự gia tăng diện tích, năng suất và sản lượng lạc của Trung Quốc trong những thập kỷ qua.

Ấn Độ là quốc gia có diện tích sản xuất lạc lớn nhất thế giới, xuất khẩu lạc sang hơn 50 quốc gia Nước này được chia thành 5 vùng trồng lạc và có 29 trung tâm thử nghiệm thuộc mạng lưới Phối hợp các Dự án Nghiên cứu Ấn Độ (AICRP), chủ yếu tập trung ở các bang Bihar, Orissa, Uttar Pradesh, Uttarakhand và Delhi, chiếm hơn 50% tổng diện tích trồng lạc Các dự án phối hợp nhằm cải tiến giống lạc với mục tiêu phát triển và phổ biến các giống có nền di truyền tốt hơn, công nghệ sản xuất và bảo vệ thực vật Một số giống lạc phổ biến được trồng tại Ấn Độ bao gồm CG8 (ICGV-SM 08501), CG9 (ICGV-SM 08503) và CG10 (ICGV-SM).

Kể từ khi Chính phủ Ấn Độ thực hiện cải cách chính sách vào năm 1980, đã có những thay đổi tích cực trong quản lý cây trồng của nông dân, đặc biệt là trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất phụ thuộc nước trời Chính phủ đã triển khai các chính sách nhằm đảm bảo lợi ích từ cải thiện giống cây trồng được chia sẻ rộng rãi, bao gồm hỗ trợ đầu vào để giảm chi phí áp dụng giống mới và phân bón Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thủy lợi giúp giảm thiểu rủi ro sản xuất trong điều kiện dễ bị hạn hán, cùng với các sáng kiến phát triển thị trường giúp nông dân quy mô nhỏ tiếp cận thị trường ổn định và đáng tin cậy, hướng tới xuất khẩu.

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam

Cây lúa là cây trồng chủ lực trong nông nghiệp, nhưng cây lạc cũng đóng vai trò quan trọng không kém, đặc biệt ở vùng nhiệt đới bán khô hạn như Việt Nam với khí hậu biến động và canh tác khó khăn Sản phẩm từ lạc rất đa dạng, bao gồm dầu lạc, khô dầu và thức ăn chăn nuôi, phục vụ cho cả nông nghiệp và công nghiệp chế biến Cây lạc được trồng rộng rãi từ Bắc đến Nam với quy mô lớn, góp phần tạo ra giá trị xuất khẩu đáng kể.

Giai đoạn từ năm 2017 đến 2019, diện tích sản xuất lạc tại Việt Nam có xu hướng giảm dần Cụ thể, năm 2017, diện tích đạt 196,60 nghìn ha, nhưng đến năm 2018, diện tích trồng lạc giảm xuống còn 185,70 nghìn ha, tương ứng với mức giảm 10,9 nghìn ha hay 5,5% Đến năm 2019, diện tích trồng lạc tiếp tục giảm xuống còn 176,80 nghìn ha, giảm 8,9 nghìn ha, tương đương 4,8% so với năm trước đó.

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất của một số cây hàng năm ở Việt Nam

Lúa 7.705 427381 7503,90 44046 7469,50 43.495 Lạc 196,60 459,60 185,70 457 176,80 442,60 Mía 281,00 18356,40 269,30 17945 235,30 15.685 Ngô 1099,50 5109,60 1032,90 4874 986,70 4731 Đậu

Tương 68,40 101,70 53,30 80,80 49,50 77,30 (Nguồn: Tổng cục thống kê 2019)

Tiềm năng nâng cao năng suất lạc ở Việt Nam rất lớn, với nghiên cứu cho thấy việc gieo trồng giống mới kết hợp với các biện pháp canh tác tiên tiến có thể đạt năng suất lên tới 4-5 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất đại trà Sự áp dụng rộng rãi các kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất không chỉ góp phần tăng năng suất mà còn nâng cao sản lượng lạc, phù hợp với chiến lược phát triển cây lấy dầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Sản xuất lạc ở Việt Nam hiện vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ và thủ công, từ khâu trồng trọt đến thu hoạch và chế biến Điều này cản trở việc hình thành các vùng sản xuất tập trung và chuyên canh quy mô lớn, do thiếu tổ chức nhà nước hoặc cá nhân đứng ra đảm bảo đầu ra cho sản phẩm Hơn nữa, hoạt động xúc tiến thương mại còn yếu kém, chưa khai thác hết tiềm năng của sản phẩm lạc, dẫn đến sự phát triển không mạnh mẽ và bền vững, kém hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực.

Thị trường xuất khẩu lạc của nước ta chủ yếu là Indonexia, Singapo, Malaixia, Trung Quốc… Theo báo cáo của tổ chức lương thực thế giới năm

2019 Việt Nam xuất khẩu 1,82 nghìn tấn lạc nhân và 3,32 triệu tấn lạc vỏ, và thị trường lớn nhất của nước ta là Trung Quốc

Bảng 2.3.Tình hình xuất khẩu lạc của Việt Nam

Nguồn: FAOSTAT số liệu thống kê 2019

Kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ lạc của một số địa phương ở Việt Nam

Thanh Hóa là một trong năm tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất cả nước, với sản lượng hàng năm vượt qua 29.000 tấn, trong đó một phần được xuất khẩu.

Trong những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa đã mạnh dạn triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển cây lạc, với sản lượng ước đạt từ 5.000 tấn đến 7.000 tấn, tương đương 5,0 - 6,5 triệu USD Các giống lạc mới như L08, L12, L14, L18, L23, L24, L26, MD7 và TB25 cùng với những tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lạc Chính sách hỗ trợ đầu tư vào vùng nguyên liệu, tập huấn chuyển giao kỹ thuật canh tác, và đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lạc nhân là những biện pháp quan trọng để cải thiện hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lạc tại tỉnh Thanh Hóa.

Theo thống kê, tỉnh Bắc Giang có diện tích trồng lạc khoảng 9.825 ha, với sản lượng đạt trên 25.400 tấn vào năm 2019 Diện tích này tập trung chủ yếu tại hơn 30 xã, thị trấn thuộc các huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang và Lục Nam Lạc không chỉ được trồng để làm thực phẩm và chế biến, mà còn chủ yếu cung cấp giống cho vụ xuân của địa phương và các tỉnh miền Trung Để đạt năng suất cao, Bắc Giang đã triển khai các chiến lược rõ ràng từ sản xuất đến tiêu thụ, bao gồm việc chọn giống, kỹ thuật trồng, và sự hợp tác với doanh nghiệp trong việc đầu tư phân bón và hướng dẫn chăm sóc lạc Nông dân được hỗ trợ về điều tiết nước, phòng trừ sâu bệnh và được thu mua với giá cao, tạo sự tin tưởng và yên tâm trong sản xuất.

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho các hộ nông dân xã Nghi Thái, huyện

Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, về sản xuất và tiêu thụ lạc

Qua nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở một số quốc gia và địa phương trong nước, có thể rút ra bài học cho xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Đầu tiên, cần phát huy lợi thế quy mô bằng cách hình thành các vùng chuyên canh tập trung, nâng cao tỷ suất hàng hóa, học hỏi từ kinh nghiệm của Trung Quốc Đồng thời, đầu tư đồng bộ vào công nghệ bảo quản và chế biến để nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm Thứ hai, cần có chính sách khuyến khích tài chính, đầu tư và thuế cho người sản xuất; lựa chọn giống lạc có thời gian sinh trưởng trung bình, khả năng phát triển tốt, chịu sâu bệnh và năng suất cao.

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Xã Nghi Thái nằm phía Đông Nam của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Xã Nghi Phong nằm ở phía Bắc, xã Phúc Thọ ở phía Đông Bắc, xã Hưng Lộc ở phía Tây và xã Hưng Hòa ở phía Nam, tất cả đều thuộc thành phố Vinh Vị trí của xã cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 7,5 km, nằm giữa thành phố Vinh và Thị xã Cửa.

Xã Nghi Thái nằm trong vùng đồng bằng, có điều kiện thuận lợi cho giao lưu và mua bán hàng hóa Địa hình chủ yếu là đất cát biển với độ cao từ 1,5 – 5,0m, tạo nên vùng đất màu mỡ và giàu dinh dưỡng, rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp.

3.1.1.2 Khí hậu, thời tiết, thủy văn và tài nguyên a Khí hậu, thời tiết

Khí hậu mang đặc trưng của vùng khí hậu đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều

Khu vực này có hai mùa rõ rệt với biên độ nhiệt độ chênh lệch cao Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, với nhiệt độ trung bình dao động từ 23,5 đến 24,5℃, đặc biệt tháng 7 là tháng nóng nhất, có thể đạt đến 40℃ Ngược lại, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 19,5 đến 20,5℃, và có những thời điểm nhiệt độ giảm xuống thấp nhất chỉ còn 10,2℃.

Chế độ mưa tại khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900mm, với mức cao nhất đạt khoảng 2.600mm và thấp nhất là 1.100mm Mưa thường tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, thời điểm dễ xảy ra lũ lụt Ngược lại, từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa rất thấp, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa cả năm.

Chế độ gió tại huyện Nghi Thái có hai hướng chính: gió mùa Đông Bắc từ vùng Sibia và Mông Cổ, thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4, và gió Đông Nam mát mẻ từ biển Đông, hoạt động từ tháng 5 đến tháng 10 Ngoài ra, gió Tây Nam (gió Lào) cũng ảnh hưởng đến khu vực này, mang theo thời tiết khô nóng, đặc biệt vào các tháng 6, 7, 8, gây hạn hán và ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Khí hậu nơi đây có biên độ nhiệt lớn giữa các mùa, với mưa tập trung vào mùa bão từ tháng 8 đến tháng 10, trong khi mùa nắng nóng lại chịu ảnh hưởng của gió Lào khô hanh.

Nghi Thái sở hữu một hệ thống sông, hồ và đầm phong phú, nổi bật là Sông Cả với diện tích lưu vực 27.200 km² và tổng lượng nước 21,90 km³, có lưu lượng trung bình năm 688 m³/s Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, trùng với mùa mưa, cung cấp 74-80% tổng lượng nước hàng năm Điều kiện khí hậu và thủy văn tại Nghi Thái rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa vật nuôi và cây trồng, cũng như thâm canh tăng vụ Hệ thống sông ngòi và ao hồ không chỉ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt mà còn điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và thúc đẩy phát triển bền vững.

3.1.2 Đặc điểm về kinh tế, xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018-2020) Chỉ tiêu

Tổng diện tích đất tự nhiên là 938.100 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 540,12 ha (57,58%) Đất trồng cây hàng năm là 496,5 ha, chiếm 91,92% tổng đất nông nghiệp, trong khi đất trồng cây lâu năm chỉ chiếm 23,12 ha (4,66%) Diện tích đất nuôi trồng thủy sản đạt 20,5 ha (3,80%), tăng trưởng 118,40% so với năm trước Đất phi nông nghiệp chiếm 363,98 ha (38,80%), bao gồm đất thổ cư 255,3 ha (70,14%) và đất phi nông nghiệp khác 108,68 ha (29,86%) Cuối cùng, diện tích đất chưa sử dụng là 33,9 ha, không thay đổi so với các năm trước.

Đất đai là tư liệu sản xuất thiết yếu trong nông nghiệp, không thể thay thế Nó gắn liền với hoạt động sản xuất của con người và đóng vai trò quyết định đến năng suất cây trồng.

Theo số liệu năm 2020, tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 938 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 527,24 ha Cụ thể, đất trồng cây hàng năm chiếm 474,05 ha (56,21%), đất trồng cây lâu năm chiếm 25,78 ha (4,89%), và diện tích nuôi trồng thủy hải sản chiếm 27,42 ha (5,2%).

Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm 376,85 ha hay 40,17% diện tích đất tự nhiên toàn xã Diện tích chưa sử dụng chiếm 33,9 tương đương 0,04% diện tích đất tự nhiên

Trong những năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp đang giảm, chủ yếu do sự thu hẹp diện tích trồng cây hàng năm Nguyên nhân chính là do chính sách đồn điền đổi thửa và quy hoạch đất đai, dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang ao đầm và nuôi cá Mặc dù vậy, đất phi nông nghiệp có sự gia tăng nhẹ do phát triển cơ sở hạ tầng và sự gia tăng dân số tại địa phương.

3.1.2.2 Dân số và lao động

Bảng 3.2 Cơ cấu dân số và lao động của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018 – 2020)

Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 So sánh (%)

(%) 19/18 20/19 BQ Tổng số hộ Hộ 2843 100,00 2878 100,00 2925 100,00 101,23 101,63 101,43

Hộ phi nông nghiệp Hộ 1333 46.89 1357 47.15 1380 47.18 101.80 101.69 101.75

Tổng số nhân khẩu Người 9412 100,00 9498 100,00 9536 100,00 100,91 100,40 100,66

Khẩu nông nghiệp Người 5740 60,99 5762 60,67 5773 60,54 100,38 100,19 100,29 Khẩu phi nông nghiệp Người 3672 63,97 3736 64,84 3763 39,46 101,74 100,72 101,23

Tổng số lao động Người 5520 100,00 5679 100,00 5713 100,00 102,88 100,60 101,73

LĐ phi nông nghiệp Người 2610 47,28 2244 39,51 2246 39,31 85,98 10,.09 92,77

Nguồn Thống kê UBND Xã Nghi Thái

Dân cư xã Nghi Thái được chia thành 11 xóm Theo số liệu đến năm 2020 tổng dân số trên địa bàn xã là 2925 hộ với 9536 nhân khẩu

Theo số liệu từ bảng 3.2, số hộ trên địa bàn đã có sự biến động nhẹ, với năm 2019 tăng 35 hộ, tương ứng với mức tăng 1,17% so với năm 2018 Năm 2020, số hộ tiếp tục tăng thêm 43 hộ, đạt mức tăng 1,16% so với năm 2019 Hiện tại, hộ nông nghiệp chiếm 52,82% tổng số hộ trong xã, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng giảm dần.

Dân số xã Nghi Thái trong những năm gần đây có tăng nhẹ, năm 2019 tăng

Số người dân tại xã đã tăng 86 người, tương đương 0,91% so với năm 2018 Đến năm 2020, số lượng dân cư tiếp tục tăng thêm 68 người, tương ứng với mức tăng 0,40% Trung bình, tỷ lệ tăng dân số đạt 0,66% Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là do có nhiều hộ gia đình tách ra và tỷ lệ sinh vượt hơn tỷ lệ tử.

Lao động tại xã Nghi Thái đã tăng trưởng qua các năm, với dân số chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Năm 2020, tổng số lao động trong độ tuổi là 5.713 người, trong đó có 3.148 người đã qua đào tạo Điều này cho thấy Nghi Thái sở hữu lực lượng lao động dồi dào, khi tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm 58,64% tổng dân số.

2020 lao động phi nông nghiệp có tốc độ tăng bình quân khá cao là 2,16% Trong khi đó lao động nông nghiệp có sự tăng nhẹ 0,083%

3 1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng a Giáo dục và đào tạo

Trên địa bàn xã, có 3 ngôi trường gồm trường Mầm non, Tiểu học và THCS, tất cả đều được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy học Chất lượng giáo dục đang được cải thiện với sĩ số duy trì ổn định, trình độ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn 100% Tỷ lệ chuyển lớp và chuyển cấp đều đạt 100%, cùng với việc huy động trẻ 5 tuổi đến trường cũng đạt 100% Trường Mầm non và Tiểu học đã đạt chuẩn Quốc gia mức độ II.

Xã đã thực hiện hiệu quả các chương trình y tế quốc gia và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân Hằng năm, xã tổ chức khám và tiêm vắc xin phòng bệnh cho trẻ em, đồng thời tổ chức hai đợt hiến máu nhân đạo, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng Để nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe, xã đẩy mạnh tuyên truyền về vệ sinh, phòng chống dịch bệnh và thường xuyên kiểm tra an toàn thực phẩm trên địa bàn.

Phương pháp nghiên cứu

3 2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Nghi Thái, xã thuộc huyện Nghi Lộc, nổi tiếng với truyền thống lâu đời trong sản xuất lạc Để nghiên cứu, chúng tôi đã chọn ba xóm có diện tích sản xuất lớn và nhiều hộ dân đã tham gia canh tác qua nhiều năm, bao gồm xóm Thái Học, xóm Thái Phúc và xóm Thái Quang.

3 2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

Để thu thập tài liệu thứ cấp, cần tìm kiếm và tập hợp thông tin từ các nguồn tài liệu chính thống đã được công bố, bao gồm báo cáo, công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí và internet Các số liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, cũng như tình hình và kết quả sản xuất lạc sẽ được thu thập từ các báo cáo của các ban thống kê, ban quản lý đất đai và hợp tác xã nông nghiệp tại xã Nghi Thái.

TT Nội dung thông tin Nguồn thu thập

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ lạc

Các loại tạp chí, các báo, các trang web… có liên quan đến đề tài

2 Đặc điểm (vị trí tự nhiên, khí hậu, đất đai, tài nguyên…) dân số, kinh tế xã hội của xã Nghi Thái

Ban thống kê, ban quản lý đất đai của xã Nghi Thái

Diện tích đất đai và đất sử dụng để sản xuất lạc tại xã Nghi Thái đã có sự biến động qua các năm Thực trạng sản xuất lạc của các hộ nông dân trong khu vực này cho thấy những thay đổi đáng kể về năng suất và phương thức canh tác Các số liệu thống kê cho thấy sự phát triển hoặc suy giảm trong hoạt động sản xuất lạc, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của người dân Việc nắm bắt thông tin này là cần thiết để cải thiện hiệu quả sản xuất và đưa ra các giải pháp hỗ trợ nông dân.

Báo cáo hàng năm của UBND xã và các đơn vị liên quan

Thông tin sơ cấp là dữ liệu chưa được công bố, thu thập qua điều tra bằng bảng hỏi, phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp các thương lái và cán bộ hợp tác xã Mục đích là để phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc tại địa phương, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này của các hộ nông dân.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành điều tra chọn mẫu bằng cách sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp, tập trung vào 60 hộ sản xuất lạc tại xã Các hộ được lựa chọn từ 3 xóm khác nhau, dựa trên các tiêu chí như diện tích sản xuất và sản lượng lạc trên mỗi sào, nhằm thu thập thông tin chi tiết về tình hình sản xuất lạc trong khu vực.

Phiếu điều tra được thiết kế nhằm thu thập thông tin tổng quát về nhân khẩu, lao động, giới tính, độ tuổi, cũng như các chỉ tiêu liên quan đến sản xuất lạc, bao gồm chi phí đầu tư sản xuất, các yếu tố tác động đến quy trình sản xuất và sản lượng thu hoạch.

Phiếu điều tra khảo sát về tình hình tiêu thụ lạc tại xã cung cấp thông tin quan trọng về các hình thức tiêu thụ, sản lượng lạc và hiệu quả kinh tế tương ứng với từng hình thức.

Trong quá trình điều tra, việc kết hợp các phương pháp điều tra là rất quan trọng để đạt được hiệu quả cao Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ sản xuất lạc, người tiêu thụ lạc và cán bộ chuyên môn tại địa phương là chủ yếu, giúp thu thập thông tin cụ thể về tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc Bên cạnh đó, các phương pháp như quan sát thực tế và lấy ý kiến từ cán bộ địa phương cũng có thể được áp dụng để nâng cao chất lượng thông tin thu thập.

