1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo TTCK Việt Nam tháng cuối năm 2020: Kỳ vọng rủi ro

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh minh họa: Chênh lệch lợi suất khiến dòng tiền dịch chuyển từ kênh gửi tiền ngân hàng sang kênh đầu tư cổ phiếu Nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán đảo chiều tăng mạnh... Xét t

Trang 1

TTCK Việt Nam 6 tháng cuối năm 2020: Kỳ vọng và rủi ro Báo cáo

Trang 2

Báo cáo được Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam (VFCA) nghiên cứu và phát hành nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin phục vụ việc tư vấn tài chính cho mọi đối tượng

có nhu cầu nâng cao nhận thức và nghiệp vụ trong lĩnh vực

tư vấn tài chính

Phát hành báo cáo là một trong những hoạt động thường xuyên của VFCA, phù hợp với tôn chỉ, mục đích đã được phê duyệt bởi Bộ Nội vụ

Các thông tin, nhận định, dự đoán trong báo cáo này được dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy, tuy nhiên, VFCA không đảm bảo tính chính xác của các nguồn thông tin này

VFCA không chịu trách nhiệm cho bất cứ thiệt hại nào hay

sự kiện bị coi là thiệt hại đối với việc sử dụng toàn bộ hay bất kỳ thông tin hoặc nhận định nào của báo cáo này

Báo cáo này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin VFCA khuyến cáo không được sử dụng báo cáo như lời khuyên cho việc tư vấn tài chính, kinh doanh và những vấn đề khác

Trang 3

BÁO CÁO

TTCK VIỆT NAM

6 THÁNG CUỐI NĂM 2020:

KỲ VỌNG VÀ RỦI RO

Trang 4

MỤC LỤC

01.

NHÌN LẠI DIỄN

BIẾN TTCK

VIỆT NAM 6

THÁNG ĐẦU

NĂM 2020

02.

NGUYÊN NHÂN KHIẾN THỊ TRƯỜNG ĐẢO CHIỀU TĂNG MẠNH

03.

ĐỊNH HÌNH CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI TTCK 6 THÁNG CUỐI NĂM 2020

04.

KẾT LUẬN

Trang 5

NHÌN LẠI DIỄN BIẾN TTCK VIỆT NAM 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2020

P H Ầ N 1

Trang 6

Nửa đầu năm 2020 là quãng thời gian đầy xúc cảm của thị trường chứng khoán Việt Nam khi mà sự sợ hãi và lòng tham được đẩy lên kịch điểm

Ngay sauTết âm lịch, đại dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc tháo chạy của giới đầu

tư toàn cầu, trong đó có Việt Nam Chỉ trong tuần đầu tiên của tháng 2, VN-Index

đã có lúc chạm đáy 2 năm Kết thúc tháng, chỉ số này về mức 882 điểm, tương đương giảm 5,8%

Thanh khoản của thị trường tăng mạnh, đặc biệt ở nhóm VN30 khi khối ngoại liên tục bán ròng với quy mô lên đến 2.400 tỷ đồng Đà giảm bao phủ toàn bộ thị trường

Tình hìnhtệ hơn rất nhiều trong tháng 3 với bước ngoặt đến từ “ca nhiễm thứ 17”, kéo theo đó là hàng loạt tin tức xấu về sự lây lan dịch bệnh trong nước Tại nước ngoài, tình hình dịch bệnh cũng rất xấu, giá dầu rớt thảm, sự sợ hãi dâng cao, thị trường rơi vào hoảng loạn

VN-Indexmất tới 25% giá trị trong tháng 3, kết thúc tháng ở mức 662 điểm

Sự sợ hãi thể hiện ngay trong diễn biến thị trường, khi lực bán áp đảo lực mua, tâm lýthận trong bao trùm Nhiều cổ phiếu lớn mất tới gần nửa thị giá như MWG, PNJ, SBT,thậm chí mất hơn nửa như ROS

Khối ngoại giao dịch cực kỳ tiêu cực Chỉ riêng trong tháng 3, khối này đã bán ròng tới trên 7.400 tỷ đồng qua phương thức khớp lệnh Trên sàn HoSE, các ngành bị khối ngoại bán ròng nhiều nhất phải kể đến Tài nguyên, Xây dựng và Vật liệu xây dựng, Thực phẩm và Đồ uống, Dầu khí, Du lịch và Giải trí…

