1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt

85 339 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Mỹ Hào – Thực trạng và Giải pháp
Tác giả Lê Thị Ngọc Mai
Người hướng dẫn Lã Thị Lâm
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 197,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước trong những năm quangành ngân hàng nói chung và ngân hàng Nông nghiệp&phát triển nông thônNHNo&PTNT nói riêng đã không ngừng đổi mới v

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, phát triển kinh tế, ổn định chính trị

và xã hội đang là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay Từ một nền kinh tếkém phát triển thu nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém về mọimặt Do vậy, để phát triển chúng ta cần phải có vốn, Đảng và nhà nước ta đã xácđịnh phát triển kinh tế ổn định và vững chắc có trọng tâm trong đầu tư Do đó chủtrương “vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng” luôn đượcquán triệt trong quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và đặc biệt trong hoạt động tíndụng đầu tư Trong khi thị trường vốn ở nước ta chưa phát triển thì kênhdẫn vốn quan trọng cho hoạt kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư đầu tưphát triển nói riêng hiện nay chính là hệ thống ngân hàng Nhờ có hệ thốngnày mà vốn được lưu chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, giúp cho việc lưuchuyển vốn hiệu quả, tạo vốn cho các công cuộc đầu tư góp phần thúc đẩykinh tế phát triển

Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước trong những năm quangành ngân hàng nói chung và ngân hàng Nông nghiệp&phát triển nông thôn(NHNo&PTNT) nói riêng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp vớitình hình mới, tăng cường công tác huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển,đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh tế, hiện đại hoá công nghệ ngânhàng Chính vì vậy đã góp phần quan trọng vào công cuộc đầu tư thúc đẩy nềnkinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, kiềm chế lạm phát và ổn định đời sống nhândân Song bên những thành công và kết quả đạt được thì hệ thống ngân hàng nóichung và NHNo&PTNT riêng đang còn tồn tại nhiều yếu kém đó là nguồn vốnhuy động có thời gian dài còn thiếu, công tác huy động còn nhiều bất cập, hệthống ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu huy động vốn cho nền kinh tế…Như ta đã biết, Ngân hàng thương mại (NHTM) với vai trò trung gian tàichính trong việc huy động vốn để tái cấp vốn cho nền kinh tế là quan trọng nhất

Trang 2

Tuy nhiên ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt chủ yếu kinh doanhtrên lĩnh vực tiền tệ cho nên bắt buộc phải hoạt động có hiệu quả để vừa đảm bảomục tiêu an toàn trong hoạt động vừa có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường

và qua đó thực hiện có hiệu quả vai trò dẫn vốn của mình

Chi nhánh NHNo&PTNT Mỹ Hào là một chi nhánh thành viên củaNHNo&PTNT Việt Nam Với hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp nôngthôn, cũng giống như các NHTM khác, chi nhánh rất quan tâm tới nguồn vốn huyđộng từ nền kinh tế để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh

Nhận thức được vấn đề này, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT

Mỹ Hào, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên phòng kếtoán cũng như sự hướng dẫn của thầy giáo Lã Thị Lâm và được tiếp cận với các

ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỸ HÀO - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP"

Ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cục của chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tình hình huy động vốn của NHTM.

Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Mỹ Hào Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác huy động

vốn tại NHNo&PTNT Mỹ Hào

Vấn đề trên là một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp, đan xen nhiều yếu tố vĩ

mô và vi mô, mang tính khách quan và chủ quan Bản thân em trong quá trìnhnghiên cứu và tìm hiểu cả về lý luận, thực tiễn còn có những hạn chế nhất định,không tránh khỏi thiếu sót

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Lã Thị Lâm và đơn vị thựctập đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 3

CHƯƠNG I:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG

VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về NHTM

1.1.1 Khái niệm

Ngân hàng thương mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâudài Ngay nửa đầu thế kỷ XVI, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng đầutiên mà tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi Vào thời điểm này, ngânhàng phát triển ở trình độ thấp, hoạt động của ngân hàng chỉ gói gọn tronglĩnh vực giữ hộ tiền và cho vay Cùng với sự phát triển không ngừng của nềnkinh tế, hoạt động của NHTM cũng được từng bước được củng cố và hoànthiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng Theo một số chuyên gia về ngânhàng trên thế giới thì ngân hàng trong nền kinh tế trên thị trường được quanniệm là “Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vựctài chính tiền tệ, tuân thủ theo pháp luật theo đuổi mục tiêu lợi nhuận” Theoluật các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động

ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Và hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này cấp tín dụng và cung ứng các dịch

vụ thanh toán”

Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “Ngân hàng Thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”.

Theo cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung

cấp thì “NHTM là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các

Trang 4

dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế”

Theo tính chất và hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàngthương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Qua đây chúng ta có thể thấy rằng trên mỗi phương diện khác nhau tại mỗi quốc giakhác nhau lại có những quan niệm, nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên tất cả điều đó đềucho chúng ta những cách hiểu sâu hơn về khái niệm ngân hàng nói chung và Ngânhàng Thương Mại nói riêng đồng thời qua đó giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cáchoạt động và các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp

Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn khái niệm về NHTM chúng ta cần xem xét đặcđiểm của ngân hàng thương mại:

Trước hết, hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổimục tiêu lợi nhuận là chủ yếu Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động

là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Trong đó, hoạt động kinh doanhtiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khácnhau, để cấp tín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìmkiếm lợi nhuận Ngân hàng thương mại là người “đi vay để cho vay” nhằmmục đích kiếm lời Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thôngqua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, đểcam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời giannhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng

Hai là, hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định củapháp luật, nghĩa là chỉ khi NHTM thoả mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe dopháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh thì mớiđược phép hoạt động trên thị trường

Trang 5

Ba là, hoạt động Ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi

ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnhhưởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế

1.1.2 Chức năng của NHTM

Tầm quan trọng của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chứcnăng của nó Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim củanền kinh tế Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗiđược khơi thông đưa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lưuchuyển tiền tệ một cách hiệu quả Các chức năng của NHTM có thể được nêu

ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu:chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năngtạo tiền của ngân hàng thương mại

Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại và

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng là “cầu nối” giữa cung

và cầu vốn trong nền kinh tế, khơi nguồn vốn từ những người có vốn nhànrỗi sang những người có nhu cầu về vốn

Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thờiđiểm khác nhau là khác nhau, gây ra hiện tượng thừa, thiếu tạm thời Ngânhàng Thương mại là người trung gian có vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thayđổi thời kỳ đáo hạn của các khoản, món nợ

Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạmthời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn chovay Mặt khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay đểđáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, của các chủ thể kinh tếgóp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc

Trang 6

đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy, Ngân hàng Thương mại vừa là người đivay, vừa là người cho vay

