1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN

51 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức sản xuất chương trình “Dự báo thời tiết” của Đài THVN
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, chương trình DBTT của Đài THVN được đôngđảo người dân quan tâm theo dõi, đóng góp nhiều thành tựu cho công cuộcphòng tránh thiên tai, thảm họa song cũng tồn tại một

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm

ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặtvới các loại hình thiên tai, hàng năm chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai,làm thiệt hại về người và của vô cùng to lớn Ngoài mối nguy hiểm từ thiêntai thì ngay trong hệ thống thời tiết cũng có sự bất ổn định, phức tạp của hệthống nhiệt đới gió mùa ẩm

Chính vì vậy trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vựctrên cả nước, gây ra nhiều tổn thất về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh

tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường, ảnh hưởng rất lớn đến pháttriển kinh tế xã hội Chỉ tính trong 15 năm gần đây (1996 - 2011), các loạithiên tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập hạn hán và các thiên taikhác đã làm chết và mất tích hơn 10.711 người (năm 1996: 1.243 người, năm1997: 3.083 người), giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1-1,5%

GDP/năm Dự báo, thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về quy mô

cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng chống và giảm nhẹ thiêntai cũng như công tác dự báo thời tiết, khí hậu trong thời gian qua đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng đóng góp cho việc duy trì phát triển kinh tế, ổnđịnh xã hội của đất nước

Với ưu thế là một Đài quốc gia, Đài Truyền hình Việt Nam (từ đây viếttắt là THVN) có thế mạnh về công nghệ hình ảnh, âm thanh với đội ngũphóng viên, biên tập viên nhiều kinh nghiệm, năng động, linh hoạt đã từngbước cải tiến các chương trình truyền thông trên truyền hình Hoạt động sảnxuất chương trình “Dự báo thời tiết” (từ đây viết tắt là DBTT) đến nay đã có

Trang 2

bước tiến đáng kể, góp phần giúp các bản tin trở nên trực quan, truyền tảithông tin một cách sinh động tới công chúng

Trong thời gian qua, chương trình DBTT của Đài THVN được đôngđảo người dân quan tâm theo dõi, đóng góp nhiều thành tựu cho công cuộcphòng tránh thiên tai, thảm họa song cũng tồn tại một số khó khăn, hạn chế.Thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới xung quanh chương trình này, đòihỏi phải tăng cường năng lực của hoạt động tổ chức sản xuất chương trìnhnhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của công chúng

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hoạt động tổ chức sản xuất chươngtrình DBTT của Đài THVN hiệu quả hơn nữa nữa nhằm đảm bảo thông tinđến người dân nhanh nhất, chi tiết nhất và dễ hiểu nhất; để từ đó phục vụcông tác cảnh báo sớm, ứng phó với thiên tai, thảm họa

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn như vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình “Dự báo thời tiết” của Đài THVN” cho luận văn

thạc sỹ Báo chí học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu, đến nay vẫn chưa thấy

có công trình nghiên cứu nào đã công bố nào trùng hợp với đề tài của chúngtôi trừ một vài khóa luận tốt nghiệp đại học báo chí, một số luận văn có nóiđến tổ chức chương trình, sản xuất chương trình truyền hình Có thể kể đếnmột số công trình sau đây:

+ Nguyễn Thị Mai Hồng (2006) “Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, Tiểu luận, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền, Hà Nội

Tiểu luận chỉ ra một số xu hướng phát triển của truyền hình về nộidung, công nghệ, sự phát triển của thể loại truyền hình tương tác Vấn đề sảnxuất chương trình tuy cũng được tác giả đề cập nhưng do khuôn khổ và mục

Trang 3

đích của tiểu luận nên nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở sự liệt kê nhữngbiểu hiện của hoạt động sản xuất chương trình truyền hình Việc phân tíchsâu, kỹ để chỉ ra bản chất, lộ trình, nguyên tắc thực hiện XHH và những vấn

đề ngành truyền hình Việt Nam phải đối mặt khi tham gia tiến trình này cònrất chừng mực, sơ sài

+ Nguyễn Thị Tuyết (2007 “Truyền hình Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá thông tin”, Khoá luận tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí và

Tuyên truyền, Hà Nội

Khoá luận này chủ yếu tập trung phân tích vai trò, trách nhiệm củatruyền hình Việt Nam với việc thông tin tuyên truyền trong bối cảnh toàn cầuhoá Toàn cầu hoá vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với xã hội nói chung,đối với các phương tiện truyền thông nói riêng Để hội nhập, cạnh tranh đượcvới truyền hình các nước phát triển trên thế giới những người làm truyền hìnhphải không ngừng nâng cao chất lượng chương trình, mở rộng diện phát sóng.Khoá luận khẳng định để làm được điều này, một trong những giải pháp cần

đề cập tới là phải đẩy nhanh xã hội hóa truyền hình Toàn bộ khoá luận 69trang, nhưng chỉ có một trang đề cập đến vấn đề xã hội hóa thông tin Điềunày chưa thể phân tích một cách cặn kẽ trong quá trình sản xuất chương trìnhtrong bối cảnh toàn cầu hóa - một vấn đề lớn và nóng trong lĩnh vực truyềnhình hiện nay