Nhìn lại diễn biến TTCK Việt Nam

6 tháng đầu năm 2020

Trang 7

Diễn biến chỉ số VN-Index từ đầu năm tới nay Nguồn đồ thị: TradingView

Nếu như tháng 3 là tháng của sự sợ hãi thì tháng 4 lại là tháng của lòng tham và bắt đầu rộ lên khái niệm “nhà đầu tư F0”

Thống kê từ Trung tâm Lưu ý Chứng khoán Việt Nam (VSD) cho thấy, số lượng

mở mới tài khoản chứng khoán tăng cao kỷ lục trong tháng 3 và tháng 4 Cùng lúc

đó, dòng tiền bắt đáy lò dò vào thị trường sau thời gian giảm sâu, quy mô bắt đáy sauđó ngày càng lớn, đẩy thanh khoản lên cao

Chốt tháng, VN-Index tăng tới 16% lên mức 769 điểm, lan tỏa trên toàn thị trường Các cổ phiếu giảm nhiều nhất trong tháng 3 cũng là các cổ phiếu tăng mạnh nhất trong tháng 4

Dù vậy, đa số các thành viên có kinh nghiệm trên thị trường vẫn bày tỏ hoài nghi

về đà tăng này trong bối cảnh lo ngại rủi ro dịch bệnh và suy thoái kinh tế vẫn ở mức cao

Nhìn lại diễn biến TTCK Việt Nam

6 tháng đầu năm 2020

Trang 8

Khối ngoại phần nào cũng bị chi phối bởi sự hoài nghi trên nên tiếp tục bán ròng ở tất cả các phiên giao dịch trong tháng 4 với tổng khối lượng bán ròng khớp lệnh lên đến hơn 5.000 tỷ đồng trên sàn HoSE Họ tập trung bán ròng ở các ngành Ngân hàng,Bất động sản, Xây dựng và Vật liệu xây dựng, Năng lượng, Tiêu dùng…

Cũng trong tháng 4, kết quả kinh doanh quý I/2020 của các doanh nghiệp niêm yết cũng lộ diện với lợi nhuận giảm bình quân khoảng 28% so với cùng kỳ năm 2019

Sự hoài nghi ngày càng giảm khi đà phục hồi tiếp diễn trong tháng 5, thậm chí thị trường chứng khoán Việt Nam còn là một trong những thị trường phục hồi mạnh nhất thế giới VN-Index tăng hơn 12% trong tháng 5, lên 864 điểm

Thanhkhoản bình quân hàng ngày duy trì ở mức cao, trên 4.000 tỷ đồng, cộng với việc số lượng tài khoản mở mới chứng khoán tiếp tục ở mức cao trong tháng 5 củng cố thêm quan điểm rằng dòng tiền đang chảy từ kênh gửi tiền ngân hàng sang kênhchứng khoán sau động thái hạ lãi suất liên tục từ phía cơ quan quản lý

Dù vậy, khối ngoại vẫn bán ròng, tuy nhiên, mức độ bán ròng đã thu hẹp đáng kể với chưa đầy 500 tỷ đồng trên sàn HoSE

Sang tháng 6/2020, VN-Index dao động với biên độ rất lớn, có lúc đã chinh phục thành công mốc 900 điểm nhưng sau đó đã giảm rất mạnh và kết thúc tháng ở mức 825 điểm Thanh khoản thị trường và số lượng tài khoản chứng khoán mở mới tiếp tục ở mức cao

Nhìn lại diễn biến TTCK Việt Nam

6 tháng đầu năm 2020

Trang 9

NGUYÊN NHÂN KHIẾN THỊ TRƯỜNG ĐẢO CHIỀU TĂNG MẠNH

P H Ầ N 2

Trang 10

Sự kiện Covid-19 đẩy lòng tham và sự sợ hãi trên thị trường chứng khoán lên đến đỉnh điểm nhưng chính trong giai đoạn giới đầu tư phản ứng cực đoan lại làm lộ rõ những yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất đến thị trường, trong đó phải kể đến yếu tố

dòng tiền.