Việc làm trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đếntầm mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian truyền thống như trước, mà cònquản lý các phương tiện thanh toán bằng cách trích số dư tiền gửi trên tàikhoản của người mua chuyển sang tài khoản của người bán theo lệnh của chủtài khoản Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất quan trọng, phù hợp với

sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật Với phương pháp công nghệhiện đại hơn, các NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính và cácphương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh toán bù trừ được nhanh chónggiảm bớt chi phí và có độ chính xác cao Như vậy Ngân hàng đã tiết kiệm cho xãhội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quátrình lưu thông hàng hoá

Vào thế kỷ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp đã được hình thành, cácNgân hàng không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống,trong đó Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ tín dụng, làNgân hàng của các Ngân hàng, còn các Ngân hàng Thương mại chuyênkinh doanh tiền tệ

Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các Ngân hàng Thương mại đã tạo rabút tệ Việc tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt độngNgân hàng Chức năng tạo ra bút tệ được thực hiện thông qua hoạt động tíndụng và đầu tư của NHTM trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào Ngân hàng trungương (NHTW) Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng, Ngân hàng Thươngmại có khả năng đầu tư Nhưng khi đầu tư, Ngân hàng tạo ra tiền ký thác

Trang 7

mới, còn gọi là tiền bút tệ, tiền chuyển khoản, từ đó Ngân hàng Thương mạitrở thành người cung ứng tiền bút tệ quan trọng trong nền kinh tế

Từ những chức năng cơ bản trên ta cũng có thể thấy được vai trò to lớncủa Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế Hoạt động của Ngân hàngThương mại đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch và tạomôi trường thuận lợi cho quá trình lưu chuyển vốn của nền kinh tế, nâng caochất lượng của quá trình tập trung và phân phối nguồn vốn NHTM còn là bộmáy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ

và góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động của Ngân hàngTrung ương và các chính sách của Nhà nước

1.1.3 Vai trò của NHTM

Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau, từ khi ra đời vàphát triển Ngân hàng thương mại đã đóng góp vai trò rất quan trọng trongviệc xây dựng và phát triển kinh tế thế giới Ở tất cả các nước, hệ thốngNHTM đã không ngừng phát triển, đóng vai trò tập trung những khoản tiềnnhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho các nhà đầu tư cần vốn Đó làquá trình huy động vốn và sử dụng vốn của các NHTM Bằng hoạt động củamình NHTM đã đóng góp một lượng vốn đáng kể và hàng loạt các dịch vụNgân hàng khác cho nền kinh tế

Một là: NHTM là nơi cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, là cầu nối giữatiết kiệm và đầu tư

Là một trung gian tín dụng NHTM đã tích tụ và tập trung được một khốilượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thựchiện các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng Từ nguồn tiền đó tiến hành cấpphát tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cần vốn

để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình Tức là Ngân hàng đóng vai trò làngười môi giới giữa một bên là những người có tiền nhàn rỗi có thể cho vay

và một bên là những người cần vay vốn Thực hiện chức năng này tức là

Trang 8

Ngân hàng đã trở thành người khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làmcho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lãi Những hoạt động đó củaNHTM đã thực sự tác động điều hòa cung cầu tiền tệ, biến những đồngtiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vàoviệc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm chongười lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp ngườilao động có thêm điều kiện ổn định và cải thiện đời sống.

Hai là: Ngân hàng giúp cho các kinh doanh trong việc nâng cao hiệuquả sử dụng vốn

Ngân hàng tài trợ vốn cho các Doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủ cácđiều kiện do Ngân hàng đặt ra Trong đó các khoản tín dụng mà Doanhnghiệp nhận được đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải hoàn trảgốc Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn cho các doanh nghiệp thì trước khi cho vay, Ngân hàng cần phảithẩm định phương án sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp, thẩm định tính khảthi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến Doanh nghiệp (Uy tín, trình

độ nhân viên, tài sản đảm bảo…) một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đócán bộ tín dụng giúp Doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh

có hiệu quả Sau khi cho Doanh nghiệp vay vốn, Ngân hàng vẫn tiếp tụctiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp và thôngqua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp doanh nghiệpquản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn

Ba là: Ngân hàng khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế

Bất kỳ đối tượng nào trong nền kinh tế gửi tiền vào Ngân hàng đều đượchưởng lãi, điểu đó có nghĩa là khi nào thu nhập của người gửi tiền sẽ tănglên Người gửi tiền có thể gửi theo bất kỳ phương thức nào, bất kỳ thời hạnnào Các cá nhân có số tiền nhàn rỗi chưa sử dụng đến thì có thể gửi vàoNgân hàng khi cần thì có thể rút ra bất cứ lúc nào Thông qua chính sách lãi

Trang 9

suất Ngân hàng đã khuyến khích khách hàng tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để

có tăng tiêu dùng trong tương lai

Bốn là: Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển củavốn đầu tư dẫn đến bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế và phát triển vùng

Trong hoạt động tài trợ của mình, Ngân hàng có thể tài trợ đối với tất cảcác đơn vị cá nhân trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau Với hệthống các Ngân hàng chuyên doanh cùng với mạng lưới chân rết của mình,NHTM có mặt ở hầu hết các địa bàn trong phạm vi cả nước Thông qua đóNgân hàng sẽ tiến hành cho vay đối với những ai cần vốn mà đáp ứng đượccác điều kiện của Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ tiến hành cho vay Ngoài rakhi có sự ưu tiên của nhà nước về phát triển ngành nghề hoặc vùng kinh tếnào đó thì Chính phủ đưa ra những chính sách riêng cho từng vùng và thôngqua hệ thống NHTM sẽ tiến hành cung ứng vốn cho những vùng đó Hoạtđộng tín dụng Ngân hàng ngày càng phát triển đã làm cho việc di chuyển vốndiễn ra một cách dễ dàng, tập trung duy trì lực lượng bình quân từ tất cả cácngành Đồng thời với sự tác động của Ngân hàng vốn được dịch chuyển từvùng thừa vốn sang vùng thiếu vốn đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữacác ngành, xóa dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định

Năm là: Hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát

Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạtđộng chủ yếu là huy động vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gianthanh toán Lượng tiền lưu thông được Ngân hàng kiểm soát Thông qua cáckhoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định được lượng tiền mặt đang lưuthông trong nền kinh tế, từ đó có thể có các biện pháp kiểm soát nhằm đềphòng và hạn chế những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra Trường hợp nếu xảy ralạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTW sẽ tiến hành điều chỉnhtăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, tham

Trang 10

gia vào thị trường mở để tác động tới NHTM để qua nó làm thay đổi lượngtiền trong lưu thông.

