Các sản phẩm dược phẩm DMC sản xuất chủ yếu điều trị các bệnh tim mạch, hô hấp, tiểu đường, tiêu hóa, các nhóm thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau-hạ sốt, v.v.. 186 EU-GMP Japan-GMP Ti
Trang 1NGÀNH DƯỢC PHẨM Ngày 03 tháng 06 năm 2021
Chênh lệch
47.500 51.300 8,1%
Khuyến nghị THEO DÕI
Người phê duyệt báo cáo
Nguyễn Thị Kim Chi
Phó giám đốc phân tích đầu tư
Biến động giá cổ phiếu DMC và VNINDEX
Thông tin giao dịch tại ngày 03/06/2021
Giá hiện tại (VNĐ/cp) 47.500
Giá cao nhất 52 tuần (VNĐ/cp) 61.200
Cơ cấu cổ đông tại ngày 03/06/2021
Abbott Laboratories (Chile)
Tổng Công ty Đầu tư và
Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) 34,7%
THỊ PHẦN KÊNH BÁN LẺ ỔN ĐỊNH RỦI RO BỊ CHIẾM DỤNG VỐN GIA TĂNG
Chúng tôi tiến hành định giá lần đầu cổ phiếu DMC – Công ty Cổ
phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco, niêm yết trên sàn HSX
Sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, chúng tôi xác định giá trị hợp lý của một cổ phiếu DMC là 51.300 VNĐ/cp, cao hơn 8,1% so với giá đóng cửa ngày 03/06/2021 Chúng tôi khuyến nghị THEO DÕI đối với cổ phiếu DMC cho mục tiêu dài hạn Nhà đầu tư có thể xem xét mua cổ phiếu DMC ở mức giá 42.800 VNĐ/cp, tương ứng mức sinh lời kỳ vọng 20%
LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ
► Thị phần DMC ở kênh bán lẻ cải thiện từ 2,4% (2015) lên
3,0% (2020) nhờ (i) hệ thống phân phối tập trung ở các khu vực đông dân trên cả nước và (ii) chính sách bán hàng linh hoạt cho cả khách hàng mới và khách hàng tại các vùng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 Kênh bán lẻ là kênh phân phối chính của DMC, tỷ trọng doanh thu chiếm khoảng 90,6% doanh thu sản xuất
► Cơ cấu tài chính an toàn DMC hầu như không vay nợ và
không phải trả lãi vay Tổng nợ chỉ chiếm 10,1% tổng tài sản DMC, chủ yếu gồm các khoản phải trả nhà cung cấp
► Tỷ lệ chi trả cổ tức ổn định ở 35-50% lợi nhuận sau thuế RỦI RO ĐẦU TƯ
► Rủi ro bị chiếm dụng vốn bởi khách hàng, gồm một số nhà
phân phối trung gian và công ty thành viên của Abbott Tỷ trọng khoản phải thu tăng từ 31,0% (2015) lên 51,7% (2020) tổng tài sản; số ngày phải thu tăng lên 184,7 ngày (2020)
► Rủi ro thanh khoản: Tỷ lệ free-float của DMC là ~13,6%; khối
lượng giao dịch trung bình trong Q1 2021 ở ~50.000 cp/ngày
YẾU TỐ CẦN THEO DÕI
► Tiến độ nâng cấp tiêu chuẩn sản xuất của DMC từ
WHO-GMP lên Japan-WHO-GMP và PIC/s-WHO-GMP nhằm mở rộng thị trường đấu thầu và xuất khẩu Tuy nhiên, DMC chưa công bố vốn đầu tư và thời gian hoàn thành dự kiến
► Tiến độ tiếp nhận chuyển giao 10 sản phẩm từ Abbott, được
kỳ vọng hỗ trợ DMC mở rộng danh mục sản phẩm và cải thiện biên lợi nhuận Do thời gian đăng ký kéo dài, các sản phẩm vẫn chưa được công bố
Trang 2I TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP
1 Lịch sử hình thành
1980 Tiền thân là Trạm Vật tư Sửa chữa Thiết bị Y tế, chuyên sản xuất, thu mua,
cung cấp và sửa chữa các thiết bị, dụng cụ y tế
1993 Bắt đầu sản xuất dược phẩm, tập trung vào mảng tân dược
2001 Bắt đầu xuất khẩu dược phẩm sang Myanmar và Philippines
2004 Chính thức đổi tên thành CTCP Xuất nhập khẩu Y tế Domesco
2006 Niêm yết trên Sở GDCK TP Hồ Chí Minh (HSX: DMC)
2011 CFR International SpA (Chile) trở thành cổ đông chiến lược của DMC, hỗ trợ
nghiên cứu, phát triển sản phẩm, chuyển giao công nghệ
2017 Được CFR chuyển giao vốn cho Abbott Laboratories, DMC trở thành thành
viên tập đoàn Abbott
2 Cơ cấu cổ đông tại ngày 03/06/2021
Cơ cấu cổ đông của DMC cô đặc với 02 cổ đông lớn có tổng tỷ lệ sở hữu 86,4% là Abbott Laboratories và SCIC
Abbott Laboratories sở hữu 51,7% DMC sau khi mua lại CFR International(1) năm 2014 và nhận chuyển giao vốn cổ phần DMC từ CFR International năm 2017 Là tập đoàn đa quốc gia với lịch sử hơn
130 năm, Abbott hoạt động rộng rãi trong ngành dược phẩm-y tế; lĩnh vực kinh doanh đa dạng trong các hoạt động nghiên cứu, sáng chế và sản xuất từ dược phẩm, thực phẩm dinh dưỡng đến thiết bị và công nghệ y tế
Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) sở hữu 34,7% cổ phần DMC DMC nằm trong danh sách thoái vốn năm 2020 của SCIC (Quyết định 105/QĐ-ĐTKDV); tuy nhiên, tính tới tháng 04/2021, chưa có thay đổi nào trong cơ cấu các cổ đông lớn của DMC
3 Ngành nghề kinh doanh
Nguồn doanh thu của DMC đến từ các hoạt động sản xuất và thương mại dược phẩm, thực phẩm chức năng và thiết bị y tế Doanh thu từ hàng tự sản xuất của DMC chiếm tỷ trọng cao ở ~62,7% doanh thu thuần năm 2020 Các sản phẩm dược phẩm DMC sản xuất chủ yếu điều trị các bệnh tim mạch, hô hấp, tiểu đường, tiêu hóa, các nhóm thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau-hạ sốt, v.v
Doanh thu từ các mặt hàng thương mại của DMC chiếm 37,3% doanh thu thuần năm 2020, đến từ việc kinh doanh các loại thiết bị y tế như khẩu trang, bộ đồ phòng dịch và dung dịch rửa tay, v.v được sản xuất bởi các đối tác như CTCP Nhà máy Trang thiết bị y tế USM Healthcare, CTCP Mỹ phẩm Sài Gòn, v.v Một số sản phẩm được DMC đặt gia công theo hình thức OEM và vẫn giữ thương hiệu DMC
cổ đông chiến lược của DMC năm 2011, đã hỗ trợ DMC trong việc phát triển sản xuất và chuyển giao công nghệ Năm 2014, Abbott trở thành công ty mẹ của CFR với tỷ lệ sở hữu hơn 99% Năm 2017, CFR chuyển giao toàn bộ vốn sử hữu tại DMC cho Abbott
51,7%
34,7%
13,6%
Cơ cấu cổ đông DMC
Abbott Laboratories (Chile) Holdco
TCT Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
(SCIC)
Khác
62,7%
37,3%
Cơ cấu doanh thu DMC (2020)
Doanh thu mảng sản xuất dược phẩm
Doanh thu mảng thương mại thiết bị y tế
Trang 3II PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1 Chuỗi giá trị
NGUYÊN LIỆU
Chi phí nguyên liệu chiếm 74,4% chi phí sản xuất
API là nguyên liệu sản xuất chính, chiếm 80-90%
chi phí nguyên liệu; nguồn cung phụ thuộc vào nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc và Ấn Độ
SẢN XUẤT
03 nhà máy sản xuất dược phẩm, 01 nhà máy sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe, 01 trung tâm sản xuất và phát triển một số sản phẩm khác như dược liệu, cồn, nước đóng chai, v.v
Tiêu chuẩn sản xuất dược phẩm đạt WHO-GMP
Trang 42 Đầu vào: Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chịu tác động từ việc nguyên liệu tăng giá
2.1 Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Nguồn: DMC, FPTS tổng hợp
Chi phí nguyên liệu của DMC chiếm tỷ trọng cao, khoảng 66,4-80,5% chi phí sản xuất trong giai đoạn 2015-2020 Trong đó, 80-90% giá trị nguyên liệu dược phẩm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, gồm API và một số tá dược
sử dụng trong hoạt động sản xuất tân dược Tương tự như các doanh nghiệp cùng ngành, phần lớn nguyên liệu của DMC có nguồn gốc ở Trung Quốc và Ấn Độ (xem thêm), nhập từ các nhà cung cấp nguyên liệu lớn như Hebei Jiheng Pharma, The United Laboratories, Zhuhai United Laboratories, Beijing Geyuantianrun Biotech (Trung Quốc), DSM Sinochem Pharma, Aurobindo Pharma (Ấn Độ) v.v
2.2 Rủi ro từ việc biến động tăng giá nguyên liệu và chính sách dự trữ nguyên liệu thấp
Nguồn: FPTS tổng hợp
DMC duy trì chính sách dự trữ nguyên liệu tương đối thấp ở mức <17% giá trị nguyên liệu sử dụng trong giai đoạn 2015-2020 (xem thêm), ước tương đương với khoảng 02 tháng sản xuất nếu không nhập nguyên liệu liên tục So với một số doanh nghiệp cùng ngành, mức
dự trữ nguyên liệu sản xuất của DMC tương đối thấp và
có xu hướng giảm
Do đó, giá vốn của DMC khá nhạy cảm với các biến động tăng giá của nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc
và Ấn Độ, đặc biệt khi nguồn cung giảm và nhu cầu một
số nguyên liệu tăng khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát trong giai đoạn 2020-2021
Cơ cấu chi phí sản xuất của DMC
Nguyên vật liệu Nhân công
Dịch vụ mua ngoài Khấu hao
Tỷ trọng giá vốn/ Doanh thu mảng sản xuất của DMC
Trung Quốc siết chặt tiêu chuẩn sản xuất API; nhà máy không đạt chuẩn đóng cửa.