Cho đến thời điểm hiện tại, nhiều thành viên thị trường vẫn chưa đủ lòng tin vào

“thế hệ F0” Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, “thế hệ F0” trước nay vẫn liên tục được tạo ra, riêng ở thời kỳ này, việc lãi suất giảm sâu đã kích hoạt sự bùngnổ của “thế hệ F0”

Lượng tài khoản nhà đầu tư trong nước mở mới duy trì ở mức rất cao suốt từ tháng

3/2020 đến nay Nguồn: VSD

Nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán

đảo chiều tăng mạnh

Trang 11

Dù F0, F1 hay Fn thì bản chất là việc giảm lãi suất đã làm thay đổi “áp suất” giữa các kênh đầu tư và khiến một lượng tiền đáng kể chảy từ kênh gửi tiền ngân hàng sang kênh cổ phiếu Đây là nguyên nhân quan trọng nhất khiến thị trường đảo chiều tăng mạnh trong thời gian qua

Dù vậy, yếu tố cơ bản mà ở đây là sự thịnh vượng/suy thoái của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng Yếu tố này tác động trực tiếp lên kỳ vọng của giới đầu tư vào triển vọng lợi nhuận của doanhnghiệp, qua đó tác động đến định giá trên thị trường chứng khoán

Ảnh minh họa: Chênh lệch lợi suất khiến dòng tiền dịch chuyển từ kênh gửi tiền ngân hàng

sang kênh đầu tư cổ phiếu

Nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán

đảo chiều tăng mạnh

Trang 12

ĐỊNH HÌNH CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI TTCK 6 THÁNG CUỐI NĂM 2020

P H Ầ N 3

Trang 13

Cổ phiếu vừa là tài sản tài chính, nhưng cũng đại diện cho giá trị của doanh nghiệp nên thị giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 2 yếu tố chính: dòng tiền (chi phối đặc tính tài sản tài chính) và lợi nhuận (chi phối đặc tính đại diện giá trị của doanh nghiệp).

Lãi suất – chỉ báo dẫn dắt dòng tiền

Tại Việt Nam hiện nay, có 4 kênh đầu tư chính: cổ phiếu, vàng, bất động sản và gửi tiền ngân hàng Các kênh đầu tư này được ví như bình thông nhau Dòng tiền chảy qua lại giữa các kênh đầu tư theo chênh lệch lợi suất, trong đó, kênh ngân hàngchứa đựng lượng tiền có quy mô và tính thanh khoản lớn nhất

Với đông đảo nhà đầu tư, cổ phiếu là kênh đầu tư ngắn hạn Mỗi giao dịch mua – bán thường hoàn tất trong thời gian dưới 6 tháng (thậm chí tính bằng ngày) Xét theo kỳ hạn, trong số các kênh đầu tư hiện nay, kênh đầu tư cổ phiếu khá tương đồng với kênh gửi tiền ngân hàng kỳ hạn dưới 6 tháng

Định hình các yếu tố chi phối TTCK

trong nửa cuối năm 2020

Ảnh minh họa:

Lãi suất thay đổi,

dòng tiền thay đổi

Trang 14

Kết thúc phiên 9/7, chỉ số VN-Index đóng cửa ở mức 876,46 điểm với P/E khoảng 14,5 lần Mức P/E này tương đương lợi suất (Earning Yields – tính bằng cách đảo ngược P/E) ở mức 6,9%

Tạm bỏ qua kỳ vọng lợi nhuận, mức lợi suất của kênh đầu tư cổ phiếu rõ ràng đang cao hơn nhiều kênh gửi tiền ngân hàng kỳ hạn dưới 6 tháng (mức trần lợi suất chỉ 4,5%/năm), cho thấy kênh cổ phiếu đang tỏ ra hấp dẫn hơn

Thậm chí, ở thời điểm hiện tại, mức lợi suất 6,9% còn cao hơn cả tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng, thậm chí trên 1 năm ở nhiều ngân hàng thương mại lớn

Biến động của VN-Index và P/E tương ứng từ đầu năm tới nay Nguồn: FiinGroup

Định hình các yếu tố chi phối TTCK

trong nửa cuối năm 2020

Trang 15

Lợi nhuận – yếu tố tác động trực tiếp đến mức định giá của thị trường cổ phiếu

P/E – chỉ tiêu định giá phổ biến hiện nay – vốn hình thành từ thị giá (P) và lợi nhuận (thể hiện qua E, viết tắt của EPS – lợi nhuận cơ bản trên mỗi cổ phiếu) Vì vậy, sự thay đổi về lợi nhuận doanh nghiệp sẽ ngay lập tức tác động đến P/E và làm thay đổi lợi suất cổ phiếu Chẳng hạn, lợi nhuận giảm thì P/E tăng và lợi suất