Phương pháp khảo sát Nội dung khảo sát

Hộ nông dân 60 Phỏng vấn bằng phiếu

+ Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của mỗi hộ, mỗi giống, heo kĩ thuật canh tác khác nhau

+ Các khoản chi phí sản xuất, giá thành, giá bán ở mỗi hộ qua mỗi năm

+ Những khó khăn, thuận lợi, nguyên nhân và ý kiến của nông dân trong sản xuất lạc

Người thu gom 5 Phỏng vấn trực tiếp

+ Giá thành, công tác bảo vệ sản phẩm sau thu hoạch; những thuận lợi, khó khăn và có định hướng trong việc tiêu thụ lạc

Hợp tác xã 1 Phỏng vấn trực tiếp

+ Nhận xét về kết quả hiệu quả sản xuất cây lạc

+Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân trong sản xuất và tiêu thụ lạc

+ Phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất và đầu ra cho cây lạc

Dựa trên cuộc khảo sát 60 hộ nông dân trồng lạc tại xã Nghi Thái, tôi đã phân loại các hộ này thành ba nhóm dựa trên quy mô diện tích đất canh tác lạc.

Bảng 3.4.Phân bố mẫu điều tra theo quy mô trồng lạc của hộ

Diễn giải Diện tích Số hộ (Hộ) Tỷ lệ (%)

Hộ quy mô nhỏ Dưới 2 sào 15 25

Hộ quy mô TB Từ 2- 5 sào 35 58,33

Hộ quy mô lớn Trên 5 sào 10 16,67

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin Đối với thông tin thứ cấp:

Sau khi thu thập thông tin thứ cấp, cần phân loại và sắp xếp theo mức độ quan trọng Đối với dữ liệu số, lập bảng biểu và phân tích tài liệu dựa trên mục đích nghiên cứu Đối với thông tin sơ cấp, quy trình xử lý cũng cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Sau khi thu thập thông tin và số liệu từ kết quả điều tra, chúng được phân tổ và mã hóa dựa trên các tiêu thức thống kê Cuối cùng, dữ liệu này được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel.

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin

3.2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp này nhằm phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc Qua việc quan sát thực địa, chúng tôi đưa ra những nhận xét và đánh giá tổng quan về quá trình sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ dân trong xã.

3.2.4.2 Phương pháp phân tích so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các đối tượng trong các tổ thống kê khác nhau, từ đó đưa ra kết luận về hiệu quả sản xuất lạc qua các vụ mùa như vụ xuân, vụ thu và vụ đông Bên cạnh đó, phương pháp này còn giúp so sánh hiệu quả tiêu thụ lạc qua các hình thức khác nhau như lạc tươi, lạc khô và lạc nhân Kết hợp giữa phương pháp so sánh và phân tích số liệu, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét chính xác về thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực này trong tương lai.

3.2.4.3 Phương pháp phân tích định tính Được sử dụng trong việc phân tích các tài liệu thu thập từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Thông qua ý kiến đánh giá của hộ và cán bộ địa phương đối với tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc

Phương pháp SWOT giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lạc Phân tích các yếu tố nội bộ để tìm ra điểm mạnh và yếu, đồng thời xem xét môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và thách thức Dựa trên kết quả phân tích ma trận SWOT, các mục tiêu và phương hướng phát triển sản xuất lạc và thị trường tiêu thụ lạc tại xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An sẽ được đề ra một cách hiệu quả.