=> Nguồn cung API sụt giảm.
Dịch bệnh
COVID-19 bùng phát từ Trung Quốc, nhiều nhà máy đóng cửa
do giãn cách xã hội Ấn Độ hạn chế xuất khẩu để ưu tiên nhu cầu trong nước.
=> Nguồn cung API sụt giảm, nhu cầu tăng.
Dịch bệnh COVID-19 lan rộng trên toàn cầu Ấn Độ bị ảnh hưởng nặng
=> Nhu cầu cao dẫn tới giá một
số API nhóm kháng sinh, giảm đau-hạ sốt, vitamin, v.v tăng
Trang 53 Sản xuất: Tiêu chuẩn WHO-GMP không khác biệt, không tạo lợi thế cạnh tranh
Công nghệ sản xuất dược phẩm giữa các cơ sở sản xuất ở Việt Nam ít có sự khác biệt; các dây chuyền đều được
tự động hóa, hạn chế sự tiếp xúc của con người Tiêu chuẩn sản xuất dược phẩm áp dụng ở Việt Nam được chia thành 02 nhóm chính: (i) nhóm đạt tiêu chuẩn tối thiểu WHO-GMP và (ii) nhóm tiêu chuẩn chất lượng cao như EU-GMP (Châu Âu), Japan-GMP (Nhật Bản), v.v
đạt chuẩn ở VN WHO-GMP
Tiêu chuẩn tối thiểu cho hoạt động sản xuất dược phẩm ở Việt Nam, được yêu cầu bởi Bộ Y tế Việt Nam
(Quy ết định 3886/2004/QĐ-BYT)
Chi phí thấp và thời gian xét duyệt ngắn 186
EU-GMP
Japan-GMP
Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt dược phẩm của các quốc gia Châu Âu và Nhật Bản; không phải là yêu cầu đối với các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam
Sản phẩm được đấu thầu ở nhóm 1-2 kênh bệnh viện
10
Nguồn: FPTS tổng hợp
Các dây chuyền sản xuất dược phẩm của DMC, bao gồm thuốc nhóm non-beta-lactam, penicillin và cephalosporin, đều đạt chuẩn WHO-GMP Do đó, DMC chỉ có khả năng đấu thầu ở các nhóm 3-4-5 ở kênh bệnh viện và phải cạnh tranh về giá với các sản phẩm tương đồng sản xuất bởi 186 doanh nghiệp khác trong nước
Định hướng nâng cấp tiêu chuẩn: Năm 2021, DMC công bố sẽ nâng cấp tiêu chuẩn của các dây chuyền sản xuất
từ WHO-GMP lên Japan-GMP và PIC/s-GMP của Úc Các tiêu chuẩn cao này sẽ giúp DMC tham gia đấu thầu ở các nhóm 1-2 kênh bệnh viện và mở rộng thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa công bố kế hoạch cụ thể
về vốn đầu tư và thời gian hoàn thành dự kiến Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật khi có thêm thông tin về dự án nâng cấp tiêu chuẩn dây chuyền sản xuất của DMC
4 Đầu ra theo sản phẩm
4.1 Các thuốc nhóm non-beta-lactam (2) chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu sản xuất
Nguồn: FPTS tổng hợp và ước
tính
Doanh thu từ nhóm thuốc non-beta-lactam của DMC ước chiếm tỷ trọng lớn nhất
ở mức gần 60% doanh thu mảng sản xuất dược phẩm, kỳ vọng tăng trưởng với CAGR ~3,0%/năm trong giai đoạn 2021E-2026F nhờ tăng trưởng chung của ngành Các sản phẩm chính trong nhóm non-beta-lactam của DMC chủ yếu thuộc các nhóm thuốc điều trị các bệnh tim mạch và tiểu đường như Amlodipin, Co-Dovel, Dorover, Dozidine, Domever, v.v Đây là các nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao ở Việt Nam do thói quen sinh hoạt chưa lành mạnh của người dân (xem thêm) Nhóm sản phẩm chủ lực, điều trị các bệnh tim mạch và tiểu đường, có triển vọng tăng trưởng tích cực ở Việt Nam, do (i) tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch tăng và bệnh nhân có xu hướng trẻ hóa, và (ii) số ca mắc tiểu đường tăng trưởng nhanh, các nỗ lực phát hiện và điều trị sớm dần được đẩy mạnh ở Việt Nam Thị phần các thuốc nhóm non-beta-lactam ở Việt Nam phân mảnh với sự tham gia của gần 700 doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài nước, trong đó thị phần của DMC chiếm ~0,62% năm 2020 Với hệ số sử dụng các dây chuyền sản xuất thuốc non-beta-lactam đang ở mức 60-70%, thị phần của DMC có thể đạt tối đa 01% giá trị tiêu thụ thuốc non-beta-lactam ở Việt Nam khi các nhà máy của DMC được huy động tối đa công suất trong điều kiện cơ cấu doanh thu các sản phẩm của DMC không đổi và tổng giá trị tiêu thụ thuốc non-beta-lactam cả nước giữ nguyên mức 2020
(2) Thuốc chứa beta-lactam có thành phần hoạt động chứa cấu trúc phân tử beta-lactam (amid vòng 4 cạnh), gồm 2 họ kháng sinh chính
là penicillins và cephalosporins Thuốc non-beta-lactam chỉ các nhóm thuốc tân dược không có cấu trúc phân tử trên ( xem thêm ).
Tỷ trọng doanh thu
mảng sản xuất
Non-beta-lactam Beta-lactam Khác
Trang 64.1.1 Triển vọng cho thuốc tân dược điều trị các bệnh tim mạch (3) do tỷ lệ mắc cao ở Việt Nam
Các bệnh về tim mạch hiện tồn tại ở khoảng 25% dân số Việt Nam, trong đó Bộ Y tế ước tính ~60% người bị tăng huyết áp chưa được phát hiện và ~80% chưa được điều trị Chúng tôi cho rằng các thuốc điều trị bệnh về tim mạch
sẽ có triển vọng tích cực trong dài hạn do:
Tỷ lệ người dân mắc các bệnh tim mạch có xu hướng tăng ở Việt Nam:
o Tỷ lệ người bị bệnh về huyết áp tăng từ 10% (1980) lên 27% (2009)
o Số ca bệnh nhân bị động mạch vành tăng với CAGR ~27,8%/năm trong giai đoạn 2006-2016
Người mắc bệnh về tim mạch ở Việt Nam đang có xu hướng trẻ hóa:
o Số ca nhồi máu cơ tim có xu hướng tăng với các bệnh nhân ở độ tuổi 30-35
o Tỷ lệ bị tăng huyết áp của người trên 25 tuổi đạt mức ~47%
Nỗ lực phát hiện sớm các bệnh tim mạch dần được đẩy mạnh:
o Kiến thức về nguyên nhân và dấu hiệu mắc các bệnh tim mạch được phổ biến rộng rãi
o Các chương trình khám sàng lọc bệnh tim mạch được khuyến khích, đặc biệt với người trẻ tuổi Nhiều chương trình khám sàng lọc miễn phí dành cho trẻ em được triển khai rộng rãi, giúp phát hiện bệnh kịp thời
Nguồn: WHO, Bộ Y tế, Viện Tim mạch Quốc gia, Statista, HealthData, FPTS tổng hợp
4.1.2 Triển vọng cho thuốc tân dược điều trị tiểu đường do số ca mắc tăng cao ở Việt Nam
Nguồn: Bộ Y tế, IDF, FPTS tổng hợp
Các thuốc điều trị tiểu đường có triển vọng tăng trưởng tích cực trong dài hạn, nguyên nhân do:
Tốc độ tăng trưởng số ca mắc tiểu đường ở mức cao trong khu vực: Số ca mắc tiểu đường ở Việt Nam ước tăng trưởng với CAGR 2017-2045F ở mức ~2,1%/năm, đạt 6,3 triệu ca năm 2045F, khá cao trong khu vực châu Á và
so với CAGR trung bình của thế giới (1,4%/năm)
Các nỗ lực phát hiện và chẩn đoán sớm sẽ giúp tỷ lệ người mắc bệnh được điều trị tăng Số ca được chẩn đoán
và điều trị ở Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng số người mắc (theo Bộ Y tế) Với tầm quan trọng của việc
khám sàng lọc nhằm phát hiện sớm bệnh tiểu đường dần được phổ biến rộng rãi, tỷ lệ người mắc bệnh được điều trị sẽ tăng và kéo theo nhu cầu cho các loại thuốc điều trị tiểu đường
Số ca được chẩn đoán và điều trị
Số ca chưa được điều trị
(2017-2045F)
Trang 74.2 Dư địa phát triển cho nhóm sản phẩm kháng sinh beta-lactam
Các sản phẩm beta-lactam, bao gồm các kháng sinh họ penicillin và cephalosporin, chiếm tỷ trọng doanh thu ở hơn 35% cơ cấu doanh thu sản xuất của DMC Mảng kháng sinh beta-lactam của DMC còn dư địa tăng trưởng do (i) nhu cầu sử dụng kháng sinh ở Việt Nam ở mức cao, và (ii) các chính sách siết chặt việc quản lý bán kháng sinh không qua đơn chưa đạt hiệu quả
Nhu cầu sử dụng kháng sinh ở Việt Nam ở mức cao trong khu vực và có xu hướng tăng: Giai đoạn
2005-2015, nhu cầu dùng kháng sinh penicillin và cephalosporin(4) tăng với CAGR lần lượt là 11,9%/năm và 19,1%/năm Mức độ sử dụng kháng sinh nhóm penicillin và cephalosporin ở Việt Nam đạt lần lượt 4.169 DDD/1.000 người và 3.867 DDD/1.000 người so với mức trung bình khoảng 2.361 DDD/1.000 người (đối với penicillin) và 1.286 DDD/1.000 người (đối với cephalosporin) của một số quốc gia trong cùng khu vực châu Á
Nguồn: CDDEP, IQVIA, FPTS tổng hợp
Ở Việt Nam, kháng sinh thuộc nhóm penicillin và cephalosporin chiếm khoảng ~70% tổng lượng kháng sinh sử dụng
cả nước, trong đó: kháng sinh nhóm cephalosporin tăng từ chỉ ~20% (2005) lên 33,7% (2015) lượng kháng sinh sử dụng ở Việt Nam; kháng sinh nhóm penicillin sử dụng giảm từ 40,8% (2005) xuống 36,3% (2015) lượng kháng sinh
sử dụng ở Việt Nam
Nguồn: CDDEP, IQVIA, FPTS tổng hợp
Các chính sách pháp lý siết chặt việc sử dụng kháng sinh không qua đơn chưa đạt hiệu quả cao:
WHO ước tính (i) 88-97% nhà thuốc, quầy thuốc bán lẻ bán kháng sinh không đơn, (ii) 1/3 số bệnh nhân nội trú
ở các bệnh viện được kê đơn dùng kháng sinh không theo phác đồ hợp lý, và (iii) hơn 50% số dược phẩm sử dụng ở Việt Nam là kháng sinh, cũng là loại dược phẩm phổ biến nhất được bán tại nhà thuốc và quầy thuốc
Các biện pháp quản lý thuốc kháng sinh bán qua đơn chưa đạt hiệu quả cao do (i) cơ sở bán lẻ vi phạm thường không bị phạt, (ii) thói quen tự mua thuốc khi có bệnh của người dân ở Việt Nam (xem thêm)
1.000 2.000 3.000 4.000 5.000
Trang 84.2.1 Động lực tăng trưởng chính tới từ nhóm kháng sinh penicillin
Nguồn: Global Research & Data Services,
FPTS tổng hợp
Doanh thu từ nhóm sản phẩm penicillin của DMC ước đạt 20,9% doanh thu thuần 03 loại penicillin chính của DMC, gồm Amoxicillin, Ampicillin và Sultamicillin, là các loại penicillin phổ rộng (có tác dụng với nhiều loại vi khuẩn) Các sản phẩm từ Amoxicillin như Fortamox, Moxacin, Ofmantine, v.v là các sản phẩm chính, chiếm 90,8% doanh thu nhóm kháng sinh penicillin của DMC từ các bệnh viện
Chúng tôi cho rằng đây là mảng có triển vọng tăng trưởng trong dài hạn của DMC do (i) nhu cầu tăng và (ii) nguồn cung ổn định:
Nhu cầu sử dụng penicillin tiếp tục tăng, được dự báo vượt ngưỡng 300 triệu USD vào năm 2021 ở Việt Nam; CAGR 2015-
2021 đạt 8,9%/năm
Số lượng cơ sở sản xuất penicillin trong nước ổn định với khoảng 16-18 cơ sở trong giai đoạn 2015-2020 Với nhu cầu sử dụng penicillin dự kiến tăng, thị phần penicillin của các doanh nghiệp sản xuất được kỳ vọng sẽ duy trì
4.2.2 Mức độ cạnh tranh cao ở nhóm kháng sinh cephalosporin
Nguồn: MoH, IQVIA, FPTS tổng hợp
Chúng tôi cho rằng áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất cephalosporin nội địa ngày càng cao hơn do: (i) Sự tương đồng về chất lượng sản xuất (WHO-GMP) của các sản phẩm trong nước: Ngoài ~4-5 doanh nghiệp sản xuất cephalosporin theo tiêu chuẩn cao (EU-GMP) trong nước như IMP, PME, Tenamyd, v.v., cephalosporin từ tất
cả các nhà sản xuất khác đều chỉ đạt tiêu chuẩn tối thiểu WHO-GMP yêu cầu bởi Bộ Y tế Việt Nam
(ii) Sự gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất (CAGR
2015-2020 đạt 8,2%/năm) quá nhanh so với tốc độ tăng trưởng nhu cầu sử dụng cephalosporin của khu vực(5)
(~3,6%/năm), nguyên nhân do:
Sự xuất hiện của các hoạt chất cephalosporin mới: Trong giai đoạn 2010-2020, 04 kháng sinh cephalosporin mới được chấp thuận lưu hành bởi FDA (so với 0 kháng sinh penicillin mới) Sự thương mại hóa của các kháng sinh mới được kỳ vọng trong bối cảnh hiệu quả của các kháng sinh cũ dần giảm do tình trạng kháng kháng sinh Tuy nhiên, khả năng sản xuất các kháng sinh cephalosporin mới ở Việt Nam phụ thuộc vào tình trạng bản quyền được bảo hộ của các phát minh gốc
Các lợi thế của cephalosporin so với penicillin: ổn định hơn về tính acid, được hấp thụ tốt hơn trong cơ thể, phổ kháng khuẩn rộng, hoạt tính cải thiện hơn trên các vi sinh vật kháng thuốc, khả năng gây dị ứng thấp hơn (theo
