Vì vậy, việc xây dựng một nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vô cùng cần thiết và là điều kiện tất yếukhách cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh đất nước
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Họ và tên: Trần Đức Anh MSSV: 2051040004
Lớp: Truyền thông đa phương tiện K40 Giảng viên: Đỗ Minh Tuấn
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM
I VĂN HOÁ VÀ NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ
Trang 3MỞ ĐẦU
Văn hoá là đặc trưng riêng của mỗi quốc gia, dân tộc, đóng vai trò vô cùngquan trọng trong quá trình phát triển đất nước Nói theo cách khác, một đất nướcphát triển thì luôn sở hữu một nền văn hoá tiên tiến Vì vậy, việc xây dựng một nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vô cùng cần thiết và là điều kiện tất yếukhách cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang trên
đà phát triển
Hiện nay, văn hoá Việt Nam, cũng như công cuộc xây dựng và phát triển nềnhoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đang gặp phải nhiều rào cản lớn, bao gồm hệquả của quá trình toàn cầu hoá dẫn đến sự thâm nhập của làn sóng văn hoá bênngoài, tác động của chiến lược “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoácủa các thế lực thù địch, và các vấn đề nội bộ ngành như tiềm lực về cơ sở vật chất,khoa học công nghệ Những rào cản, thách thức này đặt ra câu hỏi: “Liệu tiến trìnhxây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tại Việt Nam có thểđược thực hiện? Và được thực hiện như thế nào?
Thông qua những nghiên cứu về tình hình hiện tại và những chủ trương,đường lối mà Đảng đề ra và thống nhất, bài tiểu luận này sẽ lý giải câu hỏi trên vàđưa ra những giải pháp thiết thực cho công tác lãnh đạo xây dựng nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng, đồng thời, liên hệ với thực tếtrách nhiệm của giới trẻ trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc cá nhân, tập thể, vàdân tộc, cụ thể là trách nhiệm của sinh viên trong giữ gìn và phát huy bản sắc sinhviên trường Đảng tại Học viện báo chí và tuyên truyền
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM
TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
I VĂN HOÁ VÀ NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
1 Văn hoá và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một khái niệm phong phú, đa chiều Vì vậy, mỗi cá, tổ chức lại cónhững quan điểm và cách định nghĩa khác nhau
Theo UNESCO: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạotrong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thànhnên một hệ thống các giá trị, các truyền thông và thị hiếu – những yếu tố xác địnhđặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạocủa cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển của cộng đồng đó Nhữngđộng này, trải qua một thời gian dài được thực hiện liên tiếp và lặp đi lặp lại, sẽ trởthành đặc điểm chung giữa những người trong cộng đồng và là đặc thù, bản sắcriêng của mỗi cộng đồng, từng dân tộc Tuy nhiên, khi nhắc đến sáng tạo, chúng tathường nghĩ về những hoạt động, khía cạnh liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật, từ
đó, đi đến kết luận rằng văn hoá là nghệ thuật Nếu hiểu theo nghĩa đó thì địnhnghĩa mà UNESCO đưa ra vẫn còn nhiều điều chưa hợp lý trong bối cảnh tại ViệtNam
Trong khi đó, theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích củacuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằngngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phátminh đó tức là văn hóa” Như vậy, định nghĩa của Bác đã cho ta cái nhìn toàn diệnhơn về văn hoá Không phải chỉ ở trong nghệ thuật, văn hoá còn tồn tại và đượckiến tạo trong mọi hoạt động trong cuộc sống của con người Những hoạt động ấy
Trang 5luôn bắt nguồn từ “lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, trải qua thực tiễn
và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thànhnhững chuẩn mực, những được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thànhkho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sảnvăn hóa của toàn nhân loại
Bên cạnh đó, văn hoá còn bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần Trong
đó, giá trị vật chất là tất cả những sáng tạo hữu hình của con người mà trong xã hộihọc gọi chung là đồ tạo tác Những con đường, tòa cao ốc, đền đài, phương tiệngiao thông, máy móc thiết bị đều là đồ tạo tác Còn giá trị tinh thần là những ýniệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một hệ thống
Như vậy, có thể kết luận rằng văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất vàtinh thần do con người tạo ra trong lịch sử nhằm vươn tới chân – thiện – mỹ và sựphát triển bền vững, an toàn cho cá nhân, cộng đồng, và xã hội
1.2 Vai trò của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đối với sự phát triển đất nước
Tuy là một khái niệm phong phú và đa chiều, định nghĩa về văn hoá luônthống nhất ở một điểm, rằng văn hoá là sản phẩm của con người, được con ngườitạo ra thông qua các hoạt động trong đời sống Bên cạnh đó, con người luôn có vịtrí quan trọng đối với đất nước Vì vậy, văn hoá cũng đóng một vai trò to lớn trong
sự phát triển đất nước
Trước hết, văn hóa là mục tiêu của sự phát triển đất nước Điều này là bởivăn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, làhoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm chocon người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vậtphát triển thành con người Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vậtchất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hộiloài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao Đápứng
Trang 6nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều củacải vật chất cho con người và xã hội.