+ Đinh Quang Hưng (1996) “Những phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản phẩm truyền hình cho phù hợp với cung cầu về truyền hình ở Việt Nam hiện nay” , Luận án tiến sỹ khoa học kinh tế - Trường

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

Luận án phân tích thực trạng chất lượng các sản phẩm truyền hình hiệnnay đồng thời chỉ ra các yếu tố tác động làm cho các sản phẩm của ngànhtruyền hình Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khán

Trang 4

giả Tuy không đề cập trực tiếp đến vấn đề phát triển sản phẩm truyền hình,nhưng những lý giải về nguyên nhân và một số giải pháp đưa ra có thể thấyđược bóng dáng của vấn đề này như: việc khai thác, sử dụng nguồn vốn,nguồn chất xám từ mọi nguồn lực xã hội để góp phần vào việc nâng cao chấtlượng, cải tiến chương trình truyền hình Do mục đích của luận án chỉ nghiêncứu về cung - cầu các sản phẩm truyền hình trong nền kinh tế thị trường, tìmnhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tin bài, chất lượng phát sóng dovậy, những đề xuất về mô hình, lộ trình, phương pháp hợp tác giữa các đàitruyền hình với các đối tác bên ngoài mới chỉ được luận án đề cập ở mức gợi

mở Vấn đề phát triển sản xuất trên truyền hình chưa được lý giải, phân tíchmột cách cặn kẽ

+ Phan Thị Hoài (2008) “Xã hội hoá truyền hình qua sản xuất chương trình Thế hệ tôi ở VTV6 Đài truyền hình Việt Nam - Khảo sát từ tháng 8/2007 đến tháng 4/2008”, Khoá luận tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí và

Tuyên truyền, Hà Nội)

Giống như những nghiên cứu trên, khóa luận này cũng chỉ đề cập đếnnhìn nhận vấn đề xã hội hóa sản xuất trên truyền hình qua khảo sát mộtchương trình cụ thể Chính vì vậy, việc đúc rút để tìm ra quy luật, cùng nhữngphương thức, mô hình xã hội hóa sản xuất truyền hình ở quy mô lớn hoàntoàn chưa thực hiện được

+ Lê Thị Thu Hòa (2008) “Xã hội hóa sản xuất các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát từ tháng 1/2007 đến hết tháng 6/2008),

Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

Trang 5

hình là gì? Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là nói đến đối tượngnào? Ai được tham gia? Có các hình thức xã hội hóa nào? Luận văn chưa chỉ

ra được mâu thuẫn lớn nhất trong quá trình hợp tác này là gì? Chính vì khung

lý thuyết chưa rõ ràng, mạch lạc cho nên đến phần phân tích thực trạng thiếu

cơ sở soi chiếu để đưa ra bức tranh thuyết phục cũng như những đặc trưng củachương trình trên Đài THVN là gì?

Tuy nhiên, những khóa luận, luận văn, này thường chỉ dừng ở cấp độ

mô tả chứ chưa đạt tới được những khái quát có tính khoa học

Trong khoảng 5 năm vừa qua, trong số các đề tài luận án tiến sỹ và luậnvăn thạc sỹ Báo chí học ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền và ở Trường Đạihọc KHXH&NV Hà Nội chung tôi không thấy có đề tài nào đề cập đếnchương trình DBTT trên sóng truyền hình nói chung và của Đài THVN nóiriêng

Vấn đề sản xuất chương trình truyền hình, tổ chức sản xuất chương trìnhcòn được đề cập tới trong định hướng phát triển của Đảng, trong các vănkiện, nghị quyết, các văn bản pháp quy

Trong định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu, văn kiện Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), đã đề cập đề cụm từ “xã hội hóa” Văn

kiện nêu rõ: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội” [41, tr.114].

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, tại Đại hội Đại

biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng đề cập: “Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hóa, thể thao ” [42, tr.209]

Trang 6

Đến Đại hội X, trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2006 - 2010, vấn đề xã hội hóa thông tin báo chí nói riêng đã được đềcập rõ nét hơn Văn kiện có nhấn mạnh:

Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia [43, tr.214]

Gần đây nhất, có Thông tư số 19/2009/TT - BTTTT của Bộ TT & TT,quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh,truyền hình Hay, Nghị định số 02/2011/NĐ - CP của Chính phủ, quy định xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản

Đó là những định hướng tư tưởng, những quy định, quy chế quan trọnggóp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình nói riêng Những qui định này đã giúp cho các hoạtđộng trong truyền hình được quản lý tốt hơn, tuy nhiên do còn mang tính kháiquát, còn những điểm chưa bắt kịp yêu cầu thực tế vì vậy sự phát triển củahoạt động truyền hình thời gian qua vẫn còn khá nhiều bất cập

Do đó, có thể nói đề tài của luận văn này là một đề tài mới, không trùnglặp với những đề tài đã được công bố trước đây

3 Giả thuyết nghiên cứu

- Chương trình DBTT của Đài THVN là một chương trình đặc biệttrong hệ thống các chương trình thông tin của Đài THVN, thường xuyên thu

Trang 7

hút một lượng khán giả rất đông đảo Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đềtài nghiên cứu nào khảo sát hoạt động tổ chức sản xuất chương trình này.

- Sau nhiều năm xuất hiện trên sóng, bên cạnh những thành công,chương trình DBTT của Đài THVN đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm cầnđược nhanh chóng khắc phục

- Việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng hoạt động tổ chức sảnxuất chương trình DBTT của Đài THVN để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế làmột việc làm cần thiết, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để qua đó đề ra các giảipháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tác động củachương trình này

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Làm sáng tỏ thực trạng của hoạt động tổ chức sản xuất chương trìnhDBTT của Đài THVN, qua đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằmgóp phần nâng cao chất lượng của chương trình

Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn cần phải thực hiện một

số nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

-Khảo sát các tài liệu cần thiết nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết

có liên quan đến đề tài

- Khảo sát thực tế hoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT củaĐài THVN để rút ra các cứ liệu nghiên cứu thực tế

-Thực hiện các cuộc trao đổi, thảo luận, tọa đàm nhằm thu thập những

ý kiến, quan niệm, luận điểm cho quá trình nghiên cứu

-Trên cơ sở chỉ ra các ưu, nhược điểm; những thành công, hạn chế củahoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của Đài THVN, luận văn đềxuất một số giải pháp và khuyến nghị cần thiết nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả tác động của chương trình

Trang 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Là những thành công, hạn chế và vấn đề đang

đặt ra trong hoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của Đài THVN

-Đối tượng và phạm vi khảo sát: Là hoạt động của người trực tiếp sản

xuất chương trình DBTT của Đài THVN, bao gồm các công việc cụ thể như:khai thác thông tin về dự báo thời tiết; liên kết với các bộ phận khác trong vàngoài Đài để tổ chức sản xuất chương trình; lên hình; tham gia xử lý hậu kỳsau khi thu v.v

Thời gian khảo sát được giới hạn từ đầu năm 2012 đến tháng 6/2013

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này tôi sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu

được tiến hành đối với các công trình khoa học lí luận về tổ chức sản xuấtchương trình truyền hình của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố.Phương pháp này được sử dụng với mục đích khái quát, bổ sung hệ thống líthuyết về truyền hình nói chung và hoạt động sản xuất chương trình truyềnhình, tổ chức sản xuất chương trình truyền hình nói riêng Đây chính là những

lí thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải phápkhoa học cho vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu các sách nghiên cứu, giáo trình, văn bản, nghị quyết, chỉthị, văn bản lưu trữ của các chương trình DBTT nhằm thu thập và hệ thốnghóa các vấn đề lý luận để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

- Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để khảo sát các hoạt động

tổ chức sản xuất chương trình DBTT của Đài THVN Phương pháp này đượcdùng để xác định ý tưởng nghiên cứu, phác thảo bức tranh về thực trạng, xácđịnh những vấn đề đặt ra trong hoạt động tổ chức sản xuất của chương trình

dự báo thời tiết của Đài truyền hình Việt Nam

Trang 9

- Phương pháp phân tích nội dung được sử dụng để phân tích các

chương trình DBTT của Đài THVN, qua đó chỉ ra những thành công, hạn chế

và những vấn đề đang đặt ra

- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với khoảng 15 – 20

người là các biên tập viên, MC của chương trình DBTT, các cán bộ, quản lý

và những người trực tiếp tham gia sản xuất chương trình này

- Các phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để đánh gia những kết quả

nghiên cứu, qua đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị cần thiết, phù hợp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống một cách tổngquát, chuyên sâu về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của ĐàiTHVN

Việc phân tích để làm sáng tỏ thực trạng, chỉ ra những đặc điểm, ưuđiểm, hạn chế của hoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của ĐàiTHV và nêu ra những giải pháp, khuyến nghị sẽ là những đóng góp mới vừa

có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn và có thể góp phần nâng cao chất lượngchương trình DBTT ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Ngoài ra, luận văn còn cung cấp các cứ liệu cho việc nghiên cứu vềhoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của các Đài truyền hình trong

cả nước, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động này

8 Kết cấu của luận văn

Trong luận văn này sau phần mở đầu, các nội dung chính được trình

bày trong 3 chương, 6 tiết.

Cuối luận văn sau Tài liệu tham khảo còn có phần Phụ lục gồm những

tài liệu liên quan đến đề tài

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.1.Tổ chức sản xuất, tổ chức sản xuất chương trình truyền hìnhTheo tiến sĩ Hà Huy Phượng trong cuốn Tổ chức nội dung thết kế, trình

bày báo in có đề cập đến “Tổ chức nội dung báo và tạp chí là việc lập kế hoạch nội dung từng số báo, trang báo, tạp chí sắp xuất bản, tổ chức thực hiện để đạt được mục đích mục tiêu và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng mà cơ quan báo chí đó hướng đến” [2, tr 2]

Theo từ điển tiếng Việt “tổ chức là (1) làm cho một chỉnh thể có mộtcấu tạo, một cấu trúc và những chứng năng ching nhất đinh Tổ chức mộtđoàn thám hiểm, tổ chức bộ máy giúp việc, từ được tổ chức thành câu (2) kếthợp hạn chế Làm cho có tổ chức, có nề nếp Tổ chức đời sống gia đình (3)làm những gì cần thiết đề tiến hình một hoạt động nào đó nhằm có đượnghiệu quả tốt nhất Tổ chức hội nghị Tổ chức đi tham quan (4) (dùng cho d).làm công tác tổ chức của cơ quan và công tác cán bộ, tổ chức cán bộ (nói tắt).Phòng tổ chức cán bộ tổ chức của xí nghiệp Các công tác tổ chức (5) (kng).Đưa cào, kết nạp vào tổ chức nào đó Đực tổ chức vào Đoàn thnah niên (6)(kng) tổ chức lễ cưới (nói tắt) hai anh chị sẽ định tổ chức vào cuối năm” II d(1) Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung,nhằm một mục đúc chung Tổ chức công đoàn Các tổ chức quần chúng Môt

tổ chức khoa học 2 Tổ chức chính trị - xã hội có kỷ luật chặt chẽ, trong quan

hệ với các thành viên của nó Phát biểu trong tổ chức, có ý nghĩa tổ chức” [ ,

tr 1007]

Trang 11

Sản xuất: (I) Tạo ra của cải vật chất, nói chung Sản xuất lương thực, sản xuất vận dụng tiêu dùng (II) Hoạt động sản xuất, cấu tạo ra vật phẩm cho

xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động Sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp [ , tr 845]

Chương trình: (1) toàn bộ nói chung những dự kiến hoạt động theo mộtchương trình nhất định và trong một thời gian nhất định, nêu một các vắn tắt.Chương trình làm việc thông qua chương trình nghị sự (2) (cũ) Như cươnglĩnh, chương trình của một chính đảng (3) toàn bộ nội dung học tập, giảng dạynêu một cách vắn tắt, được quy định chính thức cho từng môn học, bậc học,cấp học, (4) Dẫy các lệnh được viết theo một cú pháp nhất đinh, mô tả cácgiải quyết một bài toán trên máy tính, hay trong một ngôn ngữ lập trình [ , tr193]

Truyền hình: truyền hình ảnh, thường đồng thời có cả âm thanh Đi xãbằng radio hoặc bằng đường dây [ ,tr 1053]

Như vậy có thể hiểu Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là tổchức sắp sếp các quy trình một các chặt chẽ một sản phẩm được sắp xếp mộtcách trình tự để truyền được tín hiệu hình ảnh đồng thời có cả âm thanh

1.1.1.2 Chương trình truyền hình

- Chương trình truyền hình

So với các loại hình truyền thông khác, truyền hình mãi đến đầu thế kỉ

XX mới ra đời Mặc dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng do biết phát huy, lựa chọnnhững tinh hoa của các loại hình đi trước như hội họa, nhiếp ảnh, báo in, phátthanh đặc biệt là điện ảnh, nên truyền hình đã nhanh chóng chiếm được vị tríquan trọng trong công chúng

Sự xuất hiện của truyền hình như một điều thần kỳ trong sáng tạo củacon người Nhiều tài liệu đã xếp truyền hình là một trong một số ít phát minh

vĩ đại của thế kỷ XX bởi nó đã góp phần làm thay đổi cơ bản phương thức

Trang 12

sống và phương thức tư duy của con người, đưa nền văn minh của con ngườilên một tầm cao mới

Nhờ có hình ảnh và âm thanh, truyền hình đã chuyển tải đến cho côngchúng những thông tin - những “món ăn tinh thần” chân thực, sinh động hấpdẫn

Những “món ăn” này là những thể loại truyền hình phong phú nhưng

chúng “ít khi tồn tại dưới dạng thuần khiết”, [44, tr.103] rời rạc mà chúng

thường là những viên gạch, những bộ phận cấu thành để tạo ra những cấu trúctruyền hình phức tạp hơn Cấu trúc này được những người làm truyền hình

gọi là chương trình truyền hình

Tuy nhiên, trên thực tế các chương trình truyền hình không phải là sự lắpghép một cách cơ học các thể loại truyền hình để thành một sản phẩm lớn màgiữa chúng cần có những đường khâu nối hoặc những “gia giảm” để sảnphẩm hoàn thiện đó đến với công chúng một cách hoàn hảo

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, NXB

Chính trị - quốc gia, H, 2001: “Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định và được phát đi theo định kỳ” [95, tr.142] Thực tế,

ngoài những tin, bài (thể loại tin, hoặc phóng sự, hoặc phỏng vấn ), để định

vị, tồn tại độc lập được, chương trình thường có hình hiệu, nhạc hiệu, lời dẫn(làm nhiệm vụ khâu nối các phần)

Chính hình thức và cấu trúc như vậy nên thời lượng chương trình truyềnhình thường lớn, tính chất, nội dung thông tin của chương trình phong phú

Để có một chương trình truyền hình với đặc điểm, tính chất như thế, quy trìnhsản xuất luôn phức tạp, tốn kém về cả nhân lực, thời gian

- Sản xuất chương trình truyền hình

Trang 13

Để có những chương trình truyền hình, cần phải trải qua một quy trìnhvới nhiều công đoạn khác nhau

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình sản xuất một chương trình TH

và nguồn tài chính hợp lí để làm nên sản phẩm truyền hình - chương trìnhtruyền hình

“So với các loại hình báo chí khác, hoạt động làm nên sản phẩm truyềnhình có tính đặc thù: đó là hoạt động mang tính tập thể Nghĩa là, người làmnên sản phẩm truyền hình không chỉ là phóng viên mà là tập thể gồm nhiềungười với nhiều chuyên môn, trong đó phóng viên đóng vai trò chủ đạo

Trang 14

Ở Việt Nam, chức danh “phóng viên” đã được đưa vào văn bản pháp lí.Phóng viên là người làm việc trong tổ chức pháp nhân cụ thể như tòa soạnbáo hoặc đài phát thanh, đài truyền hình Trong Quyết định số 48/TCCP – VPcủa Bộ trưởng – Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ về việc ban hànhtiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành Văn hóa – Thông tin, đã quy

định “phóng viên”: “là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan báo chí, thực hiện viết tin, bài, chụp ảnh, quay phim các loại hình báo chí”

[6, tr.190]”

Tùy từng loại hình truyền thông số lượng phóng viên tham gia để làmnên một sản phẩm báo chí là khác nhau Với một chương trình truyền hình,thường cần tới một nhóm người thực hiện - được gọi là êkip Mỗi êkip thường

có khoảng 2, 3 phóng viên Cũng có trường hợp, do quy mô, tính chất chươngtrình, êkip sản xuất chương trình có thể lên tới hàng chục, người thậm chí cảtrăm người với các chức danh khác nhau

Hình 1.2: Sơ đồ nhân sự tham gia sản xuất một chương trình TH

Chương trình truyền hình là sản phẩm do một tập thể thực hiện Trong

đó, mỗi thành viên là một mắt xích trong dây chuyền sản xuất Chất lượngchương trình phụ thuộc vào năng lực của từng thành viên trong êkip Vậy nên,

Trang 15

dù ít hay nhiều người tham gia sản xuất thì mỗi thành viên đều cần phải cótrách nhiệm trong việc chung sức thực hiện chương trình

Bên cạnh yếu tố con người, để làm nên sản phẩm truyền hình, máymóc, phương tiện kỹ thuật cũng là yếu tố quan trọng Đó là công cụ chuyểnhóa ý đồ tư tưởng, nội dung thành thông tin hình ảnh, âm thanh sinh độngtrong mỗi một chương trình Máy móc, thiết bị kỹ thuật làm cho truyền hìnhkhác biệt với các loại hình báo chí khác Đây cũng là điều đòi hỏi để có mộtchương trình truyền hình, cần phải có một nguồn lực tài chính lớn hơn nhiều

so với sản phẩm báo chí khác

Hình 1.3: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình

Tóm lại, hoạt động sản xuất chương trình truyền hình là hoạt động làm

ra sản phẩm - các chương trình truyền hình Con người, tư liệu lao động, tàichính là ba yếu tố quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau góp phần cùnglàm nên sản phẩm truyền hình Mỗi yếu tố có một vị trí, vai trò quan trọngtrong việc quyết định chất lượng sản phẩm làm ra

1.1.1.2 Chương trình “Dự báo thời tiết”

Dự báo thời tiết là một ngành ứng dụng của khoa học và công nghệ đểtiên đoán trạng thái và vị trí của bầu khí quyển trong tương lai gần Loàingười đã nỗ lực dự báo thời tiết một cách không chính thức từ nhiều thiênniên kỳ trước, và việc dự báo thời tiết một cách chính thức bắt đầu từ thế kỷmười chín Công tác dự báo thời tiết được thực hiện bằng cách thu thập số

Tài chính Con người

Phương tiện kỹ thuật

Sản phẩm

Trang 16

liệu về trạng thái hiện tại của bầu khí quyển và áp dụng những hiểu biết khoahọc về các quá trình của khí quyển để tiên đoán sự tiến triển của khí quyển.

Nỗ lực dự báo của con người chủ yếu dựa trên cơ cở về sự thay đổi của

áp suất khí quyển, điều kiện hiện tại của thời tiết, và điều kiện bầu trời, các

mô hình dự báo được sử dụng để dự báo trong tương lai Những dữ liệu đầuvào của con người vẫn đòi hỏi phải thực hiện việc lựa chọn mô hình dự báotốt nhất có thể để làm căn cứ cho việc dự báo, bao gồm kĩ năng nhận định cácphần tham gia, teleconnection (liên hệ từ xa), kiến thức về hoạt động của môhình và kiến thức về khuynh hướng của mô hình Do bản chất hỗn loạn củakhí quyển nên cần phải có những siêu máy tính để giải các phương trình mô

tả bầu khí quyển Những sai số trong việc đo đạc các số liệu đầu vào và sựhiểu biết chưa hoàn thiện về các hoạt động của khí quyển đã làm cho công tác

dự báo trở lên ít chính xác trên nhiều địa điểm trong cùng một khoảng thờigian và khi thời gian dự báo tăng lên Việc sử dụng kết hợp và liên ứng các

mô giúp giảm thiểu sai số và chọn ra được kết quả khả quan nhất

Cảnh báo thời tiết là dự báo quan trọng bởi vì nó cung cấp thông tinnhằm bảo vệ cuộc sống con người cũng như tài sản và các hoạt động ngoàitrời Dự báo về nhiệt độ và lượng mưa là quan trọng trong nông nghiệp, giaothông,

Chương trình “dự báo thời tiết”

1.1.1.3.Chương trình “Dự báo thời tiết” của Đài Truyền hình Việt Nam

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình truyền hình

1.1.2.1 Quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình

Trang 17

Có thể thấy hoạt động tổ chức một chương trình truyền hình bắt đầuthục hiên sau khi kịch bản được duyệt Việc thực hiện tiến hành tong điềukiện đặc thù của truyền hình, nó phụ thuộc nhiều vào khả năng, trang thiết bị

kỹ thuật từ khi bắt đầu đến khi phát sóng tới người xem

Sơ đồ khối quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình:

Nhiệm vụ và chức năng của các khối sản xuất chương trình truyền hình:

+ Biên tập, đạo diễn

Biên tập, đạo diễn là những người xây dựng ra các chương trình truyềnhình, là những người sáng tác hoặc dựa theo một kịch bản có sẵn để chuyểnthể thành một kịch bản truyền hình

Kịch bản là một văn bản thể hiện một chương trình bằng từ ngữ, có haidạng kịch bản là: kịch bản quay và kịch bản dựng

- Kịch bản quay là một văn bản thể hiện một chương trình bằng từ ngữgiúp người quay có thể hiểu và thể hiện được ý tưởng của đạo diễn

- Kịch bản dựng là một văn bản thể hiện một chương trình bằng từ ngữgiúp người dựng khi xem kịch bản biết được nội dung từng cảnh, thời lượngcủa mỗi cảnh

Trang 18

kỳ, hậu kỳ, phát sóng).

+ Sản xuất tiền kỳ:

Sau khi phóng viên biên tập có kịch bản hoàn chỉnh, chương trình đượctiến hành quay, ghi hình bằng thiết bị gọn nhẹ trên xe truyền hình lưu động,hay tại studio truyền hình theo ý tưởng và nội dung do biên tập viên hoặc đạodiễn chỉ đạo

Kỹ thuật của chương trình (hình ảnh, âm thanh, ánh sáng…) do các kỹthuật viên chịu trách nhiệm

Cũng có thể ghi các chương trình truyền hình khai thác qua đườngtruyền vệ tinh, cáp quang

Sản phẩm của khâu tiền kỳ là băng hình gốc để sản xuất hậu kỳ, kèmtheo băng là phiếu sản xuất tiền kỳ

Trong trường hợp các chương trình truyền hình trực tiếp, tín hiệu đượctruyền tới phòng tổng khống chế để phát sóng

Trang 19

- Lời thuyết minh, bình luận và lời thoại được ghi vào kênh CH1 ở mứcchuẩn.

- Nhạc và tiếng động nền được đưa vào kênh CH2 để ghi ở mức nền.Sau đó băng được sang hòa âm Đi kèm theo băng thành phẩm là phiếusản xuất hậu kỳ Phiếu này là chứng chỉ chất lượng kỹ thuật của băng chươngtrình, là cơ sở để băng không phải OTK kỹ thuật

+ Duyệt, kiểm tra nội dung

Trước khi đưa vào phát sóng, chương trình phải được duyệt nội dung.Hội đồng nghiệm thu của Đài sẽ duyệt và cho phép phát sóng hay không phátsóng vào phiếu nghiệm thu phát sóng của băng chương trình Nếu cần phảisửa chữa, băng được quay về bắt đầu từ khâu hậu kỳ video

Các băng khai thác hoặc những băng phát lại (thời gian hơn 1 tháng) đềuđược thực hiện trước tiên qua khâu duyệt nội dung, sau đó OTK kỹ thuật vàchuyển đến phòng phát sóng

+ Phát sóng

Thực hiện phát sóng các băng chương trình đã đầy đủ thủ tục quyết định

và thực hiện phát sóng trực tiếp các chương trình studio từ các địa điểm tiếptheo thông qua các đường truyền vệ tinh, cáp quang…

Để nâng cao chất lượng kỹ thuật và nghệ thuật âm thanh của chươngtrình, trung tâm kỹ thuật thực hiện hòa âm Một số chương trình tiến tới sẽthực hiện hòa âm tất cả các chương trình trước khi phát sóng

Sản xuất chương trình Truyền hình luôn luôn có mối quan hệ hữu cơvới kỹ thuật Truyền hình Chính kỹ thuật đã tạo điều kiện cho việc hình thànhcông nghệ và trong khi thực hiện công nghệ lại nảy sinh ra các yêu cầu mớitrở lại với kỹ thuật, đòi hỏi kỹ thuật tìm biện pháp thích ứng cho công nghệthể hiện được nhiều ý định nghệ thuật của sáng tác