Sáu là: Ngân hàng tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy pháttriển thương mại quốc tế

Thương mại quốc tê ngày càng phát triển, cùng với xu thế khu vực hóa vàtoàn cầu hóa thì các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đóng vaitrò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia

Cùng hòa chung với xu thế đó NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọngtrong việc đưa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập với nền kinh tế thếgiới Bằng các hoạt động của mình như tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện cáchình thức thanh toán, bảo lãnh…đã góp phần thúc đẩy việc chu chuyểnhàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia với nhau một cách thuận lợi và nhanhchóng

1.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại

1.2.1 Khái niệm về huy động vốn

Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượngtiền mà nó huy động được từ nền kinh tế Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệttrong lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi cácngân hàng thương mại phải có biện pháp huy động vốn hợp lý, từ đó thu hút đượclượng vốn cần thiết trong nền kinh tế, để phục vụ cho hoạt động của ngân hàngthương mại

Công tác huy động vốn của ngân hàng có thể hiểu là những công cụ, cách thức,phương pháp và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức

và từ đó gửi tiền vào ngân hàng trên cơ sở hai bên đều có lợi Như vậy có thể dễ dàngnhận thấy công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại cũng là một phần trong

Trang 11

chính sách marketing mà ngân hàng đang sử dụng, tuy nhiên nó luôn được sự quan tâmchỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo ngân hàng.

1.2.2 Vai trò của nguồn vốn huy động

Nước ta đang trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế vững mạnh vậnđộng theo cơ chế thị trường, việc này đồng thời với vấn đề phải phát triển một thịtrường tài chính xứng tầm Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh của các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân đều chịu sự tác động của thịtrường, của các quy luật kinh tế: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luậtgiá trị…Chính vì vậy, các doanh nghiệp để tồn tại được trên thương trường phảikhông ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượngsản phẩm…Vấn đề này thực hiện được khi và chỉ khi doanh nghiệp huy động được

đủ lượng vốn cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích Nguồnvốn tự có của doanh nghiệp thường không đáp ứng được nhu cầu vốn của doanhnghiêp, do đó doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu tư củamình Với sự xuất hiện của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng thương mạithì việc vay vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân trở nên dễdàng hơn Doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhauvới chi phí tiết kiệm và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều

Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng cần phải huy động lượng vốn nhấtđịnh để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Ngân sách nhà nước là nguồn cung cấpchủ yếu cho kế hoạch chi tiêu của Chính phủ, song không phải lúc nào nó cũng ởtrong trạng thái lành mạnh, đủ khả năng đáp ứng Giải pháp đặt ra là có thể inthêm tiền hoặc tăng thuế, vay nợ nước ngoài nhưng việc này sẽ gây ảnh hưởng tiêucực lên toàn bộ nền kinh tế, qua đó nảy sinh các vấn đề xã hội Đây là điều mà cácnhà hoạch định chính sách vĩ mô không muốn xảy ra Vì vậy, Nhà nước có thể sửdụng biện pháp tích cực hơn đó là tìm kiếm nguồn vốn huy động trong và ngoài

Trang 12

nước thông qua việc phát hành các công cụ nợ như trái phiếu chính phủ, tín phiếukho bạc…

Qua những dẫn chứng trên có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốnhuy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy vàtiêu dùng Để khai thông nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế chúng ta phảitận dụng tốt lượng vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế thông qua kênh huyđộng của NHTM, các tổ chức tín dụng, và có thể từ ngân sách nhà nước cho đẩu tưphát triển Trong đó công tác huy động vốn trong NHTM đóng vai trò quyết định

và được chú trọng hơn cả

Công tác huy động vốn trong nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng trực tiếpđến các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn định tiền tệ Vì nguồn vốn cóvai trò to lớn đối với nền kinh tế như vậy, nên chúng ta cần phải khơi thông cácnguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, thông qua các kênh: vốn từ ngân sáchnhà nước, vốn huy động của các tổ chức tín dụng… Trong các kênh trên, vốn từngân sách nhà nước chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhà nước Nhưnghiện nay số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm do việc cổ phần hóa các doanhnghiệp nhà nước Vì vậy, việc huy động vốn từ kênh này thường không cao Bêncạnh đó, việc huy động vốn còn được thực hiện thông qua kênh tín dụng Cácdoanh nghiệp có thể huy động vốn qua kênh trực tiếp hoặc gián tiếp Nhưng ởnước ta phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chưa đủ điềukiện để huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán Do đó, việc huy độngvốn gián tiếp qua kênh ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng

Vậy, việc chú trọng đến các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần thiếtcủa các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế mà ngânhàng là một trong những thành viên chính góp phần tạo nên sự phát triển đó Việcđẩy mạnh công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển đang giữ một vị trí đặc biệtquan trọng

Trang 13

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò của NHTM ngày càng quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội NHTM cũng là doanh nghiệp nhưng

là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, nên trongquá trình chuyền mình cùng nền kinh tế, các NHTM đã chuyển dần sang hạch toánkinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình chứ không bao cấpnhư trước nữa Do đó, tinh năng động sáng tạo được khơi dậy, các NHTM có xuhướng phát triển đa năng Vì đóng vai trò là trung gian tín dụng, trung gian thanhtoán, là thủ quỹ của nền kinh tế nên NHTM là tác nhân quan trọng trong việc cungứng vốn cho nền kinh tế Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết đinh quy môcũng như định hướng hoạt động của ngân hàng Nếu nguồn vốn được coi là yếu tốđầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động đượccoi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng Ngân hàng thựchiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này

Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanhcủa NHTM Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phíthấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao Ngược lại,với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạtđộng kinh doanh của mình Chi phí hoạt động vốn của ngân hàng liên quan chặtchẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất cáccông cụ nợ do ngân hàng phát hành

Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụttrong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn,ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụngvới ngân hàng Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vayđối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế,lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng Từ đó có biện pháp ngănchặn và xử lý kịp thời

Trang 14

Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM.Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp báchcòn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được Nếu một ngân hàng huyđộng được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dàihạn Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhucầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắnhạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều

đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng

Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huyđộng được là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốncàng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy,công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rấtlớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng

1.2.3 Các phương thức huy động vốn

1.2.3.1 Phân loại theo thời gian huy động

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì

nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồnvốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng Theo thờigian, hình thức huy động được chia thành:

Trang 15

Đây là nguồn vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thịtrường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này ngânhàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy độngnguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn Nguồn huy động trung hạn rất quantrọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ

và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao

Đây là hoạt động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồnhuy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trởlên) Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao

1.3.2 Phân loại theo đối tượng huy động

Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng Ngân hànghuy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến chonhững người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh Nguồn huy động từ dân cưthường khá ổn định

Đây là nguồn vốn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổngnguồn vốn Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn haynhỏ hầu hết đểu có tài khoản trong ngân hàng Các doanh nghiệp khi bán được hàng hóa đềugửi tiền vào ngân hàng và rút ta khi cần Chu kỳ rút tiền gửi của các doanh nghiệp và các tổchức xã hội không giống nhau Vì vậy ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn màmình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụthuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng cácdịch vụ Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắnliền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng

Trang 16

Trong quá trìn hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫnnhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán…Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữacác ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động Điều này tuy không thườngxuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thươngmại Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ khả năng thanh toán bị đe dọa… các ngânhàng thương mại có thể vay lẫn nhau Quá trình vay này là một thỏa thuận tíndụng giữa hai bên Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trênthị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ Trong số những người cho ngân hàng vay

có một người đặc biệt Đó là ngân hàng trung ương NHTW đóng vai trò là ngườicho vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra.Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàngnhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn Do vậy,hình thức các ngân hàng sử dụng không nhiều

1.2.3.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn

Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại sửdụng hiện nay Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện chongân hàng khi tiến hành huy động Các hình thức huy động bao gồm:

Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có

tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao Mục đích của các khoản tiền gửi nàykhông phải là lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán Khách hàng gửi tiền phầnlớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phảithanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ liên tục Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứlúc nào hoặc để chi trả cho người thứ ba Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấyqua hình thức thanh toán bằng Séc Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trựctiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM)

Trang 17

Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanhtoán và tài khoản vãng lai Trong đó:

Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản cótoàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số

dư tiền gửi Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có

Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được

sử dụng cho các tổ chức kinh tế Số dư có thể hiện tiền gửi của kháchhàng còn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho kháchhàng vay

Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là đế sử dụng các dịch vụ ngân hàng nênmức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phảitrả lãi Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong

đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiềngửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệmkhông kỳ hạn) Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch

vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứngtốt các nhu cầu của người gửi tiền

Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút rasau một thời hạn nhất định Khoản này thường gắn liền với các tổ chức kinh tế cóchu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sựbiến động Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngânhàng phải trả cũng cao hơn Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngânhàng còn có mục đích kiếm lời Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõnét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng

Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (màchúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) với các thời hạn 3 tháng, 6

Trang 18

tháng, 1 năm, 2 năm… ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việctạo vốn cho các ngân hàng.

Huy động tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các ngân hàng thương mại.Bao gồm các loại sau:

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức này gần giống như huy động tiềngửi không kỳ hạn Tuy nhiên so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này

ổn định hơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn

Tiền gửi tiêt kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quenthuộc nhất ở nước ta Người gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thờihạn xác định: 1tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng, 5 tháng, 6tháng, 7 tháng,…36 tháng Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì

sẽ bị phạt Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trảkhách hàng với lãi suất cao nhất Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnhtranh, thu hút được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ratrước thời hạn Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn,

có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế…

Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinhdoanh đầy biến động như hiện nay Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiềunguồn:

Trang 19

Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khảnăng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng trungương Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu Cácngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng trung ương để vay.Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng trung ương chỉ cho ngânhàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong địnhhướng của chính sách tài chính quốc gia Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sungvốn cho ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định.

Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàngthương mại Trong quá trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàngthấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn.Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ramới tính đầu vào Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động

và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành côngnhanh chóng Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và tráiphiếu

Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của kháchhàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiềnxác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước.Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huyđộng vốn trung và dài hạn

Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hànhnhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanhxác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế…

Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, cácdoanh nghiệp, các ngân hàng thương mại còn sử dụng các hình thức khác về dịch

Trang 20

vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanhtoán, đầu mối trong hợp đồng tài trợ… Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụtrên càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng

có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả

Trang 21

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình huy động vốn của NHTM

Huy động vốn là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của ngânhàng thương mại Tuy nhiên thì hoạt động này không phải là hoạt động độc lập mà

có mối quan hệ biện chứng với các hoạt động khác của ngân hàng thương mại.Hơn nữa với chức năng là một trung gian tài chính, vừa là nơi tập trung vốn, vừa

là nơi phân phối lại tín dụng, do đó mà hoạt động huy động vốn của ngân hàngthương mại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau, cả nhân tố chủquan lẫn nhân tố khách quan, các nhân tố này trực tiếp hoặc gián tiệp tác động tớihoạt động của ngân hàng thương mại

1.2.1 Các nhân tố khách quan

Đây là nhân tố không nằm trong sự kiểm soát của ngân hàng thươngmại, song nó lại tác động lớn tới hoạt động và kết quả kinh doanh củangân hàng thương mại nói chung cũng như công tác huy động vốn nóiriêng Và như vậy, sẽ ảnh hưởng tới chính sách huy động vốn mà ngânhàng đang thực hiện

1.2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội

Nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người cócao, trình độ học vấn của dân cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại Bởi khi đó tiết kiệmtrong xã hội sẽ cao, khả năng tin tưởng vào hoạt động của ngành ngân hàng sẽngày càng được nâng lên Một hệ quả tất yếu là làm cho các thành phần kinh tế sẽgửi tiền vào ngân hàng theo từng mục tiêu cụ thể Và ngược lại nếu trong vùngkinh tế có tình hình xã hội bất ổn định, tốc độ phát triển của kinh tế còn hạn chế…Điều này làm cho tiết kiệm trong xã hội đạt mức thấp, thêm vào đó là tâm lý ưadùng tiền mặt, chưa có thái độ quan tâm thực sự tới các loại hình dịch vụ mà ngânhàng cung cấp, và do đó việc thực hiện chính sách huy động vốn của ngân hàngthương mại gặp nhiều khó khăn

Trang 22

Ngoài ra, chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại còn chịunhững tác động của các nhân tố như tỷ lệ lạm phát của đồng tiền Sự suy thoái củanền kinh tế, thậm chí là cả sự phát triển “bong bóng” quá nóng của nền kinh tế.Các nhân tố này ít nhiều đều có ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thươngmại, có nhân tố ảnh hưởng rất mạnh, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển củangân hàng.

1.2.1.2 Hành lang Pháp lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước

Tại mỗi một quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động của ngân hàng thươngmại trong đó có hoạt động huy động đều phải chịu sự điều tiết của các chế tài củaluật pháp, và sự điều hành giám sát và quản lý từ phía Ngân hàng Nhà nước, đểphục vụ những mục đích mà Chính phủ ban hành hay Ngân hàng Nhà nước đề ra.Các ngân hàng thương mại trong trường hợp cần thiết phải tiến hành mua tráiphiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành, theo những quy định cụ thể của ngânhàng Nhà nước Với mục tiêu an toàn và an ninh tiền tệ của mỗi quốc gia mà Ngânhàng nhà nước có quy định mức vốn tối đa được phép huy động theo một tỷ lệnhất định nào đó so với vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại Ngoài ra hoạtđộng của hệ thống ngân hàng thương mại còn chịu sự tác động nhiều cơ quan,nhiều chế tài pháp luật khác, tùy theo mức độ của mối quan hệ trong hoạt độngkinh doanh