cổ phiếu giảm

Như vậy, lợi nhuận giảm sẽ làm giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu Cũng nghĩa là nếu mức giảm lợi nhuận đủ lớn thì lợi suất của kênh đầu tư cổ phiếu có thể giảm xuống mức thấp hơn so với lợi suất của kênh gửi tiền ngân hàng kỳ hạn dưới 6 tháng, khiđó, dòng tiền sẽ chảy từ kênh cổ phiếu sang kênh gửi tiền ngân hàng kỳ hạn dưới 6 tháng

Tính toán cho thấy, nếu VN-Index giữ nguyên ở mức 876,46 điểm như thời điểm kết thúc phiên 9/7 thì EPS phải giảm trên 35% mới khiến lợi suất của kênh đầu tư

cổ phiếu xuống thấp hơn mức trần lợi suất của kênh gửi tiền kỳ hạn dưới 6 tháng

Lợi nhuận – yếu tố tác động trực tiếp đến mức

định giá của thị trường cổ phiếu

Trang 16

Dự đoán mức suy giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trong năm 2020

là vô cùng khó khăn, không chỉ đối với giới đầu tư mà ngay chính với bản thân doanhnghiệp, bởi bối cảnh chung vẫn rất bất định

Theo quanđiểm của chúng tôi, nhà đầu tư có thể đưa ra dự đoán cá nhân về mức suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết và căn cứ vào chênh lệch giữa lợi suất kỳ vọng của kênh đầu tư cổ phiếu và lợi suất kênh gửi tiền kỳ hạn dưới 6 tháng, cùngvới mức độ chấp nhận rủi ro của bản thân, để ra quyết định đầu tư

Chẳng hạn, nếu nhà đầu tư cho rằng lợi nhuận lũy kế của các doanh nghiệp niêm yết 4 quý tiếp theo (từ quý II/2020 đến quý I/2021) sẽ giảm trên 35% so với cùng

kỳ năm trước đó, đồng nghĩa lợi suất của kênh đầu tư cổ phiếu thấp hơn lợi suất của kênh gửi tiền kỳ hạn dưới 6 tháng, thì nên đứng ngoài quan sát thị trường

Tuy nhiên, nhàđầu tư cũng cần chú ý đến tương quan lợi suất với các kênh đầu tư khác như gửi tiền ngân hàng kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, vàng, bất động sản… để giagiảm mức định giá

Đồng thời, trong trường hợp lợi suất của kênh đầu tư cổ phiếu tỏ ra kém hấp dẫn nhưng thị trường vẫn tăng giá mạnh thì nhà đầu tư cần lưu ý đến hiệu ứng FOMO (hội chứng lo sợ bị bỏ lỡ), nếu không phải nhà đầu tư ưa rủi ro thì không nên tham gia

Lợi nhuận – yếu tố tác động trực tiếp đến mức

định giá của thị trường cổ phiếu

Tóm lại, sự thay đổi lãi suất làm thay đổi lợi suất kênh gửi tiền ngân

hàng, sự thay đổi lợi nhuận doanh nghiệp làm thay đổi lợi suất kênh đầu tư cổ phiếu Dòng tiền sẽ chảy từ nơi có lợi suất thấp về

nơi có lợi suất cao hơn.

Trang 17

Yếu tố rủi ro hàng đầu: Lạm phát

Thống kê cho thấy, có 3 loại khủng hoảng kinh tế chính: khủng hoảng theo sự kiện, khủng hoảng do đổ vỡ cấu trúc kinh tế và khủng hoảng theo chu kỳ

Cuộc khủng hoảng hiện tại đã bắt đầu với hình hài của một cuộc khủng hoảng theo

sự kiện (dịch Covid-19) khiến thị trường chứng khoán giảm sâu trong tháng 3 trước khi phục hồi trở lại nhờ chính sách giảm lãi suất, bơm tiền rẻ ở đa số các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Ở kịch bản tồi tệ, tiếp nối cuộc khủng hoảng theo sự kiện sẽ là cuộc khủng hoảng

dođổ vỡ cấu trúc kinh tế và cuối cùng là khủng khoảng theo chu kỳ (do lạm phát –

hệ quả của chính sách bơm tiền)

Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, cấu trúc kinh tế hiện tại, đặc biệt là cấu trúc hệ thống tài chính – ngân hàng ở cả Việt Nam và các nước lớn trên thế giới, trong đó có Mỹ, vẫn khá lành mạnh, cùng với đó, bong bóng tài sản chưa phải ở mức cao Do đó, khả năng xảy ra đổ vỡ cấu trúc kinh tế là thấp

Dựa trên quan điểm như vậy, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng tiếp nối cuộc khủng hoảng theo sự kiện sẽ là cuộc khủng hoảng theo chu kỳ, với tác nhân quan trọng nhất là lạm phát

Yếu tố rủi ro hàng đầu: Lạm phát

Trang 18

Lạm phát là “kẻ thù” của thị trường chứng khoán Có thể thấy rất rõ điều này khi nhìn vào“cú đổ đèo” kinh điển năm 2007 - 2009, khi VN-Index giảm “một mạnh” từ mức trên 1.100 điểm hồi tháng 10/2007 xuống dưới 250 điểm trong quý I/2009, nghĩa là mất tới hơn 850 điểm, trong đó, riêng năm 2008 đã mất khoảng 600 điểm điểm

Cùng thời kỳ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2008 tăng tới gần 23%, các ngân hàng đồng loạt tăng vọt lãi suất để giữ chân người gửi tiền, cũng là thực hiện nhiệm vụ hút tiền về nhằm kiềm chế lạm phát Kênh gửi tiền ngân hàng tỏ ra vượt trội về lợi suất so với các kênh đầu tư khác, đặc biệt khi so với kênh cổ phiếu nên dòngtiền đã rút rất mạnh khỏi thị trường cổ phiếu, gây ra sự sụp đổ

“Cú đổ đèo” kinh điển năm 2007 – 2009 của VN-Index Nguồn: VNDirect

Chưa kể đến các yếu tố nội tại từ trước khi xảy ra dịch Covid-19, chỉ riêng việc liên tục bơm tiền rẻ ra thị trường nhằm kích thích kinh tế cũng đã và đang tạo ra áp lực lớn lên lạm phát Đặc biệt, các yếu tố khủng hoảng, trong đó có lạm phát, thường đến rất bất ngờ nên việc đưa ra dự báo về thời điểm lạm phát leo cao là điều khó khăn

Tuy nhiên, trongphạm vi của báo cáo này, chúng tôi cho rằng xác suất lạm phát đe

Yếu tố rủi ro hàng đầu: Lạm phát

Trang 19

KẾT LUẬN

Theo nhận định của chúng tôi, việc lãi suất đồng loạt giảm sâu đã khiến lợi suất của kênh gửi tiền ngân hàng trở nên kém hấp dẫn, từ đó kích hoạt dòng tiền lớn chảy sang kênh đầu tư cổ phiếu vốn có lợi suất hấp dẫn hơn.

Chúng tôi cũng đánh giá rằng, trong nửa cuối năm 2020, mặc dù áp lực lạm phát sẽ lớn dần, tuy nhiên mức độ đe dọa đến thị trường chứng khoán là thấp.

Kịch bản mà chúng tôi xây dựng chỉ ra rằng, VN-Index trong nửa cuối năm

2020 hoàn toàn có khả năng tiệm cận mốc 960 điểm hồi đầu năm, trong trường hợp dịch Covid-19 không tái bùng phát tại Việt Nam.

Trang 20

LIÊN HỆ VỚI VFCA

Hotline: 0942 460 350

vfcavn@gmail.com

Tầng 8, số 152 Phó

Đức Chính, phường

Trúc Bạch, quận Ba

Đình, Hà Nội

Website: www.vfca.vn

(024) 3823.9030

Ngày đăng: 21/06/2022, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Định hình các yếu tố chi phối TTCK trong nửa cuối năm 2020 - Báo cáo TTCK Việt Nam tháng cuối năm 2020: Kỳ vọng rủi ro
nh hình các yếu tố chi phối TTCK trong nửa cuối năm 2020 (Trang 13)
Định hình các yếu tố chi phối TTCK trong nửa cuối năm 2020 - Báo cáo TTCK Việt Nam tháng cuối năm 2020: Kỳ vọng rủi ro
nh hình các yếu tố chi phối TTCK trong nửa cuối năm 2020 (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm