tại trong Doanh nghiệp là vô cùng quan trọng bởi vì những rủi ro nội tại này thường chiếmmột tỷ trọng cao trong tổng số rủi ro mà một Doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong suốtquá trình
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ
HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
8
II – QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DỰ ÁN ĐẦU
TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
22
Trang 24.4.2 Mô phỏng 38
51CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO
TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN TẬP ĐOÀN PHÚ THÁI
II – TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN TRONG
GIAI ĐOẠN 2003-2007
65
5 Kết luận
Trang 3RỦI RO TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN TẬP ĐOÀN PHÚ THÁI
I – TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI
TẬP ĐOÀN PHÚ THÁI
78
Trang 41.1.Cơ cấu tổ chức 114
Hệ thống kiểm soát quy trình bằng phương pháp thống kê
REN (Risk exposure
number)
Đơn vị thang đo rủi ro
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
HÌNH
Hình 2.1 Lưu đồ rủi ro trong phân tích quá trình kinh doanh tại Công ty Cổ
BẢNG
Trang 6Bảng 1.1 Thang đo định tính xác suất 31
BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị rủi ro ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay Hàng loại các Doanh nghiệp khổng lồ, các tổ chức tài chính, các Ngân hàng, các quỹ đầu tư lớn trên thế giới đã lâm vào khủng hoảng, thậm chí phá sản trong thời gian qua Một trong những nguyên nhân chủ đạo chính là sự chủ quan và thiếu sót trong quá trình quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư và kinh doanh Đây là một bài học đắt giá mà các Doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng phải trả giá khi coi nhẹ việc quán triệt quản trị rủi ro trong tổ chức.
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc thực hiện quản trị rủi ro còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém hơn, công tác quản trị rủi ro chưa phổ biến, kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn chế, công cụ ứng dụng phân tích còn chưa mạnh, thậm chí trong hoạt động đầu tư, nhiều dự án còn chưa đưa quản trị rủi ro vào để thực hiện công tác đánh giá, ra quyết định
Trang 7Trong quá trình thực tập tại “Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Phú Thái”, em nhận thấy rằng: Mặc dù là một trong những Tập đoàn đầu tư và phân phối hàng đầu tại Việt Nam nhưng công tác quản trị rủi ro trong Tập đoàn còn mới ở giai đoạn tiếp cận ban đầu, chưa khoa học và hệ thống, chưa tương xứng với tầm vóc, quy mô và vị thế
dẫn đầu của Tập Đoàn Do vậy, em chọn đề tài “Thực trạng và một số đề xuất hoàn
thiện công tác quản trị rủi ro đầu tư tại Tập đoàn Phú Thái”làm chuyên đề tốt
nghiệp với mong muốn được đóng góp phần nào vào lợi ích và sự phát triển bền vững của Tập đoàn cũng như đối với hoạt động nghiên cứu quản trị rủi ro tại Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn TS Trần Mai Hương, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện đề tài trong suốt thời gian qua.
Cháu cũng xin gửi lòi cảm ơn chân thành tới các bác, các chú tại đơn vị thực tập đã hết sức tạo điều kiện và cung cấp tài liệu để cháu hoàn thành nhiệm vụ
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
I – RỦI RO VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
1 Khái niệm “Rủi ro”
Hiện nay có nhiều quan điểm về Rủi ro, tuy nhiên có thể khái quát rằng: Rủi ro gắn với khảnăng xảy ra biến cố không lường trước, biến cố mà ta hoàn toàn không biết chắc Rủi roứng với sự sai lệch giữa dự kiến và thực tế
Một số khái niệm về rủi ro:
“Rủi ro là khả năng gặp phải những mất mát, thiệt hại”.
Rủi ro này gọi là rủi ro thuần túy, chỉ đem đến những tác nhân tiêu tực, làm ảnh hưởng đếnkết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
“Rủi ro bao gồm cả mất mát và cơ hội”.
Trang 8cũng như khả năng sinh lời lớn của nó Nếu như một dự án hay một lĩnh vực kinh doanhmới có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận hơn thiệt hại mà Doanh nghiệp ước tính thì nó sẽđược Doanh nghiệp đó theo đuổi Do vậy, khi một Doanh nghiệp theo đuổi một cơ hội, mộtmục tiêu, một dự án nào đó (tiềm năng sinh lợi) thì cũng có nghĩa là Doanh nghiệp đó đangđối mặt với cả những rủi ro mất mát Nếu tách rủi ro ra khỏi hoạt động kinh doanh củaDoanh nghiệp thì quả thực là một sai lầm nghiêm trọng Rủi ro đem lại cả thiệt hại lẫn cơhội, cho nên Doanh nghiệp cần phải có cái nhìn đúng mực hơn về tầm quan trọng của côngtác quản lý rủi ro.
Biến cố tương lai là biến cố khi đó nhà quản lý không thể hoàn toàn biết chắc 100% rằng
nó có xảy ra hay không và xảy ra với mức độ như thế nào Nhà quản lý Doanh nghiệp chỉ
có thể dựa trên những cơ sở số liệu thống kê quá khứ và kinh nghiệm thực tiễn mà phântích, phán đoán về xác suất và mức độ nghiêm trọng của nó, từ đó đưa ra những biện phápquản lý phù hợp
tiêu phát triển hay cơ hội mà nguyên nhân phát sinh từ những yếu tố không lường trước hoặc nằm ngoài khả năng kiểm soát”.
Trong khi Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu phát triển thì cũng là lúc phải đối mặt vớinhững rủi ro có khả năng gây ra thiệt hại Những rủi ro này Doanh nghiệp hoàn toàn khôngchắc chắn về khả năng xảy ra cũng như nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của nó
“Rủi ro nội tại trong Doanh nghiệp là khả năng Doanh nghiệp có thể phải gánh
chịu thiệt hại trong khi đang thực hiện hoạt động kinh doanh, theo đuổi mục tiêu phát triển hoặc những cơ hội mới mà nguyên nhân phát sinh từ chính bên trong hoạt động và cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp”.
Bất kì bên trong một Doanh nghiệp nào cũng tồn tại những rủi ro nội tại: rủi ro vậnhành, rủi ro nhân sự, rủi ro tổ chức quản lý, rủi ro sai sót cá nhân, rủi ro sản xuất,… Nhữngrủi ro này xuất phát từ chính những nguyên nhân bên trong Doanh nghiệp và nó ảnh hưởngkhông nhỏ đến sự ổn định trong quá trình phát triển của Doanh nghiệp Điều Doanh nghiệpcần làm đó là có biện pháp quản lý thật nhanh chóng và hiệu quả Nâng cao chất lượngquản lý doanh nghiệp cũng là một phương thức tốt để giảm thiểu rủi ro không đáng có Nhàquản lý Doanh nghiệp thường xuyên phải làm việc và ra quyết định trong tình trạng thiếuthông tin, thiếu tài nguyên, nguồn lực và nguy cơ phải gánh chịu những rủi ro không lường
trước Do vậy, họ nhận ra rằng việc thiết lập một hệ thống cảnh báo và kiểm soát rủi ro nội
Trang 9tại trong Doanh nghiệp là vô cùng quan trọng bởi vì những rủi ro nội tại này thường chiếmmột tỷ trọng cao trong tổng số rủi ro mà một Doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong suốtquá trình hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời thiệt hại mà nó gây có ảnh hưởngxuyên suốt toàn hệ thống, gây thiệt hại không nhỏ.
Rủi ro nội tại thường được xử lý bởi những giải pháp tức thời hoặc trung hạn (nâng cao
tỷ lệ dự trữ tiền mặt nhằm đối phó với khả năng phải thanh toán các khoản nợ ngắn hạnhoặc khách hàng trả lại hàng, đòi lại tiền khi sản phẩm mới thất bại,…).Tuy nhiên có nhiềurủi ro nội tại xuất phát từ những vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp dài hạn (sự thiếu thốn về
cơ sở hạ tầng; yếu kém trong dây chuyền vận hành,… ) Hoặc những rủi ro có khả năngphát sinh do mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển dài hạn với những hoạt động ngắn hạn củaDoanh nghiệp Có thể trong ngắn hạn Doanh nghiệp ưu tiên mục tiêu tạo dựng hình ảnh,trả cổ tức cao cho cổ đông, tuy nhiên về dài hạn, việc liên tục trả cổ tức cao trong khi
Doanh nghiệp còn non trẻ sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, từ đó dẫn
đến kết quả Doanh nghiệp có thể sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro ập đến: cơ cấu tổ chức lạchậu, công nghệ lỗi lời, nhân lực già cỗi, kém năng động, … làm giảm khả năng hoạt độngcủa cả Doanh nghiệp trong dài hạn, giảm khả năng cạnh tranh, có nguy cơ dẫn đến sụp đổ
thiệt hại trong khi đang thực hiện hoạt động kinh doanh, theo đuổi mục tiêu phát triển hoặc những cơ hội mới mà nguyên nhân phát sinh từ sự bất ổn và tính biến đổi không ngừng của môi trường bên ngoài”.
Môi trường bên ngoài Doanh nghiệp luôn tồn tại những rủi ro bất khả kháng, những rủi ronằm ngoài kiểm soát và ý muốn của Doanh nghiệp, đó là những “rủi ro bên ngoài Doanhnghiệp” Những rủi ro này thường khó dự đoán và kiểm soát hơn rủi ro nội tại
2 Đặc trưng
Rủi ro có hai đặc trưng chính : tần số và biên độ
Tần số xảy ra rủi ro: là tiêu chí thể hiện rủi tần suất xảy ra rui ro
Biên độ: là tiêu chí thể hiện mức độ tác động
Tần số xảy ra rủi ro sẽ được thể hiện bằng xác suất của các biến cố còn biên độ sẽ được thểhiện bằng giá trị của các biến cố
3 Rủi ro trong hoạt động đầu tư
3.1 Khái quát về hoạt động đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các họat động nhằmthu về các kết quả lớn hơn trong tương lai Mục tiêu của đầu tư là đạt được các kết quả lớnhơn so với những hi sinh đã bỏ ra
*Dưới góc độ kinh tế học:
Trang 10Đầu tư (Investment), theo từ điển kinh tế học hiện đại của David W Pearce- thì : Thuậtngữ đầu tư được sử dụng một cách phổ biến nhất để mô tả lưu lượng chi tiêu được dùng đểtăng hay duy trì dung lượng vốn thực tế Nói một cách chính xác hơn: Đầu tư là một lưulượng chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa không phải để tiêu dùng trung gian.Các dự án đầu tư này có thể có dạng bổ sung vào cả vốn vật chất, vốn nhân lực và hang tồnkho Đầu tư là một luồng vốn với khối lượng được xác định bởi tất cả các dự án có giá trịhiện tại ròng (NPV) lớn hơn 0 hay tỉ suất lợi tức nội hoàn lớn hơn lãi suất (IRR).
Nói một cách ngắn gọn, đầu tư là sự hi sinh tiêu dùng hiện tại nhằm thu về tiêu dùng lớnhơn trong tương lai
*Dưới góc độ tài chính:
Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân, đầu tư là sự hy sinh của một cá nhântrong việc tiêu dùng hiện tại để tích lũy tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tươnglai Trong con mắt của các nhà tư vấn tài chính, đầu tư được hiểu là việc một cá nhân muatài sản với mong ước rằng tài sản đã mua được sẽ giữ vững giá trị, sau đó tăng giá và tạo ranguồn thu nhập tương ứng với mức độ rủi ro nào đó Nói một cách ngắn gọn hơn, mục tiêutài chính của cá nhân là tích lũy đồng tiền Sau khi kiếm được tiền, người ta cần cân nhắcđầu tư đồng tiền đó như thế nào để cho nó nhiều hơn trước
Một cách khái quát, đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư thu về mộtchuỗi các dòng thu nhắm hoàn vốn và sinh lời
*Dưới góc độ luật pháp:
Theo luật đầu tư 2006, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng tài sản hữu hình hoặc vôhình để hình thành tài sản tiến hành các họat động đầu tư theo quy định của luật này và cácquy định khác của pháp luật có liên quan
*Dưới góc độ nghiên cứu của môn học kinh tế đầu tư:
Đầu tư là việc chi dung vốn trong hiện tại để tiến hành các họat động nhằm làm tăngthem hay tạo ra những tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất tạo them việc làm và vìmục tiêu phát triển
Sở dĩ định nghĩa này được sử dụng trong phạm vi của môn học này vì: Nội dung chủ yếu
mà môn kinh tế đầu tư quan tâm nghiên cứu là đầu tư phát triển- loại đầu tư quyết định trựctiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kịnh tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại vàphát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN:
Khác với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, đầu tư phát triển là họat động cơ bảncủa đầu tư và chỉ có đầu tư phát triển mới trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà
Trang 11không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các thành viên trong nền kinh tế Và đầu
tư phát triển cũng chính là họat động đầu tư có tác động lớn nhất tới quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của một quốc gia
*Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường lớn:
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Quy mô vốn đầu
tư đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hớp lý, xây dựng các chính sách, quyhoạch kế hoạch đầu tư đúng đắ, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư…
Lao động cần sử dụng đòi hỏi phải trải qua công tác tuyển dụng đào tạo đãi ngộ đòi hỏimột kế hoạch định trước sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ
và quy mô lao động
*Thời kì đầu tư kéo dài:
Một dự án đầu tư gồm 3 giai đoạn cơ bản, đó là: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư vàvận hành kết quả đầu tư Trong đó thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công tới khi dự ánhoàn thành và đưa vào họat động Thời kì đầu tư càng kéo dài thì rủi ro càng lớn vì: Nó đòihỏi thời gian quản lý dự án lâu đi kèm với các nguy cơ tiềm ẩn xảy ra trong quá trình xâydựng như: an toàn lao động, pháp luật, khả năng tiếp tục huy động vốn, trượt giá…
*Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài:
Thời gian vận hành kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho tới khihết thời hạn sử dụng và loại bỏ công trình Trong suốt quá trình vận hành, các thành quảđầu tư chịu nhiều tác động tiêu cực: do hỏng hóc, trục trặc hay do chất lượng phẩm cấp sảnphẩm không còn đáp ứng với đòi hỏi của thị trường ở hiện tại Do đó, trong quá trình vậnhành kết quả đầu tư vẫn phải tiếp tục tiến hành điều chỉnh các giải pháp kĩ thuật, tài chínhcho phù hợp với những thay đổi ở hiện tại (bất kì dự án nào cũng đòi hỏi có những điềuchỉnh như vậy)
*Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường phát huy tác dụng ở ngay nơi nó được thực hiện.
Do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnhhưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng
*Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao:
Đầu tư phảt triển thường có quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư , thời gian vận hànhcác kết qủa đàu tư kéo dài…nên đầu tư phát triển có mức độ rủi ro cao Rủi ro trong đầu tư
Trang 12phát triển có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan do: nhà đầu tư quản lýkém, chủ trương đầu tư sai lầm, … , nguyên nhân khách quan do: giá nguyên liệu tăng, bất
ổn của thị trường đầu vào đầu ra, …
Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đã đầu tư là phải chấp nhận rủi ro, cho nên quản trị rủi ro làmột khâu không thể thiếu trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư pháttriển
3.2 Khái quát về dự án đầu tư
Như vậy: Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xácđịnh; Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: Dự án là những nỗ lực
có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính : (1) Nỗ lực có thời hạn; (2) Sản phẩm và dịch
vụ duy nhất
3.2.2.Đặc điểm:
Dự án có một số đặc trưng cơ bản như sau :
Dự án có mục đích, kết quả xác định: Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác
định rõ Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện Mỗinhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập Tập hợp các kết quả cụ thể của cácnhiệm vụ hình thành chung nên kết quả của dự án Nói cách khác, dự án là một hệ thốngphức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lýnhưng đều phải thống nhất các mục tiêu chung về thời gian , chi phí và việc hoàn thành vớichất lượng cao
Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn: Dự án là một sự
sáng tạo Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn : hình thành , pháttriển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc… Dự án không kéo dài mãi mãi Khi dự án kết thúc,kết quả của dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản trị dự ángiải tán
Trang 13Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo, mới lạ: Khác với quá trình sản
xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt ,
mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu nhưkhông lập lại Tuy nhiên ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy ởtính tương tự giữa chúng Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị tríkhác, khách hàng khác,… Điều ấy cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ cuả dự án
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản
lý chức năng với quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như : chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, các nhà thầu, các cơ quan
quản lý Nhà nước Tùy theo tính chất của dự án, các thành phần trên cũng khác nhau Giữacác bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ vớinhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận khônggiống nhau Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trìthường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác
Môi trường hoạt động va chạm: Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng
một nguồn lực khan hiếm của tổ chức Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổchức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực , thiết bị ,… Trong quản lý, nhiều trường hợp cácthành viên ban quản lý dự án lại có “hai chủ trương” nên không biết phải thực hiện mệnhlệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh mâu thuẫn nhau Do đó, môi trường quản lý dự
án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động
Tính bất định và độ rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và
lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu
tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao Do vậy việc
quản trị rủi ro dự án là một tất yếu khách quan cần thiết Và đây cũng là chủ đề mà
đề tài sẽ làm rõ dưới đây.
3.2.3.Rủi ro trong hoạt động đầu tư
Rủi ro trong hoạt động đầu tư là sự kiện không có trong kế hoạch có thể xảy ra, nó cóthể tích cực hoặc tiêu cực Trong quản lý các dự án đầu tư, sự thành công của các dự ánphụ thuộc khá nhiều vào khả năng dự đoán các sự kiện sẽ xảy ra Khi rủi ro là phần khôngthể dự đoán của dự án thì điều quan trọng đối với nhà quản trị là cần kiểm soát được nócàng nhiều càng tốt và tạo ra khả năng dễ dự đoán nó
Đối với bất kì một dự án nào, rủi ro luôn là một trong những yếu tố nguy hiểm và cầnphải được kiểm soát cẩn trọng Việc phát hiện ra những loại rủi ro nào và mức độ nguy
Trang 14hiểm của nó phụ thuộc rất lớn vào tầm nhìn của Nhà quản lý dự án (Project manager –PM) Cho nên việc chọn lựa PM cho một dự án là một công việc đòi hỏi phải có sự cânnhắc cẩn trọng, kỹ càng.
Rủi ro thuần túy : là rủi ro xảy ra chỉ gây ra những thiệt hại, không theo ý muốnchủ quan
* Young, Smith, Williams: Rủi ro bao gồm ba loại cơ bản: rủi ro tài sản; rủi ro nhânlực và rủi ro pháp lý
Rủi ro tài sản : là các đối tuợng có thể được lợi hoặc chịu tổn thất về tài sản hữuhình và tài sản vô hình Tài sản có thể bị ảnh hưởng, tổn thất, hư hại, giảm giá,… bằngnhiều nguyên nhân khác nhau
Rủi ro nguồn nhân lực: Là tất cả các rủi ro có ảnh hưởng đến yếu tố “con người”của tổ chức Rủi ro có thể gây ảnh hưởng, mất mát, tổn thương hoặc tử vong đối với cán
bộ nhân sự trong Doanh nghiệp
Rủi ro pháp lý: Là các rủi ro có thể gây ảnh hưởng đến Doanh nghiệp trên phươngdiện pháp luật, các chính sách, quy định, thủ tục,… do Quốc hội, Chính phủ và các cấp
Rủi ro Môi trường hoạt động
Rủi ro Quản trị nhân lực
4.1.2 Theo khía cạnh bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp
Trang 15Rủi ro bao gồm: rủi ro bên trong Doanh nghiệp và rủi ro bên ngoài Doanh nghiệp.