1.2.2 Các nhân tố chủ quan:

Là nhân tố nội tại bên trong ngân hàng, thuộc khả năng kiểm soát của ngânhàng, so với các nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới tất cả mọihoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong các hoạt động đó có hoạt động huyđộng vốn và chính sách huy động vốn của ngân hàng Mặt khác, các nhân tố nàymang tính phù hợp với tình hình thực tế hoạt động của ngân hàng, nhất là chính sách huyđộng vốn hơn nhân tố khách quan các yếu tố cấu thành bao gồm:

1.2.2.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Trang 23

Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanhriêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài Ngân hàng Chiếnlược kinh doanh có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngânhàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểmmạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức Trên cơ sở đó dự đoán sựthay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp màtrong đó chiến lược phát triển quy mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phậnquan trọng trong chiến lược tổng thể của ngân hàng Trong từng thời kỳ, dựa trênchỉ tiêu được giao về hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động kháccủa NHTW cùng với tình hình thực tế của từng ngân hàng, ngân hàng phải lập kếhoạch và lên cân đối giữa huy động vốn với khối lượng lớn, thời hạn dài thì ngânhàng sẽ có kế hoạch huy động vốn với lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng Còn nếunhận thấy trong năm tới ngân hàng cần phải thu hẹp khối lượng tín dụng thì ngân hàng sẽ có

kế hoạch huy động vốn một lượng vốn vừa đủ để tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn

Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình ngân hàng cần đặc biệtchú trọng vào chi phí vốn mà ngân hàng phải chịu trong khâu huy động Phải tìmkiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy độngkhác nhau, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc tìm kiếm và sử dụngvốn

1.2.2.2 Các hình thức huy động vốn, chất lượng các dịch vụ do ngân hàng cung ứng, hệ thống các mạng lưới và đổi mới công nghệ Ngân hàng

Một yếu tố ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng nguồn vốn huy động làhình thức, kỳ hạn, các dịch vụ cung cấp, cùng với hệ thống mạng lưới rộng khắp,

sự đổi mới công nghệ tiên tiến… Do nhu cầu của khách hàng khi đến ngân hàng làkhác nhau nên việc thỏa mãn được những nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn Trong nền kinh tế thị trường thìhiện tượng cạnh tranh là tất yếu, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng là điều kiện tiênquyết để đạt được thắng lợi trong kinh doanh Một ngân hàng có các hình thức huy

Trang 24

động và kỳ hạn huy động vốn phong phú, linh hoạt, thuận tiện hơn sẽ có sức thuhút khách hàng mới và duy trì những khách hàng hiện có hơn những ngân hàngkhác Các ngân hàng hiện nay không chỉ huy động tiền gửi tiết kiệm mà cònkhuyến khích người dân gửi tiền dưới nhiều hình thức khác nhau như mở tàikhoản tiền gửi, huy động qua kỳ phiếu, trái phiếu phong phú cả về mệnh giá, kỳhạn và chủng loại…

Khi hình thức huy động vốn đa dạng và hấp dẫn thì sẽ làm cho số lượngngười gửi tiền tăng lên và khi đó chi phí huy động sẽ giảm xuống Hơn nữa, hìnhthức huy động vốn phong phú cũng là điều kiện để thu hút những khoản vốn đadạng từ nhiều nguồn khác nhau với những tính chất khác nhau về số lượng, chấtlượng và kỳ hạn… Từ đó sẽ giúp ngân hàng sử dụng vốn linh hoạt, an toàn và hiệuquả hơn

Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngânhàng khác Trong điều kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nângcao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của kháchhàng và tăng thu nhập của ngân hàng Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh

về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn Do vậy, đây chính là điểm mạnh để cácngân hàng vươn lên trong cạnh tranh

Đổi mới công nghệ ngân hàng nhất là khâu thanh toán Cùng với việc đổimới hoạt động ngân hàng, các ngân hàng thương mại ngày càng chú trọng tới việc

áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng, đặc biệt là khâuthanh toán Nhờ đó làm cho vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàncho khách hàng trong việc gửi tiền, rút tiền và vay vốn Nếu thực hiện tốt khâu nàythì sẽ hạn chế được việc lưu thông bằng tiền mặt vừa không hiệu quả vừa không

an toàn Ngoài ra nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên thì ngân hàng

sẽ thu hút được càng nhiều các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế vào hệ thốngngân hàng và góp phần làm giảm chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm…

Trang 25

Hiện nay, các ngân hàng đang vận động dân cư mở tài khoản tiền gửi thanhtoán, thực hiện quá trình thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ qua tài khoàn tiền gửitrong đó ngân hàng đóng vai trò là người làm trung gian thanh toán, ngoài ra ngânhàng còn đưa ra các hình thức huy động vốn thông qua các hình thức hấp dẫn nhưtiền gửi tiết kiệm ở một nơi có thể rút ở nhiều nơi, thực hiện thanh toán qua thẻ tíndụng, thẻ tiền gửi…

Để thực hiện tốt vấn đề này, ngành ngân hàng phải tiếp tục trang bị nhữngcông nghệ hiện đại Mặt khác, ngân hàng cần nghiên cứu để đưa ra các hình thứchuy động vốn phù hợp Từ đó tạo cho khâu thanh toán luân chuyển vốn nhanh vàthuận tiện cho công tác kiểm soát

cứ đưa ra mức lãi suất cao là thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư

mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi suất cụ thể mà ngân hàng đưa ra sẽ đem lại chongười gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu Điều đó có nghĩa là mức lãi suất

mà ngân hàng đưa ra phải luôn đảm bảo lớn hơn tỷ lệ lạm phát, do đó ngân hàngphải dự đoán chính xác tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ để đưa ra mức lãi suấthợp lý Ngoài ra quyết định đưa ra mức lãi suất nào đó còn phụ thuộc vàomột yếu tố khác như thời gian đáo hạn của tiền gửi, khả năng chuyển hoángiữa các kỳ hạn, mức độ rủi ro và lợi nhuận mang lại từ các khoản đầu tư

Trang 26

khác, các quy định của nhà nước, quy định của NHTW, mức lãi suất đầu ra

mà ngân hàng có thể áp dụng đối với các khách hàng vay vốn

Lãi suất càng cao thì hấp dẫn người gửi tiền nhưng lãi suất huy động caocũng có nghĩa là lãi suất vay cũng phải cao tương ứng thì ngân hàng kinh doanhmới có lãi Mức lãi suất đủ cao để thu hút khách hàng nhưng cũng không được caoquá để vẫn có thể thu hút được khách đi vay mà không làm giảm lợi nhuận củangân hàng Hơn nữa ngân hàng phải tính đến chi phí huy động vốn củamình và mặt bằng lãi suất huy động của ngân hàng mình so với các ngânhàng khác