Thứ hai, văn hóa là động lực của sự phát triển Mọi sự phát triển của đấtnước đều do con người quyết định, chi phối Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọitiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong conngười đóng góp vào sự phát triển xã hội
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu
tố lao động của con người cho sự phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển làtrí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trịvật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú củamỗi người cũng như của toàn xã hội
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiềuhay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khảnăng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người haykhông? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa làtrong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống,trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấuthành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóatrong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giaotiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợptác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnhvực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xãhội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu Minh chứng rõ nét cho điều này chính làNhật Bản Sau Thế chiến II và sự tàn phá khủng khiếp của hai quả bom nguyên tử,Nhật Bản đã phải hứng chịu tổn thất lớn về kinh tế Bên cạnh đó, nước này cũngkhông sở hữu những đặc điểm địa lý tự nhiên thích hợp để phát triển kinh tế Tuy
Trang 7nhiên, nhờ tập trung phát triển yếu tố con người, khai thác tiềm năng sẵn có củanhân dân Nhật Bản, đất nước mặt trời mọc, trong một khoảng thời gian ngắn, đãvươn lên trở thành con rồng Châu Á Hiện nay, Nhật Bản vẫn thuộc top những quốcgia phát triển hàng đầu khu vực và thế giới nhờ thế mạnh con người và sự ứngdụng các thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại.
Cuối cùng , văn hóa điều tiết của sự phát triển Văn hóa phát huy mặt tíchcực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điềukiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâubền Mỗi quốc gia đều có hướng phát triển kinh tế riêng dựa trên những đặc điểm
về con người, xã hội, và văn hoá của quốc gia đó Nếu chiến lược phát triển kinh tếphù hợp với văn hoá, văn hoá sẽ thúc đẩy mạnh nền kinh tế, khiến nó phát triểnmột cách bền vững Ngược lại, nếu chiến lược phát triển đất nước không phù hợpvới những đặc điểm của con người, xã hội, và văn hoá, nền kinh tế sẽ không nhữngkhông phát triển mà còn có thể lao dốc Kinh tế Việt Nam thời kì bao cấp là một ví
dụ điển hình cho điều này Sau hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đếquốc Mỹ, nước ta bước vào thời kì xây dựng và phát triển đất nước Lúc này, tuynền văn minh lúa nước vẫn còn, người dân vốn quen thuộc với văn hoá làm nông,cày cấy, và thu hoạch theo hộ gia đình, nhà nước lại thi hành cơ chế kế hoạch hoátập trung, quan liêu bao cấp, khiến nền kinh tế khi ấy tăng trưởng rất thấp mỗi năm.Phải đến những năm 1980, toàn quốc thực hiện đổi mới, chia đất về cho từng hộ giađình cày cấy, kinh tế Việt Nam mới bắt đầu khởi sắc và ngày nay, vẫn thường đạtmức tăng trưởng cao hàng năm
Như vậy, có thể nói, văn hoá đóng vai trò vô cùng quan trọng, vừa là mụctiêu, động lực, vừa điều tiết sự phát triển đất nước Vì vậy, việc giữ gìn và phát huyvăn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc là vô cùng cần thiết
Trang 82 Nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Giống như những nền văn hoá khác trên thế giới, nền văn hoá Việt Nam tổnghoà những giá trị vật chất và tinh thần do con người Việt Nam tạo ra, là bản sắc củadân tộc Việt Nam
Nền văn hoá ấy bao gồm 8 đặc trưng tiêu biểu:
Thứ nhất, nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ởmiền sông nước và biển đảo
Nước Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, có diện tích đất liền 331.212
km2, đường bờ biển dài 3.260km Biển nước ta rộng gấp hơn 3 lần diện tích đất liền
và chiếm khoảng 29% diện tích toàn biển Đông, nơi có tới trên 3.000 hòn đảo lớnnhỏ Khí hậu nhiệt đới nắng nóng, mưa nhiều, gió mùa đông bắc lạnh vào mùađông và địa hình đặc trưng với nhiều con sông lớn, nhỏ đã tạo điều kiện thích hợpcho cây lúa nước phát triển Ở Việt Nam, cư dân của 5 dân tộc lớn (Kinh, Tày,Mường, Khmer) đều lấy nghề trồng lúa nước làm nguồn sống chính Ngay tronglịch sử, kể từ thời kì phong kiến, các chính sách khuyến nông đã được thực thi, baogồm trồng lúa nước, đắp đê, khơi kênh mương để điều tiết nước trồng lúa Điều nàycũng dẫn tới trong nền văn hóa Việt Nam số lượng tục ngữ đúc rút tri thức dân gian
về nghề nghiệp phần nhiều là tổng kết kinh nghiệm trồng lúa, những vấn đề liênquan đến nghề trồng lúa nước Không những vậy, bữa ăn của người Việt luôn luôn
có cơm nấu từ gạo, sản phẩm của cây lúa
Thứ hai, nền văn hóa đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi sinh thành, nuôi dưỡng nhân cách conngười Mỗi tộc người, mỗi quốc gia có sự lựa chọn, đề cao những giá trị khác nhautrong văn hóa gia đình Đối với người Việt, giá trị văn hóa gia đình truyền thốngđược đúc kết từ sự thích nghi và ứng phó của dân tộc đối với tự nhiên và xã hộitrước những thách thức của lịch sử Văn hóa gia đình truyền thống người Việt giàutính nhân văn như kính trọng người già, yêu quý trẻ nhỏ, đề cao tình nghĩa vợ
Trang 9chồng, tôn trọng mẫu quyền, đề cao vai trò người mẹ trong các sinh hoạt văn hóa
Trang 10gia đình Bên cạnh đó, con cháu phải giữ được nếp nhà, hiếu thảo với cha mẹ Anh
em phải gắn bó, hòa thuận giúp nhau những lúc hoạn nạn, khó khăn Giá trị vănhóa gia đình truyền thống biểu hiện trong các quan hệ xã hội như gọi người lớn tuổi
là ông, bà, chú, bác, cô… còn người ít tuổi hơn là em, cháu, con Một trong nhữnggiá trị văn hóa truyền thống gia đình người Việt là quan niệm gia đình gắn với quốcgia - dân tộc Người Việt coi nước là một gia đình lớn, và các dân tộc coi nhau nhưanh em trong cùng một nhà
Thứ ba, nền văn hóa Việt Nam đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làngxã
Làng xã là một tổ chức xã hội độc đáo trong xã hội phong kiến ở Việt Nam.Làng khởi đầu từ một dòng họ huyết thống sau mở rộng gồm nhiều dòng họ chungsống Làng Việt thể hiện rất rõ tính cộng đồng Các thành viên ở làng xã gắn bó,quan hệ mật thiết với nhau trong mọi hoạt động sống, từ trồng trọt, chăn nuôi, traođổi hàng hóa đến tổ chức các sinh hoạt văn hóa
Bên cạnh đó, dưới thời phong kiến, tổ chức ở mỗi làng Việt khá chặt chẽ, cónhà nghiên cứu đã ví làng Việt là bức tranh thu nhỏ của xã hội Việt Nam, thể hiệnrất rõ tính tự trị Mỗi làng Việt đều có phong tục, nhiều làng dân chủ thảo luậnthông qua hương ước, duy trì các lệ tục lâu đời
Tính cộng đồng và tính tự trị là cơ sở để làng Việt trở thành pháo đài văn hóagiữ gìn bản sắc vùng miền Như vậy, ở Việt Nam, làng là một thực thể tự trị nhưnglàng và nước lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên giá trị tình làngnghĩa nước
Thứ tư, nền văn hóa thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia
- dân tộc
Trước thách thức của lịch sử và âm mưu xâm lược của kẻ thù bên ngoài,người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình bằng vũ khí văn hóa, đề cao, lan tỏa sâu rộngtinh thần yêu nước, ý thức về quốc gia - dân tộc Tinh thần yêu nước thấm sâu vàomọi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ Văn thơ yêu nước bác học bất luận ở thời kỳ nào
Trang 11trong lịch sử của dân tộc Việt, nhất là thời kỳ phong kiến tự chủ cũng thấm đậmchủ đề khẳng định Việt Nam là quốc gia có chủ quyền, có cương vực rõ ràng, cónền văn hiến lâu đời Hơn hết, người Việt hiểu rằng mất văn hóa là mất dân tộc,mất nước nên yêu nước là cùng nhau giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Các di tíchlịch sử văn hóa tưởng niệm những người có công với nước và dòng văn nghệ yêunước chống xâm lược đã thể hiện rõ tâm hồn, cốt cách, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổquốc và khát vọng yêu chuộng hòa bình, "không có gì quý hơn độc lập, tự do" củangười Việt, như lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ năm, nền văn hóa Việt Nam đề cao nữ quyền
Lịch sử nhân loại phát triển từ chế độ mẫu hệ chuyển dần sang chế độ phụ
hệ Ở các nước phương Tây, đó là quá trình người phụ nữ mất dần vị thế xã hội,nhất là dưới thời phong kiến Đến nay, vấn đề nữ quyền đang nổi lên trong xã hộiphương Tây, phụ nữ tranh đấu chống kỳ thị, đòi bình đẳng giới Ngược lại trongnền văn hóa Việt Nam, biểu hiện kỳ thị phụ nữ rất mờ nhạt mà hình ảnh người phụ
nữ còn được đề cao, giữ vị trí xứng đáng trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống,nhất là ở những nơi thờ tự tín ngưỡng tôn giáo Trong tín ngưỡng dân gian, ngườiViệt hằng tâm, hằng sản cho những nơi thờ phụ nữ gọi các nữ thần là Thánh Mẫu,
có nữ thần còn được tôn vinh là Quốc Mẫu như Quốc Mẫu Âu Cơ, Quốc Mẫu TâyThiên Tín ngưỡng Tam phủ (thờ Mẫu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, MẫuThuỷ/Thoải) và Tứ phủ, thêm phủ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ tự rộngkhắp ở làng xã, là tín ngưỡng mang đậm dấu ấn của người Việt Nhiều vùng miềntrên đất nước Việt Nam xuất hiện nơi thờ Mẫu, dân chúng gọi các Mẫu ấy là Bà Mẹ
xứ sở Đó là Bà Chúa Xứ trên Núi Sam ở thành phố Châu Đốc (An Giang), LinhSơn Thánh Mẫu trên núi Bà Đen (Tây Ninh), Mẫu Thiên Y A Na của người Chăm
ở Tháp Bà, thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), các nữ thần Poh Nagar trong cáctháp của người Chăm vùng Trung Bộ Ở thời hiện đại hình ảnh người Mẹ vì nướcđược tôn kính dựng tượng như Bà Mẹ Việt Nam anh hùng ở Quảng Nam, Mẹ Suốt
ở Đồng Hới (Quảng Bình)… Những đền thờ liệt nữ Võ Thị Sáu ở Côn Đảo, đền
Trang 12thờ Mười cô gái thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), đền thờThanh niên xung phong ở Hang Tám Cô (Quảng Bình) Dân chúng đã đúc rút vaitrò, vị trí của người phụ nữ Việt: "Lệnh ông không bằng cồng bà", trong mối quan
hệ hài hòa, dân chủ: "Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn"
Thứ sáu, nền văn hóa trọng nông, xa rừng, nhạt biển
Người Việt chọn châu thổ màu mỡ phù sa và những đồng bằng chân núi venbiển để mưu sinh và tổ chức làng xã Thành quả nền văn hóa Việt biểu hiện rất rõ
tư tưởng trọng nông Các làng Việt giàu có, đậm truyền thống, duy trì thuần phong
mỹ tục, được tổ chức chặt chẽ đều là những làng nông nghiệp ở vùng đất màu mỡ.Nền văn hóa kết tinh hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội đối với trồng trọt và chănnuôi gia súc, gia cầm Không những vậy, người Việt đã bảo nhau đắp hàng nghìncây số đê ngăn lũ lụt, khơi hàng trăm cây số kênh, mương điều tiết nước để trồngcấy, chăn nuôi Những con đê, kênh, mương ấy là biểu tượng sức mạnh người dân,đồng thời là biểu tượng văn minh nông nghiệp của người Việt Xem xét trong diễntrình lịch sử, người Việt có xu hướng xa rừng, hướng phát triển là từ rừng xuốngđồng bằng, châu thổ Rừng núi là nơi khó làm ăn, phát sinh bệnh tật, nơi “mathiêng nước độc”.Người Việt là chủ nhân của đất nước có diện tích biển gấp trên balần đất liền nhưng tiềm năng và thế mạnh này chưa được khai thác, phát huy
Thứ bảy, nền văn hóa đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng
Việt Nam là có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số nềnvăn hóa dân tộc Kinh giữ vai trò chủ đạo Lịch sử phát triển văn hóa của người Việt
đã khẳng định sự tôn trọng, cởi mở, giao lưu, tiếp biến văn hóa một cách tự nguyệngiữa các dân tộc, chống biểu hiện kỳ thị, cưỡng bức văn hóa của dân tộc này đốivới dân tộc khác Nền văn hóa đa dân tộc đã tạo nên tiềm năng, thế mạnh phát huysức mạnh mềm văn hóa của quốc gia trong các quan hệ quốc tế, gia tăng tình hữunghị, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc
Văn hóa Việt vận động trong tiến trình lịch sử đã thể hiện rất rõ tính thống
Trang 13nhất của một nền văn hóa quốc gia - dân tộc Các dân tộc khi đã chọn đất Việt làm