(Hình 1.1 Rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài Doanh nghiệp)
Trang 164.1.3 Theo môi trường hoạt động của Doanh nghiệp
Trang 17(Hình 1.2 Các loại rủi ro theo môi trường hoạt động của Doanh nghiệp)
1 Rủi ro chiến
lược
Rủi ro về mục tiêu chiến lược, các điều kiện vĩ mô, xu hướng của nền kinh tế thế giới, khu vực, quốc gia, địa phương, các chính sách chính trị, luật pháp,…
2 Rủi ro vận hành Rủi ro liên quan đến cơ cấu tổ chức, hệ thống, quy trình, công nghệ
và con người
3 Rủi ro tài chính Rủi ro liên quan đến sức khỏe tình hình tài chính Doanh nghiệp, các
biến động tỷ giá, tiền tệ, lãi suất, tín dụng,
4 Rủi ro Pháp lý Rủi ro liên quan đến pháp luật, tình hình tuân thủ các quy định, …
Trang 185 Rủi ro Xã hội Thiệt hại liên quan đến các vấn đề bất ổn trong xã hối
4.1.4 Theo phạm vi tác động
Rủi ro theo chiều dọc : rủi ro ảnh hưởng đến từng bộ phận, từng khâu của hoạtđộng đầu tư Đây là loại rủi ro có thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục đầutư
Rủi ro chung (rủi ro theo chiều ngang) : là rủi ro ảnh hưởng đến tất cả các khâu,các bộ phận cuả hoạt động đầu tư Đây là loại rủi ro không thể giảm thiểu bằng cách đadạng hóa danh mục đầu tư
4.1.5 Theo đặc tính vận động của rủi ro
Bao gồm hai loại: tĩnh và động
Tĩnh : Đơn giản, thuần túy là loại rủi ro xảy ra một cách khá đều đặn, có thể dựđoán được, mỗi lần xảy ra thường không có quá nhiều khác biệt, ít có biến đổi theochiều hướng bất lợi hơn cho Doanh nghiệp
Động : Rủi ro loại này luôn vận động và tự biến đổi, xảy ra không theo chu kỳ, ảnh
hưởng của nó khá nặng nề và khó dự đoán
Trang 19(Hình 1.3 Phân loại rủi ro theo đặc tính vận động)
4.2 Trên phương diện đầu tư
4.2.1 Theo quá trình ra quyết định đầu tư
Rủi ro được chia thành 3 loại: rủi ro trước khi ra quyết định đầu tư; rủi ro khi ra quyếtđịnh đầu tư và rủi ro sau khi ra quyết định đầu tư
Rủi ro trước khi ra quyết định đầu tư : Rủi ro thông tin : rủi ro trong trường hợp khichúng ta thu thập những thông tin không đầy đủ , không chính xác, dẫ đến xác định saibản chất sự vật, hiện tượng liên quan đến hoạt động đầu tư
Rủi ro khi ra quyết định đầu tư : còn được gọi là Rủi ro cơ hội : rủi ro trong trườnghợp lựa chọn phương án không tối ưu
Rủi ro sau khi ra quyết định đầu tư : là rủi ro khi có sự sai lệch giữa thực tế và dựkiến
Trang 20Với một hoạt động đầu tư thường có ba giai đoạn : Tiền đầu tư, đầu tư, vận hành các kếtqủa đầu tư Hai loại rủi ro đầu có liên quan nhiều đến giai đoạn tiền đầu tư Loại rủi rosau cùng thì có liên quan nhiều đến hai giai đoạn : Đầu tư và Vận hành kết quả đầu tư.
4.2.2 Rủi ro theo tiến trình lập và thực hiện dự án đầu tư
Đối với tiến trình lập và thực hiện dự án đầu tư, rủi ro có thể bao gồm: rủi ro ở pha lập
dự án (rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồnlực, rủi ro liên quan đến triển khai thực hiện dự án
*Rủi ro ở pha lập dự án :
- Rủi ro bên trong bao gồm 4 rủi ro:
+ Xác định mục tiêu không chính xác
+ Mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu không phù hợp
+ Rủi ro kỹ thuật (rủi ro nghiên cứu và đưa vào sản xuất không hợp với nhau),rủi ro công nghiệp hóa (việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường không đem lại hiệuquả)
+ Rủi ro do chưa nắm vững được quy trình phát triển và theo dõi dự án
- Rủi ro bên ngoài : 2 rủi ro :
+ Sự lạc hậu về thương mại (đánh giá sai về nhu cầu thị trường, thị trường pháttriển quá nhanh)
+ Rủi ro pháp chế : văn bản mới ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của dự án;các đạo luật chồng chéo, chưa rõ ràng,
*Rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực :
Nội dung dự báo nguồn lực dự án bao gồm : Xác định các nguồn lực cần huy động,khả năng thực tế của các nguồn lực đó
- Xác định các nguồn lực bao gồm các vấn đề :
+ Sử dụng lao động
+ Sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động, ô nhiễm môi trường
+ Thiếu hiểu biết về các nguồn lực
+ Sự không tương hợp giữa các nguồn lực được huy động
- Khả năng thực tế của các nguồn lực :
+ Công suất của máy móc thiết bị
+ Năng suất lao động của công nhân
*Rủi ro ở pha triển khai dự án:
- Phát muộn vấn đề
- Nhận thức sai vấn đề
Trang 21- Đề xuất phương án xử lý không phù hợp
Môi trường chính trị: Bao gồm tổng thể các biện pháp, chính sách, hoạt động, … củaChính phủ đến các môi trường khác cũng như trực tiếp đối với Doanh nghiệp
Hệ thống luật pháp: Rủi ro đến từ các sơ hở, bất cập, chồng chéo trong hệ thống luậtpháp, làm ảnh hưởng đến hoạt động của Doanh nghiệp
Môi trường vận hành, hoạt động của Doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động luôntồn tại những biến cố bất trắc mà Doanh nghiệp không thể lường trước được, các nhân tố
đó có thể gây ra ảnh hưởng tới quá trình hoạt động của Doanh nghiệp
Môi trường xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực, hành vi con người, cấu trúc xã hội, cácđịnh chế xã hội,
Môi trường thông tin và vấn đề nhận thức: Mất ổn định và thiếu tính chính xác trongquá trình Doanh nghiệp công bố cũng như thu thập thông tin,… Các vấn đề nhận thức củacon người thay đổi ảnh hưởng tới hoạt động Doanh nghiệp đang thực hiện
Trang 22(Hình 1.4 Nguồn gốc rủi ro)
II – QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 231 Sự cần thiết của Quản trị rủi ro đối với Doanh nghiệp
Quản lý rủi ro ngày nay được coi như là một bộ phận không thể tách rời đối với hoạt độngquản lý trong doanh nghiệp Chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủnếu thiếu đi nhiệm vụ quản lý rủi ro Những rủi ro không lường trước sẽ làm cho doanhnghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại, ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nếuDoanh nghiệp không có biện pháp đối phó hiệu quả