1.2.2.4 Mức độ thâm niên và uy tín của ngân hàng

Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo đượchình ảnh riêng của mình trong lòng thị trường Một ngân hàng lớn, có uytín sẽ lợi thế hơn trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt độnghuy động vốn nói riêng Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngânhàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phíhuy động từ đó giúp ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh Một ngânhàng có một bề dày lịch sử với danh tiếng, cơ sở vật chất, trình độ nhânviên… sẽ tạo ra hình ảnh tốt về ngân hàng, gây được sự chú ý của kháchhàng từ đó lôi kéo được khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình

1.3 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN

Hiệu quả huy động vốn được đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhautuỳ theo mục đích nghiên cứu Vì vậy các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huyđộng vốn cũng có nhiều loại khác nhau Bài viết này chỉ xin đánh giá hiệuquả huy động vốn dựới góc độ một nhà ngân hàng Để đánh giá hiệu quảhuy động vốn dựa trên khả năng sử dụng vốn và chi phí của đồng vốn

Quy mô nguồn vốn huy động càng lớn thì chứng tỏ hiệu quả trong các táchuy động vốn càng cao

Trang 27

Đánh giá qua mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và số lượng vốn huy

mục tiêu về nguồn vốn đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăngtrưởng ổn định

Nguồn vốn có số lượng vốn kỳ hạn lớn chứng tỏ sự ổn định về thờigian của nguồn vốn cao

Nguồn vốn có khả năng đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh của ngânhàng: Đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầutín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động đãđáp ứng bao nhiêu Ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhucầu đó

Đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãi suất huy độngtừng nguồn và chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào

- Mức độ hoạt động của vốn: Đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn

- Mức độ thuận tiện cho khách hàng: Đánh giá qua việc thực hiện các thủ tụcgửi tiền, rút tiền

Nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc huy động vốn phải dùa trên cơ sở nhu cầuđầu tư là huy động vốn phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằmthoả mãn nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế Huy động vốn phải gắn liền vớiviệc sử dụng vốn có hiệu quả, sao cho nguồn vốn huy động được sử dụng mộtcách cân đối, đúng mục đích, đầu tư có hiệu quả góp phần thóc đẩy kinh tế pháttriển, bảo toàn đồng vốn đầu tư, bảo đảm có lợi ích cho cả người gửi tiền và ngânhàng

Để so sánh khả năng cho vay với khả năng huy động vốn của một ngân hàng đồngthời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động, người ta dung chỉ tiêu

Hệ số sử dụng vốn = Tổng dư nợ / Nguồn vốn huy động

Trang 28

Chỉ số này càng lớn cho ta thấy vốn tồn đọng càng ít, nhưng rủi ro tín dụngcàng lớn Do vậy để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động thì đòi hái mỗi ngânhàng phải lùa chọn khách hàng để giảm thiểu rủi ro.

CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỸ HÀO

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT MỸ HÀO

2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Mỹ Hào

2.1.1.1 Lịch sử hình thành NHNo&PTNT Mỹ Hào

Năm 1988, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam được thành lập theoNghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là ChínhPhủ) về việc thành lập các Ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng pháttriển nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Ngày 14/11/1990 Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là thủ tướng Chínhphủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam thaythế Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng nông nghiệp là Ngânhàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nôngthôn, là một pháp nhân, hoạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềhoạt động của mình trước pháp luật

Ngày 22/12/1992, Thống đốc NHNN có quyết định số 603/NH-QĐ về việcthành lập chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngânhàng nông nghiệp gồm 3 cơ sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội, Sở giao dịch

II tại văn phòng đại diện khu vực miền nam và Sở giao dịch III tại văn phòng miềntrung) và 43 chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố Chi nhánh Ngânhàng nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh

Trang 29

Ngày 30/07/1994 tại quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc NHNN chấpthuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam,trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam cụ thể hoá bằngvăn bản số 927/TCCB/Ngân hàng nông nghiệp ngày 16/08/1984 xác định: Ngânhàng nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và cấp trực tiếp kinh doanh

Ngày 07/03/1994 theo quyết định số 90/TTg của Thủ Tướng Chính Phủ,Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng Công Ty Nhànước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, bộ máy giúpviệc bao gồm: Bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vịhạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năngquản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổnggiám đốc

Ngày 15/11/1996, được Thủ Tướng Chính Phủ uỷ quyền, Thống đốc NHNNViệt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng nông nghiệp ViệtNam thành NHNo&PTNT Việt Nam

NHNo&PTNT Mỹ Văn trực thuộc tỉnh Hải Dương ra đời trong bối cảnh đó

Sự ra đời vừa mang tính thừa kế liên tục đồng thời là một sự đổi mới về mô hình

tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ hoạt động

Sau khi tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương ngày01/09/1999, huyện Mỹ Văn lại chia tách thành ba huyện: Mỹ Hào, Yên Mỹ, VănLâm NHNo&PTNT Mỹ Hào ra đời hoạt động trên địa bàn huyện Mỹ Hào

Đến năm 2008, NHNo&PTNT Mỹ Hào đã trở thành ngân hàng trực thuộc

và là Chi nhánh cấp I trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam Đây cũng là mộtyếu tố thuận lợi cho công tác thanh toán quốc tế, chuyển đổi ngoại tệ choNHNo&PTNT Mỹ Hào Không những thế, với vị trí nằm giữa khu công nghiệpphố nối, có ưu thế về giao thông nên góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngânhàng

Trang 30

Chuyên đ t t nghi p ề tốt nghiệp ốt nghiệp ệp H c Vi n Tài Chính ọc Viện Tài Chính ệp

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy NHNo&PTNT Mỹ Hào

Trang 31

Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ máy chi nhánh ngân hàng cấp III trực thuộc

NHNo&PTNT Mỹ Hào

(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự NHNo&PTNT Mỹ Hào)

Hiện nay, Chi nhánh NHNo&PTNT có tổng số đội ngũ cán bộ là 107người Trong đó có 87 cán bộ có trình độ đại học chiếm 81.31%, 8 cán bộ cótrình độ cao đẳng chiếm 7.48% và 12 cán bộ trình độ trung cấp, lái xe, tạp vụchiếm 11.21% NHNo&PTNT Mỹ Hào có 5 phòng, hoạt động theo chức năngriêng được phân công theo sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc gồm mộtgiám đốc và hai phó giám đốc

nghiệp vụ cho vay đối với các khách hàng là các tổ chức và cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế, dưới hình thức là các khoản vay ngắn

PHÒNG KIỂM TRA, KIỂM SOÁT

Trang 32

hạn, trung và dài hạn, cho vay uỷ thác và cho vay theo dự án Đồngthời cũng thực hiện chức năng giám sát và quản lý việc sử dụng vốn.