Trang 20

ở giai đoạn chuẩn bị đòi hỏi tập trung cao độ về trí óc, tính sáng tạonghệ thuật và tổ chức công viộc Kế hoạch sản xuất phải có giải pháp cụ thể

về nghệ thuật, kỹ thuật, công nghộ, tổ chức thực hiện, khả năng kinh tế, đổngthời phải nêu rõ phương thức thể hiện các ý đồ của đạo diễn, qua đó thấy rõtính khả thi trong điều kiên kỹ thuật hiên có

Công tác chuẩn bị không nên coi nhẹ và rút ngẵn, đơn giản hoá, vì nó

sẽ ảnh hưởng đến các bước sau này, đậc biệt là ảnh hưởng đến quan hệ và sựcộng lác, đến không khí sản xuất

Nếu công tác chuẩn bị tốt, giai doạn thực hiện sẽ chỉ phụ thuộc vàocông nghệ lựa chọn, điều kiện cho phép trong dây chuyền sản xuất để thựchiện các ý đồ của kịch bản

Giai đoạn kết thúc chương trình có ý nghĩa chủ yếu đối với công việctiếp theo, ở đây việc thông báo đầy đủ các dữ liệu của chương trình, kiểm tra

về chất lượng kỹ thuật và nghệ thuật là điều kiện cho việc tiếp nhận và phânphối dễ đàng

Các bước thực hiện một chương trình Truyền hình đã nêu trên sẽ tuỳthuộc vào quy mô của từng đài, tuỳ thuộc vào trình độ của đội ngũ làmchương trình Truyền hình để lựa chọn và tiến hành làm chương trình cho phùhợp với quy mô của đài

Ngày nay quan niệm về khoa học và công nghệ đã rõ ràng và khẳngđịnh tầm quan trọng của nó trong nền sản xuất, quyết định đến chất lượng và

số lượng sản phẩm

Việc nắm bắt quy luật trong sản xuất không những là chìa khoá để thựchiện tốt quy trình công nghệ mà còn làm cho công nghệ ngày càng thêm hoànthiện trên cơ sở sự cố gắng lao động và trí tuệ cuả mỗi người tham gia vàoquá trình sản xuất

Trang 21

Hiểu được mối quan hệ giữa kỹ thuật và công nghệ và tổ chức đâychuyền tôi ưu cho san xuất là quan trọng đôi với cả kỹ thuât và biên tậpchương trình

Kỹ thuật đưa ra các tính năng hoàn hảo, hiện đại cùa thiết bị sản xuấtchương trình Công nghệ được hình thành từ ý đồ của đạo diễn trên cơ sởhiện trạng của kỹ thuật Dây chuyền sản xuất có tối ưu hay không là sự khaithác triệt đê các điều kiện sẵn có để tạo cho việc sản xuất đạt được các mụctiêu

Có tính khả thi

Dễ dàng khai thác thực hiện chương trình

Tiết kiệm thời gian, kinh tế và đat được chất lượng yêu cầu

Sản xuất chương trình Truyền hình có đặc thù riêng, vừa mang tínhchất nghẹ thuật, kỹ thuật vừa phải đáp ứng liên tục, rộng rãi đến người xem vìvây việc nắm được quy luật trong sản xuất còn giúp cho việc chuẩn bị củatừng cá nhân và sự cộng tác của đội ngũ làm chương trình, là điều kiện đầutiên cho viộc thành công đôi với một loại sản phẩm phong phú, đa dang

Sản phẩm cùa Truyền hình là các chương trình Truyền hình mang tínhnghệ thuật, kỹ thuật cao Đối tượng của Truyền hình là hàng tỉ khán giả, vìvậy Truyền hình đòi hỏi sự nhanh nhạy và hấp dẫn người xem Trong thực tế

mở ra cho Truyền hình khả năng sản xuất và sáng tạo ở mức độ cao và khôngthể dừng lại, không bị hạn chế, cùng một chương trình Truyền hình nhưngtuỳ thộc vào công nghệ sẽ có những mức độ thể hiện khác nhau

Muốn cho sản phẩm Truyền hình hấp dẫn và nhanh nhạy, cẩn phải đẩu

tư và phát huy hết khả năng của khoa học và công nghộ

Bước vào thế kỷ thứ 21, thời đại bùng nổ của cách mạng Khoa học và,

Kỹ thuật, các thiết bị kỹ thuật có những tiến bộ vượt bậc, ỉuồn đưa đến chobiên tập, đạo diễn những khả năng mới mẻ, đòi hỏi phải có sự cộng tác đác

Trang 22

lực giữa những người làm kỹ thuật và biên tập để đổi mới công nghệ ngàycàng hoàn thiện.