Đặc biệt trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay, công tác quản trị rủi ro lạicàng phải được đề cao và quan tâm hơn nữa Một trong những tác nhân quan trọng dẫn đếnkhủng hoảng kinh tế năm 2008 chính là sự chủ quan, thiếu nhạy bén và thiếu hiệu quảtrong hoạt động quản trị rủi ro của hàng loạt các Doanh nghiệp, Ngân hàng, các Quỹ đầu tư
và các tập đoàn Tài chính lớn trên thế giới Xuất phát từ chính những bài học đắt giá nhưvậy, nhiệm vụ xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro phù hợp trong Doanh nghiệp là mộtyêu cầu cấp bách và hết sức cần thiết
2 Vai trò của Quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp
Quản trị rủi ro là một bộ phận trong hệ thống quản trị của Doanh nghiệp, có vai trò trựctiếp bảo vệ Doanh nghiệp trước những biến cố không lường trước, đồng thời bổ trợ cho cáchoạt động quản trị khác của Doanh nghiệp
Hệ thống quản trị của Doanh nghiệp bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:
Quản trị chiến lược: mục tiêu, tổ chức, mô hình, định hướng, chiến lược,…
Quản trị nhân sự: tuyển dụng, bố trí nhân sự, …
Quản trị Tài chính: quá trình kiểm toán, kế toán, các hoạt động tài chính,…
Quản trị vận hành, sản xuất: quá trình vận hành, máy móc, trang thiết bị, chất lượng,thu mua nguyên vật liệu đầu vào, hàng hoá,…
Quản trị đầu ra: Phân phối, marketing, tiêu thụ,…
Quản trị thông tin: hệ thống mạng, văn bản,…
Quản trị rủi ro: Nhằm đối phó với các biến cố bất ngờ, đảm bảo cho các hoạt động củaDoanh nghiệp được ổn định, phát hiện cơ hội trong những rủi ro tiềm ẩn
Quản trị rủi ro là một khâu quan trọng, có vai trò bổ trợ vô cùng hiệu quả cho các hoạtđộng quản trị khác trong Doanh nghiệp Kết quả phân tích của Quản trị rủi ro có thể làcông cụ hữu ích cho quyết định trong các quá trình quản trị khác của Doanh nghiệp Quảntrị rủi ro không chỉ giúp cho hệ thống quản trị trong Doanh nghiệp có thể thực hiện đúngđược vai trò và nhiệm vụ của mình một cách an toàn mà còn trực tiếp bảo vệ Doanh nghiệptrước các tình huống bất trắc, giúp Doanh nghiệp phát triển một cách bền vững và ồn định
Trang 25(Hình 1.5 Vai trò hỗ trợ của Quản trị rủi ro)
3 Nội dung quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp
3.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp
Quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp là quá trình xác định, phân tích và chấp nhận hoặc hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn trong các quyết định, hành động của Doanh nghiệp Đối với Doanh nghiệp, Quản trị rủi ro là vô cùng cần thiết, nhà quản lý thực hiện phân tích và
cố gắng định lượng nguy cơ bị hại trong mỗi một quyết định, hành động từ đó có những biện pháp ứng phó phù hợp, điều chỉnh lại mục tiêu quản lý và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản trị rủi ro, dưới đây là một số khái niệm cơ bản
về quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp
Khái niệm 1: “Quản trị rủi ro là quá trình được thực hiện nhằm mục tiêu cao nhất là ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể có cho Doanh nghiệp xuất phát
từ những rủi ro trong quá trình hoạt động, kinh doanh.”
Khái niệm 2: “Quản trị rủi ro là một hệ thống các phương pháp được tiến hành nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro, tăng cường tính bền vững của các Dự án, đồng thời kiểm soát, nâng cao hiệu suất, chất lượng của sản phẩm.”
Khái niệm 3:Theo tổ chức kinh tế COSO1, quản trị rủi ro trong doanh nghiệp là: “ một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên
Trang 26quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp, thực hiện xác định những biến cố có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”
3.2 Quy trình quản trị rủi ro
3.2.1 Khái niệm quy trình quản trị rủi ro
Khái niệm: Quy trình quản trị rủi ro là một hệ thống toàn diện bao gồm tất cả các công
việc cần thiết cho việc quản trị rủi ro được sắp xếp theo trình tự, có sự tương quan tác động lẫn nhau và lặp đi lặp lại, xuyên suốt trong quá trình hoạt động, kinh doanh của Doanh nghiệp.
3.2.2 Các bước trong quy trình quản trị rủi ro
Quy trình quản trị rủi ro bao gồm ba phần cơ bản, đó là:
Nhận diện rủi ro
Phân tích, đánh giá rủi ro
Quản trị, kiểm soát rủi ro
QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO 6 BƯỚC:
Trang 27(Hình 1.6 Quy trình quản trị rủi ro)
3.2.2.1 Nhận diện rủi ro
Công việc đầu tiên của quy trình quản trị rủi ro chính là nhận diện rủi ro Đây chính là côngđoạn mà Doanh nghiệp phải rà soát, tìm kiếm các sự kiện bất trắc có thể xảy đến làm ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Tuy có đề cập đến việc rủi ro ẩn chứa
cả cơ hội bên trong nó nhưng ta cần phân biệt công tác “nhận diện rủi ro” với “tìm kiếm cơhội đầu tư” trong Doanh nghiệp Tìm kiếm cơ hội đầu tư đơn thuần là hoạt động tìm hiểutình hình thực tế, môi trường kinh doanh, nhằm tìm kiếm các lĩnh vực, khu vực, phương án
mà theo đó mang lại một lợi suất đầu tư hấp dẫn cho Doanh nghiệp Tuy nhiên, nhận diệnrủi ro lại có nét khác so với tìm kiếm cơ hội đầu tư Nhận diện rủi ro chủ yếu tập trung vàoviệc rà soát, dự báo các sự kiện bất trắc có khả năng gây phương hại đến hoạt động kinhdoanh của Doanh nghiệp Chủ thể chính của Nhận diên rủi ro là các biến cố gây thiệt hạicho Doanh nghiệp chứ không phải là các cơ hội đơn thuần Tuy nhiên trong quá trình ràsoát các tác nhân hay kịch bản gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh thì Doanh nghiệpđồng thời cũng có những nhận thức về cơ hội do các rủi ro này đem lại, từ đó đưa ra nhữngđánh giá, cân nhắc cụ thể và chi tiết hơn về tình hình thực tế
Trang 28* Khái niệm: Nhận diện rủi ro là quy trình rà soát môi trường bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp nhằm tìm kiếm rủi ro, đánh giá đặc điểm của chúng và ước đoán sơ bộ về ảnh hưởng do chúng gây ra.