3 2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu

3.2.5.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh nguồn lực của hộ

+ Tổng số vốn dành cho sản xuất (triệu đồng)

+ Lao động bình quân/ hộ

3.2.5.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc

+ Tổng diện tích sản xuất lạc (ha)

+ Năng suất bình quân (tạ/ha)

+ Tổng sản lượng bình quân (tấn)

+ Giá bán lạc ( nghìn đồng/kg)

3.2.5.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất lạc

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 22/06/2022, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Vũ Thị Dung (2015).“Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa giống của hộ nông dân xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình”. Báo cáo thực tập tốt nghiệp, Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa giống của hộ nông dân xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Vũ Thị Dung
Năm: 2015
4. Đào Thị Mỹ Dung ( 2012 ). “ Phát triển sản xuất cây cam bù của các hộ ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất cây cam bù của các hộ ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
5. Trần Thùy Dương ( 2015 ). “Thực trạng sản xuất và tiêu thụ ổi trên địa bàn xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”. Báo cáo tốt nghiệp, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ ổi trên địa bàn xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
6. Lê Thị Hồng ( 2015). “ Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ nông dân, xã Yên Lâm, huyện Yên Lâm, tỉnh Ninh Bình”. Báo cáo tốt nghiệp, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ nông dân, xã Yên Lâm, huyện Yên Lâm, tỉnh Ninh Bình
7. Phan Thị Lan (2015), “ Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ nông dân, xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa”. Báo cáo tốt nghiệp.Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lạc của hộ nông dân, xã Tân Dân, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Phan Thị Lan
Năm: 2015
8. Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc FAO. http://www.fao.org Link
1. Số lệu thống kê về dân số, đất đai từ UBND xã Nghi Thái (2018-2020) Khác
2. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình nguyên lý kinh tế Nông Nghiệp, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu lạc trên thế giới - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu lạc trên thế giới (Trang 31)
Qua bảng số liệu 2.1 ta có thể thấy quốc gia có diệntích trồng lạc lớn nhất thế giới là Ấn Độ với trên 4,7 triệu ha, sản lượng đạt 6,7 triệu tấn - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
ua bảng số liệu 2.1 ta có thể thấy quốc gia có diệntích trồng lạc lớn nhất thế giới là Ấn Độ với trên 4,7 triệu ha, sản lượng đạt 6,7 triệu tấn (Trang 32)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất của một số cây hàng nă mở Việt Nam - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất của một số cây hàng nă mở Việt Nam (Trang 35)
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018-2020) Chỉ tiêu - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018-2020) Chỉ tiêu (Trang 40)
Bảng 3.2. Cơ cấu dân số và lao động của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018 – 2020) - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.2. Cơ cấu dân số và lao động của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018 – 2020) (Trang 42)
II. Một số chỉ tiêu bình quân - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
t số chỉ tiêu bình quân (Trang 46)
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018-2020) - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nghi Thái qua 3 năm (2018-2020) (Trang 46)
Bảng 3.4.Phân bố mẫu điều tra theo quy mô trồng lạc của hộ - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.4. Phân bố mẫu điều tra theo quy mô trồng lạc của hộ (Trang 50)
Bảng 4.2. Tình hình sản xuất lạc của xã Nghi Thái giai đoạn 2018-2020 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 4.2. Tình hình sản xuất lạc của xã Nghi Thái giai đoạn 2018-2020 (Trang 56)
Bảng 4.3 Đặc điểm chung của các hộ điều tra - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 4.3 Đặc điểm chung của các hộ điều tra (Trang 57)
b. Tình hình sản xuất lạc của hộ điều tra - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
b. Tình hình sản xuất lạc của hộ điều tra (Trang 58)
4.2.1.Tình hình tiêu thụ lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
4.2.1. Tình hình tiêu thụ lạc của các hộ nông dân xã Nghi Thái (Trang 62)
Bảng 4.6. Tình hình tiêu thụ lạc qua các kênh tiêu thụ của các hộ điều tra - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 4.6. Tình hình tiêu thụ lạc qua các kênh tiêu thụ của các hộ điều tra (Trang 64)
Bảng 4.7.Sản lượng lạc tiêu thụ của hộ điều tra năm 2021 - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 4.7. Sản lượng lạc tiêu thụ của hộ điều tra năm 2021 (Trang 65)
Bảng 4.8.Giá bán lạc bình quân của các hộ điều tra tại xã Nghi Thái - Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lạc của các hộ nông dân trên địa bàn xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Bảng 4.8. Giá bán lạc bình quân của các hộ điều tra tại xã Nghi Thái (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w