khách hàng như bộ phận kế toán tổng hợp, bộ phận thông tin điện toán,

bộ phận kế toán tiền gửi, tiền vay và ngân quỹ Phòng này có chứcnăng, nhiệm vụ tổ chức tốt các nghiệp vụ thanh toán, tài chính, hạchtoán kế toán theo nguyên tắc chung và theo quy định của nghành Đónggóp ý kiến cho ban giám đốc về công tác thanh toán, kết hợp với cácphòng khác để cùng phát triển Thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền mặt,vận chuyển và quản lý an toàn kho quỹ Đồng thời thực hiện việc nộpthuế theo luật thuế Việt Nam

quản trị như các doanh nghiệp khác, bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạtđộng kinh doanh của các phòng ban; quản lý, sắp xếp và điều chuyểnnhân sự, bảo đảm tiền lương cho cán bộ nhân viên, tham mưu cho lãnhđạo về xét tuyển và đề đạt cán bộ

đã tổ chức ra một phòng riêng để tiện phục vụ cho các khách hàng củamình

của phòng, ngoài ra còn thanh tra các vụ việc có lien quan, các thao tácnghiệp vụ nhằm ngăn chặn các rủi ro xảy ra từ chính các cán bộ ngânhàng

2.1.2 Nghiệp vụ kinh doanh của NHNo&PTNT Mỹ Hào

Nhận tiền gửi: Là một trong những nguồn vốn quan trọng hình thành

nên nguồn vốn của Chi nhánh là các khoản tiền gửi Chi nhánh mở dịch vụnhận tiền gửi của người có tiền mang tới gửi cam kết hoàn trả đúng hạn.Khách hàng sẽ nhận được một khoản tiền lãi trên khoản tiền gửi của mình tùy

Trang 33

thuộc vào hình thức và thời hạn của các khoản tiền gửi và mức lãi suất công

bố hoặc thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng

Cho vay: Bằng những khoản tiền huy động được, ngân hàng sẽ cho các

tổ chức kinh tế và cá nhân vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động Ngânhàng sẽ nhận được phần chênh lệch để bù đắp những chi phí cho hoạt độnghuy động vốn và một phần lợi nhuận Đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thuchủ yếu cho ngân hàng

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng

mở tài khoản cho khách hàng bằng nhiều hình thức Khách hàng sẽ nhậnđược séc và khi thanh toán khách hàng không cần dùng tiền mặt trực tiếp,việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện, hay cũng có thể ngân hàng sẽthực hiện yêu cầu của khách hàng để thanh toán, chuyển tiền thông qua hệthống mạng điện tử liên ngân hàng Ngày nay do sự phát triển của khao họccông nghệ, nên hệ thống ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàngdịch vụ rút tiền tự động thông qua hệ thống máy rút tiền tự động (ATM –Automatic Teller Machine ) Online 24/24 giờ và các sản phẩm thẻ phù hợpvới từng đối tượng người dùng như thẻ ghi nợ nội địa (success), thẻ ghi nợ,tín dụng quốc tế mang thương hiệu Visa/ MasterCard dành cho cá nhân, công

ty và các loại thẻ đồng thương hiệu (Thẻ “Lập nghiệp”, thẻ sinh viên)

2.1.3 Kết quả hoạt động của NHNo&PTNT Mỹ Hào qua các năm

Với mạng lưới các phòng giao dịch, Chi nhánh trực thuộc, đội ngũ cán

bộ viên chức nhiệt tình, năng động sáng tạo trong công tác Chi nhánh đã đặtmối quan hệ rộng lớn với các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh tạitỉnh Hưng Yên và các địa phương khác trong cả nước…Tất cả đã tạo điềukiện cho Chi nhánh đạt được kết quả cao ngay từ những năm đầu

Hoạt động huy động vốn:

Trang 34

Vốn là yếu tố quyết định trong thành công của bất kì tổ chức kinh tếnào, đối với các NHTM vốn lại càng quan trọng vì nó hoạt động với tư cáchtrung gian tài chính “đi vay để cho vay” Vì vậy, trong 3 năm 2010, 2011,

2012 Chi nhánh Mỹ Hào không ngừng quan tâm tới công tác huy động vốn,luôn coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chi nhánh Với vịtrí thuận lợi, nằm gần ngã tư Phố Nối, Chi nhánh đã không ngừng quảng cáo,tuyên truyền các phương tiện thông tin đại chúng Cùng với việc nâng cấp cơ

sở hạ tầng và thái độ phục vụ của cán bộ công nhân viên, Chi nhánh đã rấtthành công trong hoạt động huy động vốn Kết quả cụ thể công tác huy độngvốn của Chi nhánh trong các năm được thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Bảng 2.1: Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Mỹ Hào

Đv : Triệu đồng

Chỉ tiêu NĂM 2010 NĂM 2011 NĂM 2012

TĂNG GiẢM 2012/2011 2011/2010 2012/2010

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác tín dụng 2010 - 2012)

Qua bảng trên ta thấy, trong 3 năm qua nguồn vốn của NHNo&PTNT

Mỹ Hào luôn có sự tăng trưởng Nguồn vốn huy động năm 2012 là 1,188,526triệu đồng tăng 32.51% so với năm 2011 tương đương với số tiền 291,598triệu đồng, năm 2011 là 896,928 triệu đồng tăng 9.17% so với 2010 tươngđương 75,332 triệu đồng Năm 2010 là 821,596 triệu đồng, năm 2012 đã tăng

so với năm 2010 là 366,930 triệu đồng tương ứng 44.66% Ngoài ra tronghoạt động của mình Chi nhánh Mỹ Hào đã đảm bảo khả năng thanh khoản,không để tình trạng thiếu hụt hoặc mất khả năng thanh khoản cho khách

Trang 35

hàng, điều này thể hiện qua việc chi nhánh không phải vay vốn của các tổchức tín dụng, vay của ngân hàng Nhà Nước để đáp ứng nhu cầu dự trữ haythanh toán của mình Đồng thời chi nhánh cũng đảm bảo được nhu cầu vayvốn tại địa bàn bằng chính nguồn vốn huy động của mình, thể hiện qua việcchi nhánh không cần sử dụng vốn điều chuyển từ trụ sở chính trong cả giaiđoạn 2010-2012 Điều này giúp chi nhánh chủ động về nguồn vốn cho vay,giảm chi phí sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh.

Hoạt động sử dụng vốn:

Cũng như các NHTM, các tổ chức tín dụng khác, hoạt động của Chinhánh Mỹ Hào chủ yếu là hoạt động tín dụng, trong đó hoạt động cho vaychiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Donằm trên địa bàn tập trung rất nhiều các công ty nên đã tạo điều kiện thuậnlợi cho Chi nhánh trong việc cấp tín dụng, bởi nó vừa an toàn vừa đảm bảokhả năng thu nợ, cùng các mục tiêu của chi nhánh

Trang 36

Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh NHNO &PTNT Mỹ Hào qua các năm

Đv: Triệu đồng

CHỈ TIÊU

NĂM 2010 NĂM 2011 NĂM 2012

TĂNG GiẢM 2012/2011 2011/2010 2012/2010

Số Tiền Tỷ trọng Số Tiền Tỷ trọng Số Tiền Tỷ trọng Số Tiền Tỷ Lệ Số Tiền Tỷ Lệ Số Tiền Tỷ Lệ Tổng dư nợ 632,629 100.00% 780,327 100.00% 903,279 100.00% 122,952 15.76% 147,698 23.35% 270,650 42.78%

Cho vay ngắn hạn 505,660 79.93% 647,027 82.92% 753,272 83.39% 106,245 16.42% 141,367 27.96% 247,612 48.97% Cho vay trung và

dài hạn 126,969 20.07% 133,300 17.08% 150,007 16.61% 16,707 12.53% 6,331 4.99% 23,038 18.14% Bình quân một cán

Trang 37

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dư nợ theo thời gian của NHNo&PTNT Mỹ Hào qua

các năm 2010, 2011, 2012

0 100,000

Dư nợ cho vay ngắn hạn

Dư nợ cho vay trung và dài hạn

Biểu đồ 2.2: Tình hình hoạt động cho vay giai đoạn 2010-2012

Trang 38

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 0

Qua bảng trên cho thấy trong 3 năm 2010 - 2012 bằng nguồn vốn huyđộng được của mình, NHNO&PTNT huyện Mỹ Hào đã cho vay với doanh sốtăng qua các năm cụ thể là năm 2012 dư nợ cho vay đạt 903,279 triệu đồngtăng so với năm 2011 là 15.76%, tương đương 122,952 triệu đồng Năm 2011tăng 23.35% so với năm 2010 tương đương 147,698 triệu đồng, đặc biệt năm

2012 tăng 42.78% so với năm 2010 tương đương 270,650 triệu đồng Điềunày thể hiện sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Chi nhánh

Doanh số cho vay của Chi nhánh tăng chủ yếu là đối với nợ ngắn hạn,năm 2012 đạt 753,272 triệu đồng, tăng 16.42% so với năm 2011 tương đươngvới 106,245 triệu đồng, năm 2011 tăng 27.96% so với năm 2010 tương ứng141,367 triệu đồng, năm 2012 tăng 48.97% so với năm 2010 tương ứng247,612 triệu đồng

Ta thấy dư nợ trung và dài hạn qua các năm có xu hướng tăng dần song

tỷ trọng lại giảm dần do tốc độ tăng của nó thấp hơn so với dư nợ cho vayngắn hạn Cụ thể: năm 2011 dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 133,300 triệuđồng chiếm 17.08%, tăng 4.99% tương ứng 6,331 triệu đồng Năm 2012 đạt

Trang 39

753,272 triệu đồng tăng 12.53% tương ứng 16,707 triệu đồng so với 2011,song chỉ chiếm 16.61% tổng dư nợ.

Vậy là chi nhánh chú trọng vào cho vay nợ ngắn hạn nhiều nhất chiếmkhoảng 80% tổng dư nợ, dư nợ trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng dưới 20%,nguyên nhân do tình hình kinh tế thế giới nói chung và tình hình kinh tế trongnước nói riêng có nhiều biến động phức tạp, cùng với chính sách tài khóa thắtchặt của chính phủ khiến cho chi nhánh dè dặt trong việc cho vay trung và dàihạn nhằm hạn chế rủi ro Cơ cấu dư nợ hợp lý này giúp chi nhánh cân đối vớinguồn vốn huy động, đảm bảo khả năng chi trả cũng như duy trì mức độ antoàn tín dụng, đảm bảo khả năng thu nợ Đồng thời tuy dư nợ cho vay trung

và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20% tổng dư nợ và có xu hướng giảm trongnăm 2012 nhưng cũng thể hiện chi nhánh đã đa dạng hóa các loại hình sảnphẩm, hình thức để đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế Đây là yếu tốquan trọng trong quá trình hoạt động của chi nhánh trong thị trường cạnhtranh ngày càng gay gắt

Tỷ lệ tổng doanh số thu nợ ngày một tăng lên, tỷ lệ nợ xấu ngày mộtgiảm Cụ thể, năm 2011 doanh số thu nợ chiếm 97.40% dư nợ, nợ xấu chiếm2.60% thì năm 2012 doanh số thu nợ đã tăng lên 98,50% và dự nợ chỉ cònchiếm 1.5% tổng dư nợ Kết quả này cho thấy hiệu quả của công tác sử dụngvốn nói chung và việc thẩm định tín dụng nói riêng Khả năng thu hồi nợ củacác khoản vay tăng lên rõ rệt, nợ xấu chiếm rất ít, ngân hàng tránh được áplực rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng Tình hình sử dụng vốn của ngân hàngAgribank Mỹ Hào khá khả quan và ít tiềm ẩn rủi ro

Qua kết quả trên ta thấy được sự nỗ lực của chi nhánh trong việc nângcao chất lượng hoạt động của ngân hàng cả về số lượng và chất lượng tíndụng Luợng vốn cung cấp cho nền kinh tế trong khu vực không ngừng tănglên

Kết quả hoạt động hoạt động tài chính

Trang 40

Trong những năm qua, NHNo&PTNT Mỹ Hào luôn cố gắng nâng caochất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, đặc biệt trong việc đổi mới về côngnghệ và văn hoá kinh doanh Điều này đã giúp ngân hàng phát triển khôngngừng.

Ngày đăng: 23/02/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ máy chi nhánh ngân hàng cấp III trực thuộc - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Sơ đồ 2 Mô hình tổ chức bộ máy chi nhánh ngân hàng cấp III trực thuộc (Trang 32)
Bảng 2.1: Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Mỹ Hào - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.1 Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Mỹ Hào (Trang 35)
(Nguồn: Bảng phân tích dư nợ, cơ cấu dư nợ năm 2010 – 2012) - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
gu ồn: Bảng phân tích dư nợ, cơ cấu dư nợ năm 2010 – 2012) (Trang 37)
Bảng 2.3: Báo cáo thu nhập của chi nhánh - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.3 Báo cáo thu nhập của chi nhánh (Trang 40)
Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế (Trang 43)
Bảng 2.8: Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn huy động năm 2010-2012 - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.8 Cơ cấu nguồn vốn theo thời hạn huy động năm 2010-2012 (Trang 49)
Bảng 2.10: Tình hình chi phí huy động vốn tại Chi nhánh Mỹ Hào - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.10 Tình hình chi phí huy động vốn tại Chi nhánh Mỹ Hào (Trang 53)
Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn chi nhánh Agribank Mỹ Hào - Tài liệu Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp ppt
Bảng 2.11 Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn chi nhánh Agribank Mỹ Hào (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w