* Mục đích: Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của nhận diện rủi ro chính là nhằm phát hiện các tác nhân nguy hiểm, làm tiền đề để xây dựng chiến lược, biện pháp bảo vệ cho Doanh nghiệp.
3.2.2.2 Đo lường rủi ro
a Số đo rủi ro
Rủi ro được đánh giá trên cơ sở các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Giá trị kỳ vọng (EV – The expected value)
Độ lệch tiêu chuẩn
Hệ số Bêta
Hệ số biến thiên
*Giá trị kỳ vọng (EV):
Vòng đời của một phương án đầu tư thường rất dài, có khi hàng chục năm Trong khi
đó, phương án đầu tư lại được xác định trên cơ sở những số liệu giả định, nên rất khóchính xác và không lường trước được những tình huống bất trắc sẽ xảy ra trong tươnglai Khi phân tích các phương án, chúng ta nên dự đoán những tình huống có khả năngxuất hiện trong tương lai, dự kiến các rủi ro của các tình huống đó Nếu rủi ro nảy sinh
mà phương án đầu tư vẫn có hiệu quả thì đó là một phương án vững chắc Còn trongtrường hợp ngược lại thì: hoặc phải có các biện pháp phòng chống, hoặc phải khước từ
dự án
Khi phân tích một dự án, thường có hai thái cực xảy ra :
Hoặc quá lạc quan: chỉ có những kết quả tích cực xảy ra
Hoặc quá bi quan : chỉ có những biến cố xấu xảy ra
Có hai thái cực trên đều là không khách quan Để có thể đánh giá một cách kháchquan, người ta dùng “giá trị kỳ vọng – EV”
Công thức:
EV = n i=1 ∑ Pi Xi
Trang 29Trong đó :
Pi : xác suất của biến cố i
Xi : Giá trị của các biến cố i
n : Số biến cố
Trong đó :
Pi : xác suất của biến cố i
Pj : xác suất của biến cố j, j là biến cố đều kiện của i
Xj : Giá trị của các biến cố j
m : Số biến cố điều kiện của biến cố i
n : Số biến cố mẹ
*Độ lệch tiêu chuẩn:
Độ lệch tiêu chuẩn xác định mức độ dao động xung quanh giá trị trung bình của dự án
Độ lệch tiêu chuẩn càng lớn thì mức độ rủi ro càng lớn
Công thức :
Trong đó :
Xj : giá trị của biến cố j
μ : giá trị trung bình, thường được xác định bằng EV
Pi : Xác suất của biến cố i
EV = n i=1 ∑ Pi m j=1 ∑ Pj Xj
Trang 30*Hệ số Beta:
Bêta đo lường sự biến động của dự án so với mức biến động chung của thị trường đầu
tư Theo đó, Bêta xác định mối quan hệ giữa chênh lệch thu nhập quá khứ của công ty
và thu nhập không đổi với chênh lệch quá khứ của toàn bộ thị trường và thu nhậpkhông đổi
Nếu :
Bêta < 1: Sự biến động của dự án nhỏ hơn sự biến động của thị trường đầu tư
Bêta = 1: Sự biến động của dự án bằng với sự biến động của thị trường đầu tư
Bêta > 1: Sự biến động của dự án lớn hơn sự biến động của thị trường đầu tư
*Hệ số biến thiên:
Trong các số đo rủi ro thì giá trị kỳ vọng và độ lệch tiêu chuẩn xác định mức độ rủi rotuyệt đối, còn hệ số tương quan xác định mức độ rủi ro tương đối
Công thức :
b Phương pháp định lượng rủi ro
Các phương pháp định lượng rủi ro bao gồm:
Phương pháp khai triển tổn thất
Phương pháp khai triển tổn thất dựa trên đối tượng
Phương pháp ước lượng phân phối xác suất
*Phương pháp khai triển tổn thất:
Đây là phương pháp dựa trên số liệu quá khứ để xác định “hệ số khai triển” và từ đóước lượng được “Vấn đề” đang tìm hiểu
cov = ∂/μμ
Hệ số khai triển năm i =
Trang 31*Phương pháp khai triển tổn thất dựa trên đối tượng:
Nếu như phương pháp khai triển tổn thất dựa trên thời kỳ và số vấn đề phát sinh thìphương pháp khai triển tổn thất dựa trên đối tượng được thực hiện theo từng tác nhân
cụ thể
Phương pháp ước lượng dựa trên phân phối xác suất:
Đây là phương pháp chuyên nghiệp thường được các chuyên gia sử dụng Bằng hệthống máy tính, cơ sở dữ liệu và những phần mềm chuyên dụng, các chuyên gia sẽ ướclượng được xác suất xảy ra rủi ro
Tuy nhiên mặc dù được xem là phương pháp tân tiến nhất nhưng phương pháp này vẫnkhông thể dự đoán hoàn toàn chính xác được xác suất xảy ra rủi ro
Hiếm khi Có thể tránh hay giảm thiểu rủi ro này bằng việc thực
hiện các chương trình đã được thiết lập
1-2Thấp Có thể giảm thiểu, khả năg thành công cao 3-4
Trang 32Trung bình Có thể giảm thiểu, tuy nhiên có khả năng phải thực
hiện nhiều quy trình phức tạp theo nhiều hướng khácnhau
5-6
Cao Khả năng giảm thiểu thấp, buộc phải sãn sàng đối mặt
với loại rủi ro này bất cứ lúc nào
9-10
(Bảng 1.1 Thang đo định tính xác suất)
Thang đo định tính cho mức độ nghiêm trọng:
Chi phí ước lượng vuợtchỉ tiêu từ 1-5%
3-4(Thứyếu)Giảm vừa phải thực
hiện kỹ thuật
nhưng có thể phục
hồi
Lỡ kế hoạch thứ yếu, sẽtrễ các mốc thứ yếu Cầnđiều chình tức thời
Chi phí ước lượng vượtchỉ tiêu từ 5-20%
5-6(Trungbình)
Giảm sút đáng kể
thực hiện kỹ thuật,
phục hồi khó khăn
Ảnh hưởng đến tiến độhoàn thành công việc,chương trình
Chi phí ước lượng vượtchỉ tiêu từ 20-50%
7-9(Cao)
Mục tiêu không thể
đạt đến
Chương trình bị ảnhhưởng nghiêm trọng
Chi phí ước lượng vượt cỉtiêu trên 50%
10(Nghiêmtrọng)
(Bảng 1.2 Thang đo định tính mức độ nghiêm trọng của rủi ro)
d Thang độ rủi ro
Thang độ rủi ro được các nhà quản trị rủi ro sử dụng như một tiêu chuẩn đánh giá, xếphạng rủi ro
Trước hết, nhà quản trị lập một bảng đánh giá tổn thất ước tính của rủi ro như sau:
Trang 33(Risk Name) (Chance) (Impact) tính
(Bảng 1.3 Bảng ước tính thiệt hại)
Tiếp theo, để xác lập thang độ rủi ro, nhà quản trị rủi ro xác định “REN” (Riskexposure number) cho những rủi ro phát hiện được – REN tức là đơn vị xếp hạng mức
độ thiệt hại Và “RE %” (Risk exposure % ) – tức xếp hạng theo đơn vị %
“REN” và “RE %” được tính như sau:
Thiệt hại:
E (E =
P x I)
Thang độ:
REN (Risk exposure number)
RE %
) (
) 1 (
Rn REN
R REN
x100%
+ E2(= E1 + E2)
) (
) 2 (
Rn REN
R REN
x100%
+ E3(= E1 + E2 + E3)
) (
) 3 (
Rn REN
R REN
x100%
Trang 34Tên rủi ro Xác suất
Tổn
Thay đổi công nghệ
( Bảng 1.5 Thang đo rủi ro cấp độ 1: Trưởng phụ trách quản lý rủi ro)
Bảng: Mức độ thiệt hại ước tính và thang đo rủi ro
Cấp độ: 4 (Chuyên môn): Kỹ sư vận hành
Tổn thất
Thiệt hại ước
(Risk Exposure)
(Bảng 1.6 Thang đo rủi ro cấp độ 4: Kỹ sư vận hành)
4 Phân tích, đánh giá rủi ro
Các phương pháp phân tích rủi ro thường được dùng là :
Trang 35Sơ đồ cây quyết định
Những công cụ này được sử dụng để giúp nhà quản trị phác thảo một bức tranh rõ ràng
về rủi ro mà họ đang xem xét, tuy nhiên không có một công cụ nào được xem là có thểthích hợp trong mọi trường hợp Phân tích độ nhạy và phân tích hòa vốn thì đơn giản, dễ
sử dụng và dễ giải thích về kết quả nhưng tính đơn giản lại không thể đánh giá trongviệc hiểu rõ các xác suất của những kết quả rất đa dạng Phương pháp mô phỏng và sơ
đồ cây cung cấp một cái nhìn sâu sắc về bản chất của các khả năng nhưng nó lại quá khó(mất thời gian và chi phí) để sử dụng Vì thế, mỗi công cụ phân tích rủi ro đều có vị tríthích hợp, nhà quản lý có thể sử dụng từng phương pháp theo các trường hợp cụ thể
4.1 Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy là phép tính hiện giá, là thước đo về mức độ sinh lợi cho nhiều giá trị của một hoặc nhiều biến số bị tác động trong quyết định đầu tư
Nhà quản trị xây dựng một mô hình dựa trên các biến số đã biết, thông qua các biến
số đó, thay đổi chúng, tìm xem biến số nào tác động mạnh nhất đến kết quả và hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp, từ đó đưa ra các biện pháp quản trị tập trung vào các biến
Trang 36(Bảng 1.7 Độ nhạy của Lợi nhuận đối với biến số thứ i )
4.2 Phân tích hoà vốn
Phân tích độ nhạy hữu dụng trong việc xác định các biến số chính yếu có tác động lớnđến Doanh nghiệp Doanh số và chi phí thường là một trong những biến số chính đó.Phân tích hòa vốn tập trung vào mối quan hệ giữa các biến số chính với khả năng sinhlợi hoặc dòng tiền
Để tính được mức hòa vốn, nhà quản trị cần chia chi phí ra thành “biến phí” và
“định phí” Biến phí là chí phí sẽ thay đổi cùng với số lượng sản phẩm Định phí là
những chi phí không đổi khi doanh số thay đổi; nhưng cũng cần lưu ý rằng địnhphí/đơn vị sản phẩm sẽ giảm dần khi doanh số tăng lên trong một phạm vi nào đó Định phí trên mỗi đơn vị sản phẩm là thấp nhất khi doanh nghiệp sử dụng tài sản ởmức tối đa năng suất của chúng Đó chính là một trong những lý do phân tích hòa vốn.Qua đó nhà quản trị có thể tính toán rủi ro của một dự án riêng lẻ
Phân tích hòa vốn có thể xác định được doanh số cần thiết để chuyển từ thu nhập âmsang thu nhập dương hay nói cách khác là điểm hòa vốn Điểm hòa vốn thu nhập hoặcđiểm hòa vốn dòng tiền là mức doanh số cần thiết để bắt đầu tạo ra lợi nhuận hoặcdòng tiền bắt đầu dương
Công thức:
Điểm hòa vốn trong số lượng sản phẩm tiêu thụ (BEPq) là:
BEPq = Định phí / (Giá bán – Biến phí)
Điểm hòa vốn về doanh thu (BEP$) là
BEP$ = Định phí /(1- %biến phí/đơn vị sản phẩm)
Công thức tính hòa vốn thu nhập và hòa vốn dòng tiền là như nhau, nhưng những con
số được đưa vào có thể khác nhau Đặc biệt, định phí kế toán có thể khác định phí thực
tế Khấu hao được tính là một định phí trong phân tích hòa vốn thu nhập nhưng nókhông phải là một khoản tiền chi ra và vì thế không được tính trong phân tích hòa vốndòng tiền
4.3 Phân tích kịch bản
Phân tích kịch bản có thể được coi là một bước nâng cấp của phân tích độ nhạy Quaphân tích độ nhạy, nhà quản lý khoanh vùng được những tác nhân chính có khả năngảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động kinh doanh hay dự án mà Doanh nghiệp đang thựchiện Tuy nhiên khác với phân tích độ nhạy chỉ cho một biến thay đổi còn giả định tất
Trang 37cả các yếu tố khác giữ nguyên thì phân tích kịch bản lại là sự kết hợp cùng một lúc củanhiều yếu tố khác nhau Mỗi một kịch bản đưa ra sẽ có những thay đổi khác nhau vềbiến số và do vậy nó đem lại các kết quả khác nhau cho dự án
Tuy nhiên phân tích kịch bản có nhược điểm là không thể diễn tả được hết những kếtcục khác nhau của dự án Có thể mô phỏng đến 100, 1000 kịch bản khác nhau nhưng
đó vẫn chỉ là một con số có giới hạn, đồng thời chi phí và thời gian để mô tả được sốlượng kịch bản lớn như vậy là không nhỏ, có thể tiêu tốn của Doanh nghiệp một nguồnlực rất lớn
4.4 Những phương pháp phân tích rủi ro dựa trên xác suất
Có ba phương pháp phân tích rủi ro chính dựa trên xác suất, đó là: Giá trị kỳ vọng, Môphỏng Monte Carlo và Sơ đồ cây quyết định Cả ba phương pháp này đều có thể bổsung, hộ trợ rất hiệu quả cho nhau Việc kết hợp một cách đúng đắn các phương phápphân tích rủi ro trên sẽ đem lại hiệu quả dự đoán rất cao cho nhà quản trị
E( CFt ) là dòng tiền kỳ vọng ở thời điểm t
k là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi
Công thức này có thể áp dụng với dòng tiền tương quan hoàn toàn, tương quan mộtphần hay không tương quan giữa các năm với nhau Tuy nhiên nó chỉ phù hợp vớiNPV chứ không đúng với IRR
Độ lệch chuẩn của NPV của một chuỗi các dòng tiền phụ thuộc vào mối tươngquan giữa các dòng tiền qua từng năm Bắt đầu bằng cách xem xét 2 thái cực, tươngquan hoàn toàn và không tương quan và sau đó tập trung vào những giải pháp để giảiquyết những trường hợp khác trong tương quan 1 phần
*Độ lệch chuẩn hiện giá của dòng tiền tương quan hoàn toàn:
Dòng tiền tương quan xác định hoàn toàn từ kỳ này sang kỳ khác nếu dòng tiền
Trang 38sau kỳ thứ nhất thì hoàn toàn xác định bởi dòng tiền của kỳ thứ nhất Nói cách khác, tất
cả những thay đổi về dòng tiền tương lai sẽ bị loại trừ khi dòng tiền thứ nhất xảy ra.Nếu dòng tiền tương quan xác định hoàn toàn qua các năm, độ lệch chuẩn của hiện giácủa những dòng tiền này là:
Trong đó:
σCFt là độ lệch chuẩn của phân phối xác suất dòng tiền năm t
*Độ lệch chuẩn hiện giá của một dòng tiền không tương quan:
Nếu dòng tiền là không tương quan, dòng tiền của một năm bất kỳ hoàn toàn độc lậpvới dòng tiền của năm trước đó Nếu chuỗi các dòng tiền không tương quan nhau, côngthức tính độ lệch chuẩn của hiện giá sẽ là:
*Dòng tiền kỳ vọng :
Trong đó:
pj: xác suất xảy ra dòng tiền thứ j
*Độ lệch chuẩn của dòng tiền năm j:
Trang 394.4.2 Mô phỏng
Một mô hình mô phỏng là một mô hình mô tả một hệ thống mà theo đó nó có thể xemxét hệ thống sẽ phản ứng như thế nào với những tình huống khác nhau trong thực tế.Một số mô hình là thực thể, như là mô hình với tỷ lệ thu nhỏ của thân tàu thủy mà nóđược thử nghiệm trong bể chứa để tiên đoán một con tàu thực sẽ hoạt động như thếnào Hầu hết mô hình là được xây dựng trên một loạt các phương trình toán học
Tuy nhiên rất nhiều người sử dụng những mô hình mô phỏng chưa bao giờ thực sự biết
về chúng, họ chỉ đơn thuần là mường tượng ra nó
4.4.3 Mô phỏng Monte Carlo
Mô phỏng Monte Carlo là kỹ thuật mô phỏng được sử dụng cho phân tích vốn đầu tưtrong bốn thập kỷ gần đây Kỹ thuật này có tên như vậy vì nó sử dụng những giá trịđược rút ra một cách ngẫu nhiên nhưng với xác suất của việc được rút ra được kiểmsoát để xấp xỉ với xác suất thực sự của việc xảy ra
Để thực hiện Mô phỏng Monte Carlo, nhà quản trị sử dụng phần mềm và máy tính chuyên dụng thực hiện hàng nghìn phép lặp khác nhau, coi xác suất xảy ra đó như là một kết quả thống kê trên thực tế
Trang 40(Bảng 1.8 Mô phỏng Monte Carlo)
Mô phỏng Monte Carlo cho nhà quản trị một cách nhìn chi tiết về rủi ro hơn nhữngphương pháp trước đây Kết hợp với giá trị kỳ vọng và độ lệch chuẩn của NPV, nhàquản trị sẽ có cái nhìn tổng thể bức tranh rủi ro hơn Bức tranh thể hiện bằng đồ thị vàrất chi tiết về rủi ro có thể giúp nhà quản trị ra quyết định đầu tư
Bất lợi của việc mô phỏng:
Phân tích mô phỏng khắc phục được những giới hạn của rất nhiều phương pháp phântích rủi ro mà ta đã đề cập ở trên, nhưng phân tích mô phỏng cũng có những điểm bấtlợi Dữ liệu cho mô hình mô phỏng có thể tốn nhiều chi phí để xây dựng bởi vì ướctính phân phối xác suất phải được khai thác với một số biến số sau đó mô hình mớiđược xây dựng, lập trình và kiểm lại Điều này có thể tiêu tốn nhiều chi phí về nhânlực, chất xám và nó có thể trì hoãn việc ra quyết định
Những người phê bình còn chỉ ra rằng mô phỏng Monte Carlo không tách ra rủi ro hệthống mà nó là mối quan tâm chính yếu của các nhà đầu tư Điều này là đúng đối với
mô phỏng Monte Carlo cũng như các kỹ thuật phân tích khác, rất nhiều người ra quyếtđịnh mang tính chất cá nhân đối với rủi ro Vì thế, họ muốn xem xét rủi ro tổng thểcũng như rủi ro đối với các nhà đầu tư theo một cách đa dạng Thực chất, mô phỏngMonte Carlo có thể sử dụng để tạo ra những dữ liệu đầu vào cho những phương phápkhác
4.4.4 Cây quyết định
Là phương pháp phân tích tình huống theo dạng sơ đồ, theo đó mỗi phương án sẽ được
vẽ trên một nhánh cây khác nhau, tại mỗi điểm giao nhau của mỗi nhánh được gọi là điểm quyết định, nhà quản trị phải xác định xác suất xảy ra đối với từng phương án cụ thể, xác định giá trị ảnh hưởng dự tính, sau đó dựa trên sơ đồ để xác định giá trị kỳ vọng cuối cùng
Phân tích cây quyết định, tương tự như các phương pháp phân tích rủi ro khác, kết quả thu được chỉ là giá trị kỳ vọng, không phải kết quả thực tế Tuy nhiên, công cụ này thực sự cho nhà quản trị một bức tranh rõ ràng hơn các hệ quả có thể của những quyết định mà nhà quản trị đang đối mặt Họ có thể sử dụng những thông tin này để xem xét