Đại học Dược Vignan - Ấn Độ)
4.3 Thực phẩm chức năng: Danh mục sản phẩm hạn chế; áp lực cạnh tranh cao do thị phần phân mảnh
Doanh thu từ nhóm thực phẩm chức năng chỉ chiếm 1,0-1,5% doanh thu thuần của DMC Thực phẩm chức năng là nhóm sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao và có triển vọng tăng trưởng tốt nhờ xu hướng già hóa của dân số và mức
độ quan tâm tới sức khỏe của người dân tăng Tuy nhiên, doanh thu từ nhóm thực phẩm chức năng của DMC còn thấp do (i) danh mục sản phẩm hạn chế và (ii) áp lực cạnh tranh cao với các nhóm sản phẩm hiện tại
Số nhà máy sản xuất penicillin và
cephalosporin ở Việt Nam
Nhà máy penicillin Nhà máy cephalosporin
Trang 9 Danh mục sản phẩm hạn chế: Hiện DMC chỉ sản xuất khoảng 15 loại thực phẩm bảo vệ sức khỏe, chủ yếu gồm các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên như đông trùng hạ thảo, tỏi, trà xanh, dầu cá, v.v Danh mục sản phẩm chủ yếu tập trung ở nhóm hỗ trợ tuần hoàn máu (Dorocan, Dosaka, v.v.) và đường ăn kiêng (Aspamic, Herbal Sweet, Slimsweet)
Áp lực cạnh tranh trong mảng thực phẩm bảo vệ sức khỏe tương đối cao do thị phần phân mảnh với sự tham gia của nhiều nhà sản xuất trong nước và nước ngoài
Nguồn: FPTS tổng hợp
Triển vọng mở rộng danh mục sản phẩm nhờ Abbott: DMC thông báo về việc được Abbott chuyển giao 10 sản
phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe, tuy nhiên, chưa có thông tin về việc thương mại hóa các sản phẩm này trong năm 2021 Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật về triển vọng mảng thực phẩm bảo vệ sức khỏe khi có thêm thông tin
4.4 Hàng thương mại: cơ hội ngắn hạn từ nhóm sản phẩm phòng dịch trong bối cảnh dịch bệnh
Doanh thu từ nhóm hàng thương mại của DMC đạt 547,8 tỷ đồng, tỷ trọng tăng từ 25,1% (2019) lên 37,3% (2020) doanh thu thuần Các sản phẩm chủ yếu gồm các mặt hàng mang thương hiệu DMC nhưng được sản xuất dưới hình thức OEM(6) như khẩu trang và bộ đồ phòng dịch(7)
Nguồn: GDC, FPTS tổng hợp
Nhu cầu cho khẩu trang và bộ đồ phòng dịch vẫn cao trên thế giới do dịch bệnh COVID-19 vẫn có những diễn biến phức tạp tại các quốc gia như Ấn Độ và Brazil Tuy nhiên, với việc các loại vắc-xin đang dần được thương mại hóa trên toàn cầu, chúng tôi cho rằng triển vọng ở mảng kinh doanh khẩu trang và bộ đồ phòng dịch của DMC chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn trong 02-03 năm tới Việc thuê cơ sở vật chất để sản xuất của DMC giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia cũng như rút khỏi những cơ hội ngắn hạn, vốn không phải là lĩnh vực sản xuất cốt lõi của doanh nghiệp
(6) OEM (Original Equiment Manufacturing): hoạt động sản xuất, gia công sản phẩm cho DMC và theo thiết kế, thông số kỹ thuật và các yêu cầu của DMC, nhưng được thực hiện bởi một hoặc nhiều công ty, công xưởng khác
(7) Nắm bắt nhu cầu cho một số loại sản phẩm hỗ trợ phòng dịch COVID-19, DMC đã thuê thêm nhà xưởng và máy móc sản xuất tại TP
Hồ Chí Minh của một bên thứ ba là CTCP Trúc Quang để sản xuất khẩu trang và bộ đồ phòng dịch từ tháng 03/2020 Khả năng sản xuất của DMC dự kiến đạt 60 triệu khẩu trang/năm và 8 triệu bộ đồ phòng dịch/năm
Thị phần thực phẩm bảo vệ sức khỏe ở Việt Nam (2020E)
Korea Ginseng Corp ICA Biotech-Pharma Int'l Med ConsultingBoehringer Ingelheim Sanofi-Aventis Union Pharma
Mesa Service Laboratoire Innotech Pierre Fabre SAKhác
Sản lượng khẩu trang Việt Nam xuất khẩu
Số lượng khẩu trang % thay đổi so với tháng trước
Trang 105 Đầu ra theo kênh phân phối
5.1 Kênh bán lẻ là kênh phân phối chính; thị phần cải thiện trong giai đoạn 2015-2020
Năm 2020, doanh thu dược phẩm của DMC từ kênh bán lẻ đạt ~824,4 tỷ đồng (+2,9% yoy), chiếm tỷ trọng 90,6%
doanh thu hàng sản xuất Trong giai đoạn 2015-2020E, doanh thu dược phẩm của DMC từ kênh bán lẻ đạt CAGR
2,9%, thị phần được cải thiện từ 2,4% (2015) lên 3,0% (2020) Doanh thu dược phẩm của DMC giữ được thị phần
tốt ở kênh bán lẻ chủ yếu nhờ (i) hệ thống phân phối rộng trên cả nước, tập trung ở khu vực đông dân và (ii) sẵn
sàng thay đổi chính sách bán lẻ linh hoạt trong thời điểm dịch bệnh
Hệ thống phân phối của DMC Mật độ dân số Việt Nam 2019 Hệ thống phân phối của DMC tập trung
vào khu vực có mật độ dân số cao
DMC đặt các chi nhánh phân phối tại 10 tỉnh, thành phố Các chi nhánh phân phối của DMC tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực có mật độ dân số cao như Hà Nội, Nghệ An, TP Hồ Chí Minh Sử dụng hình thức phân phối trực tiếp, DMC phân chia các trình dược viên tiếp cận với từng khách hàng theo tuyến bán hàng Năm 2019, số lượng khách hàng đạt 21.000 nhà thuốc, quầy thuốc (+5,0% yoy); chiếm ~36,8% tổng số nhà thuốc, quầy thuốc trên cả nước
Doanh thu mảng dược phẩm của DMC
theo kênh phân phối ( * )
Kênh bán lẻ Kênh bệnh viện Xuất khẩu
Thị phần kênh OTC của DMC
Doanh thu dược phẩm DMC từ kênh bán lẻ Thị phần DMC ở kênh bán lẻ
Tỷ trọng một số chi phí bán hàng (CPBH)/Doanh thu
Chiết khấu bán hàng/Doanh thu Chi phí trình dược viên/Doanh thu
Tỷ trọng chiết khấu BH giảm do đổi chính sách khuyến mãi sang chiết khấu trực tiếp hóa đơn BH (giảm doanh thu)
Tỷ trọng chi phí cho nhân viên bán hàng giảm nhờ cắt giảm nhân sự
Dịch bệnh COVID-19 khiến tiêu thụ ở kênh bán lẻ giảm 3,1% năm 2020 CPBH tăng do để duy trì thị phần, DMC (i) tăng cường tiếp thị và tặng quà cho khách hàng hiện hữu và (ii) mở rộng chương trình khuyến mãi cho khách hàng mới tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi giãn cách xã hội như Hải Dương
Trang 115.2 Thị phần DMC ở kênh bệnh viện thấp do không có lợi thế cạnh tranh
Nguồn: Cục Quản lý Dược, FPTS tổng hợp
Dược phẩm đấu thầu vào kênh bệnh viện của DMC tập trung ở các nhóm thuốc kháng sinh, giảm đau-hạ sốt và thuốc điều trị các bệnh tim mạch Doanh thu từ kênh bệnh viện của DMC không ổn định và thị phần dược phẩm DMC ở kênh bệnh viện giảm từ 0,9% (2014) xuống 0,3% (Q1 2021) Nguyên nhân do (i) áp lực cạnh tranh cao về giá đấu thầu, và (ii) DMC không sở hữu lợi thế cạnh tranh ở cả mảng thuốc từ dược liệu và tân dược ở kênh bệnh viện
5.2.1 Sở hữu tiêu chuẩn sản xuất WHO-GMP; DMC gặp áp lực cạnh tranh cao về giá thầu mảng tân dược
Thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ trọng giá trị thấp ở
~28,7% tổng giá trị thuốc trúng thầu, bị giới hạn trong các nhóm thầu 3-4-5 (đối với tân dược) do tiêu chuẩn sản xuất chỉ đạt WHO-GMP (xem thêm)
Yếu tố về giá thầu (yếu tố tài chính) chiếm khoảng 70% tổng điểm thầu của mỗi loại dược phẩm Ở cùng nhóm thầu, sản phẩm có giá càng thấp sẽ có điểm tài chính càng cao và có cơ hội trúng thầu cao hơn (xem thêm)
Thị phần kênh ETC của DMC
Doanh thu dược phẩm DMC ở kênh bệnh viện Thị phần DMC ở kênh bệnh viện
Giá trị trúng thầu tân dược kênh ETC theo nhóm thầu (2019)
Trong nước Nhập khẩu
Số lượng doanh nghiệp và nhà máy
sản xuất dược phẩm trong nước
Số lượng doanh nghiệp Số lượng nhà máy
Tiêu chuẩn cao như EU-GMP, Japan-GMP
Sản phẩm chủ yếu nhập khẩu, chỉ 10 doanh nghiệp
trong nước có khả năng sản xuất
Tiêu chuẩn sản xuất WHO-GMP Sản phẩm chủ yếu từ 186 doanh nghiệp
sản xuất trong nước
Trang 125.2.2 Dược liệu không đạt WHO-GACP, DMC phải cạnh tranh về giá ở nhóm thầu thuốc dược liệu
Nguồn: Cục Quản lý Dược, FPTS tổng hợp
Ở nhóm thầu các thuốc từ dược liệu, tiêu chuẩn nguyên dược liệu đạt WHO-GACP là yếu tố quan trọng trong việc phân chia nhóm thầu (xem thêm) Năm 2020, chỉ 15/80 doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu ở Việt Nam sở hữu nguồn nguyên dược liệu đạt tiêu chuẩn WHO-GACP và đấu thầu ở nhóm 1(8) Do dược liệu của DMC không đạt chuẩn WHO-GACP nên doanh nghiệp chỉ có khả năng đấu thầu ở các nhóm 2-3 và phải cạnh tranh về giá với hơn 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu khác Thị trường phân mảnh cùng áp lực cạnh tranh cao khiến thị phần thuốc từ dược liệu của DMC chỉ chiếm <0,1% thuốc từ dược liệu trúng thầu ở các bệnh viện trong giai đoạn 2017-2020
III TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
1 Tăng trưởng doanh thu chính đến từ mảng thương mại
Giai đoạn 2015-2019, doanh thu mảng sản xuất của DMC dao động trong khoảng 1.000-1.160 tỷ đồng Tăng trưởng doanh thu thuần được đóng góp nhiều từ mảng thương mại của doanh nghiệp, bao gồm hoạt động phân phối thiết
bị y tế như khẩu trang, nước rửa tay, v.v Việc này khiến tỷ trọng doanh thu mảng sản xuất của DMC giảm từ mức 82,2% (2015) xuống 74,8% (2019)
Nguồn: DMC, FPTS tổng hợp
Năm 2020, doanh thu mảng sản xuất của DMC đạt 910,2 tỷ VNĐ (-17,1% yoy), chỉ chiếm 62,7% cơ cấu doanh thu thuần, CAGR 2015-2020 giảm 2,1%/năm Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự sụt giảm của mảng kháng sinh cephalosporin: Áp lực cạnh tranh cao về giá ở kênh bệnh viện và nguồn cung kháng sinh cephalosporin tăng mạnh khiến nhiều sản phẩm nhóm cephalosporin của DMC như cefaclor, cefixim và cefuroxim không trúng thầu trong giai đoạn 2019-2020
Mảng thương mại của DMC tăng trưởng tích cực, đạt 541,8 tỷ đồng năm 2020 (+46,4% yoy), CAGR 2015-2020 đạt 19,8% Kết quả tích cực của mảng thương mại nhờ nhu cầu cao cho các sản phẩm thiết bị y tế hỗ trợ phòng dịch Covid-19 như khẩu trang, bộ đồ phòng dịch, nước rửa tay, v.v Trong bối cảnh dịch bệnh lan rộng trên toàn cầu, DMC mở rộng hợp tác, sản xuất và phân phối khẩu trang cho nhiều đối tác như Kisetsu và USM Healthcare ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, giúp doanh thu mảng thương mại tăng trưởng 46,6% trong Q1 2021 so với cùng kỳ năm 2020
(8) 15 doanh nghiệp sở hữu dược liệu đạt chuẩn WHO-GACP gồm: TRA, LDP, Thiên Dược, Dược liệu Việt Nam, DBD, NDC, Dược & VTYT Bình Thuận, OPC, Hồng Đài Việt, Nicotex Đắk Lắk, DP Tâm Bình, Tâm Phát Green, VietRap, Thiên nhiên DK, và Dược thảo Thiên Phúc.
Giá trị thuốc dược liệu trúng thầu
Thị phần nhóm thuốc dược liệu
1.600
Cơ cấu doanh thu theo sản phẩm của DMC
Doanh thu hàng sản xuất Doanh thu hàng thương mại Tỷ trọng doanh thu mảng sản xuất