Ví dụ:

Khi chưa thu được các tín hiệu truyền hình từ vệ tinh, không có cácđường truyền dẫn tín hiệu như Viba, cáp quang với các hãng Truyền hình,không có các cơ quan thường trú ở các nơi trên thế giới thì số lượng tin tứckhông thể có nội dung phong phú, hấp dẫn như hiện nay

Các khả năng của thiết bị thu phát tín hiệu: Vệ tinh, Viba, các thiết bịgọn nhẹ, thông tin qua mạng Internet ngày càng phong phú có thể giúp phầntin thế giới có thêm các hình ảnh sống động, kịp thời từ khắp các nước trênthế giới Từ đó cồng nghệ sản xuất phần tin thế giới đặt trước một đòi hcá Làphải ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao, ứng dụng được những thành tựu mớinhất của khoa học kỹ thuật về thu phát vệ tinh, vẻ sản xuất các thiết bị gọnnhẹ để đưa vào dây chuyền sản xuất chương trình

Việc nghiên cứu và chế tạo ra các thiết bị như: Kỹ sảo, máy ghi hìnhchuyên dụng đã làm cho các nhà làm chương trình Truyền hình thực hiệnđược các kiểu kỹ sảo phong phú đa dạng gây ấn tượng nghệ thuật sâu sắctrong tác phẩm của mình

Vì vậy luôn phải đặt ra yêu cẩu và tìm tòi ứng dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất chương trình Truyền hình là việc làm tất yếu đối với độingũ làm chương trình Truyền hình, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình ứngdụng khoa học và công nghệ rất lớn

Kỹ thuật giói thiệu với biên tập những khả năng mới của thiết bị sẽ dẫnđến hình thành cấc bước công nghệ mới làm cho chương trình phong phú hơn

và cũng chính trong khi thực hiện công nghệ lại nẩy sinh nhữnf yêu cấu mớiđòi hỏi kỹ thuật phải tiếp tục tìm tòi công việc Chu trình đó sẽ kéo dài liêntục cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Dây chuyền sản xuất tối ưu

Trang 23

hình thành trên công nghệ cùng với những kinh nghiệm đã được tích luỹ và

sự sáng tạo của những người tham gia làm chương trình Truyền hình

Trang 24

(Phần này sẽ khai thác các tài liệu nghiên cứu, sách, giáo trình đã công

bố trong và ngoài nước, qua đó hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình DBTT của Đài

THVN

Cũng trong mục này, có thể đề xuất một khung chương trình DBTTmẫu, phù hợp với thực tế của Đài THVN để làm căn cứ so sánh, đánh giá vớicác chương trình DBTT trong thực tế

1.2 Sự ra đời và phát triển, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác dự báo thời tiết trên đài truyền hình

1.2.1 Về sự ra đời, phát triển của chương trình “Dự báo thời tiết”

ở Đài Truyền hình Việt Nam

1.2.2.1.Về sự ra đời của chương trình

1.2.1.1.Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác dự báo thời tiết

1.2.1.2.Quan điểm của ngành truyền hình về vị trí, vai trò, tầm quantrọng của công tác dự báo thời tiết

1.2.1.3 Bức tranh khái quát về các chương trình “Dự báo thời tiết” trênsóng truyền hình Việt Nam hiện nay

Tiểu kết chương 1

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH DỰ BÁO THỜI TIẾT CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

TỪ ĐẦU 2012 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2013 2.1 Các mô hình cơ bản của dự báo thời tiết hiện nay

2.1.1 Mô hình GFS (Global Forecasting System)

GFS là mô hình phổ toàn cầu của Trung tâm dự báo môi trường Mỹ(NCEP-National Centers for Environmental Predictions) GFS bắt đầu đượcđưa vào sử dụng nghiệp vụ tại National Meteorological Centre (NMC), tiềnthân của NCEP, từ năm 1988 Mô hình thường xuyên được cải tiến và nângcấp, cho đến nay mô hình có hai cấu hình: 1) Độ phân giải ngang là 35 km, sốmực theo chiều thẳng đứng là 64 (T382L64: cho dự báo 7,5 ngày -180 giờ) và2) Độ phân giải ngang là 70 km, số mực theo chiều thẳng đứng là 64(T190L64: cho dự báo 16 ngày – 360 giờ)

Trường phân tích và dự báo của GFS được sử dụng miễn phí Tuy

nhiên, các trường này có độ phân giải ngang thô hơn (~55km) với số mựcthẳng đứng 42

Các sản phẩm của mô hình :

Miền dự báo được

hiển thị:

(50N-260N, 980-1250E) cho các trường bềmặt

(100S-400N, 800-1450E) cho các trườngtrên cao

Ngày đăng: 21/06/2022, 00:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình sản xuất một chương trình TH - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình sản xuất một chương trình TH (Trang 13)
Hình 1.2: Sơ đồ nhân sự tham gia sản xuất một chương trình TH - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
Hình 1.2 Sơ đồ nhân sự tham gia sản xuất một chương trình TH (Trang 14)
Hình 1.3: Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
Hình 1.3 Các yếu tố làm nên một sản phẩm truyền hình (Trang 15)
Sơ đồ khối quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình: - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
Sơ đồ kh ối quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình: (Trang 17)
Phần 3: Hình thế giải thích cho hiện trạng quá khứ vả dự báo tương lai. (30”) - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
h ần 3: Hình thế giải thích cho hiện trạng quá khứ vả dự báo tương lai. (30”) (Trang 34)
- Phần 6: bảng trôi cuối (30 giây) - luận văn tổ chức sản xuất chương trình “dự báo thời tiết” của đài THVN
h ần 6: bảng trôi cuối (30 giây) (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w