32 HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CƠ SỞ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN MIỀN NAM Giáo viên hướng dẫn ThS Đào Xuân Thủy Học viên Võ Anh Tuấn Lớp TCLL CT HC H839 SBD 016 TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022 LỜI CẢM ƠN Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022 Tác giả Võ Anh Tuấn TÊN ĐƠN VỊ CÔNG TY CỔ PHẦ.
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CƠ SỞ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN MIỀN NAM
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đào Xuân Thủy
Học viên: Võ Anh Tuấn
Lớp: TCLL- CT - HC: H839-SBD:016
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2022
Trang 2
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …tháng …năm 2022
Tác giả
Võ Anh Tuấn
Trang 3PHẦN PHÂN BÓN MIỀN NAM.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
(NƠI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI)
THỦ TRƯỚNG ĐƠN VỊ
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI
Trang 6Trang
Chương 1.
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
4
1.1
Các khái niệm liên quan chủ nghĩa Mác - Lênin về liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và độingũ trí thức
4
1.2 Tính tất yếu mối liên minh giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức 91.3 Nội dung liên minh giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức 131.4 Vai trò đội ngũ trí thức trong liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân 17
Chương 2.
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN MIỀN NAM
20
2.2 Thực trạng việc xây dựng đội ngũ trí thức tại Công tycổ phần phân bón Miền Nam 22
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” vào tháng 2 năm
1848 đã đánh dấu sự ra đời của của nghĩa xã hội khoa học - hệ thống lý luận khoahọc soi đường chỉ lối cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình làlật đổ chế độ tư bản, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại
Sự hình thành và phát triển các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa họckhông phải ngay từ đầu đã hoàn thiện, mà đó là một quá trình phát triển từ thấp đếncao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Nó gắn chặt với phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế cùng với những hoạt động không mệt mỏi của Mác, Ăngghen và Lênin.Một trong những vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của cáchmạng xã hội chủ nghĩa đó là vấn đề liên minh giai cấp Lý luận về liên minh giai cấp
là một nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Nó chophép chúng ta nhận thức sâu sắc về tính tất yếu khách quan, nội dung liên minh giaicấp, cùng các hình thức phong phú đa dạng và những phương hướng giải quyết vấn
đề liên minh giai cấp trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trong hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vấn đề lý luận về liênminh giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung rấtquan trọng, là vấn đề được C.Mác - Ph.Ăngghen đặc biệt quan tâm, nó có quá trìnhhình thành và phát triển gắn liền với những điều kiện lịch sử của thực tiễn phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn với những đặc điểm của thời đại, vớinhững đặc thù của các dân tộc và là sự phát triển tất yếu của tư tưởng nhân loại.Nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận liên minh giai cấp, là cơ sở khoa học nó cho phépchúng ta nhận thức sâu sắc về tính tất yếu khách quan, nội dung liên minh giai cấp,cùng các hình thức phong phú đa dạng và những phương hướng giải quyết vấn đềliên minh giai cấp trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Đồng thời là cơ sở
để chúng ta khẳng định tính đúng đắn khoa học của lý luận chủ nghĩa xã hội khoahọc, khẳng định tính đúng đắn về đường lối, chủ trương chính sách xây dựng khốiliên minh công - nông - trí của Đảng ở nước ta hiện nay
Trang 8Công ty Cổ phần phân bón Miền Nam tiền thân là một doanh nghiệp nhànước thuộc Bộ Công Thương - Tập đoàn Hóa Chất Việt Nam được thành lập theoquyết định số 426/HC-QĐ ngày 19/4/1976 của Tổng Cục Hóa Chất Việt Nam.Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam đã chính thức chuyển đổi hình thức quản lýsản xuất kinh doanh sau 34 năm thành lập sang hoạt động mô hình cổ phần hóachính thức từ ngày 01/10/2010 Trong những năm qua, quá trình hoạt động công ty
đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, vị thế, uy tín của công ty ngày càng đượckhảng định Có được kết quả đó là nhờ sự lãnh đạo của Ban giám đốc công ty vớichiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp, khoa học, bên cạnh đó là sự đoàn kết đồnglong nhất chí của toàn thể cán bộ, nhân viên, người lao động công ty Bài học kinhnghiệm được chỉ ra là công ty luôn có chính sách phát huy vai trò đội ngũ trí thức,coi đó là yếu tố quan trọng thúc đẩy công ty phát triển Tuy nhiên, xung quanh vấn
đề xây dựng đội ngũ trí thức của công ty trong thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập
cần phải giải quyết Do đó, nghiên cứu vấn đề “Vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vào việc xây dựng đội ngũ trí thức tại Công ty cổ phần phân bón Miền Nam” làm đề tài khóa luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Trang 9- Chỉ ra thực trạng vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liênminh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vào việc xâydựng đội ngũ trí thức tại Công ty cổ phần phân bón Miền Nam thời gian qua.
- Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin về liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức vào việc xây dựng đội ngũ trí thức tại Công ty cổ phần phân bón Miền Namthời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vào việc xây dựng đội ngũ trí thứctại Công ty cổ phần phân bón Miền Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Công ty Cổ Phần Phân Bón Miền Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Sửdụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác kết hợp với các phương pháp nghiêncứu khác như nghiên cứu lý thuyết, phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, thống
kê, mô tả, so sánh
5 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóaluận gồm 2 chương ( tiết)
Trang 10NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
1.1 Các khái niệm liên quan chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển nền công nghiệp hiện đại với nhịp độ phát triển củalực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng lao động cơbản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặcgián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạocác quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiêntiến trong thời đại hiện nay
Có thể thấy giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất,
là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏchế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động vàgiải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xâydựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động củamình cho nhà tư bản để sống Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ
đã tạo ra trong thời gian lao động
Địa vị kinh tế xã hội giúp cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp cáchmạng triệt để và có khả năng thực hiện sứ mệnh lịch sử, đó là khả năng đoàn kếttoàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủnghĩa đế quốc
Giai cấp nông dân bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm
thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tưnhân về ruộng đất Tính chất “tự túc, tự cấp”, “tự sản, tự tiêu” và sự giới hạn phạm
Trang 11vi địa lí trong làng xã, nông trại địa phương là đặc tính của nông nghiệp sản xuấtnhỏ và của giai cấp nông dân.
Trong chế độ phong khiên, nông dân là lực lượng snar xuất chính và cũng làgiai cấp cơ bản bị áp bức trong xã hội Vốn là những người sản xuất nhỏ và bị hạnchế trong tầm nhìn hẹp của làng xã, họ thường bị thụ động trước các vấn đề xã hội
và trước các cuộc cách mạng xã hội Là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, songtrước sau họ vẫn không thay đổi được phương thức sản xuất, năng lực sản xuất,không có khả năng đưa ra một phương thức sản xuất và một hình mẫu xã hội tiến
bộ hơn Vì vậy, họ không trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng mà chỉ có thể liênminh với giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức và các giai tầng xã hội khác,cùng giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng giải phóng mình và giải phóngdân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Giai cấp nông dân có mô hình sản xuất riêng, một kiểu kết cấu xã hội riêng,
in đậm những thói quen và quan niệm truyền thống, thể hiện đặc biệt dưới chế độphong kiến; khi đã bị tước đoạt quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộngđất, người nông dân trở thành người vô sản hay nửa vô sản nông nghiệp, là kẻ lệthuộc, bị nô dịch về mọi mặt Song trong chế độ xã hội phong kiến, về cơ bản, họvẫn là một nhân tố cách mạng dân tộc - dân chủ, một lực lượng quan trọng gópphần xây dựng vương quyền, bảo vệ nền độc lập dân tộc; trong cách mạng xã hộichủ nghĩa và khi xã hội chuyển sang thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội thì
họ là lực lượng cách mạng quan trọng, cùng với giai cấp công nhân hợp thành độiquân chủ lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền đại công nghiệp,một bộ phận lớn nông dân chuyển thành công nhân nông nghiệp, hay thoát li nôngthôn thành công nhân công nghiệp Nhờ những bước tiến vượt bậc của khoa học -
kĩ thuật, tính chất và vai trò của giai cấp nông dân đã có những thay đổi đáng kể Ởcác nước phát triển, số lượng nông dân còn lại rất thấp, một số ít chuyển thành chủtrang trại, một số lớn trở thành công nhân nông nghiệp có tri thức, có phương tiện
Trang 12kĩ thuật và đạt mức sống cao ở các nước chậm phát triển, giai cấp nông dân vẫnchiếm tỉ lệ cao trong xã hội, điều kiện sống của nông dân rất khổ cực, thậm chí cónơi còn chưa đạt đến mức tối thiểu Ngay cả ở các nước phát triển, nông dân cũnggặp những khó khăn lớn trong cuộc cạnh tranh gay gắt trong hoàn cảnh toàn cầuhoá hiện nay.
Đội ngũ tri thức, hiện nay trong các công trình khoa học khác nhau đang có
rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về trí thức Trong các công trình khoa học đó,trí thức chủ yếu được tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ triết học hoặc xã hội học,với những mục đích nghiên cứu không giống nhau nên đã cho ra đời nhiều địnhnghĩa về trí thức Các định nghĩa đó vừa có những điểm tương đồng, vừa có nhữngđiểm khác biệt nhất định Sự tương đồng và khác biệt đó đã bổ sung cho nhau đểhình thành nên một hệ thống tương đối hoàn chỉnh những dấu hiệu nhận biết ngườitrí thức cũng như để phân biệt trí thức với các đối tượng xã hội khác Trong cácđịnh nghĩa về trí thức, đáng chú ý có các công trình như:
Đại từ điển bách khoa Xô Viết cho rằng: Trí thức là tầng lớp xã hội củanhững người làm nghề nghiệp là làm lao động trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp,sáng tạo, phát triển và phổ biến và văn hóa
Đại Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Trí thức đó là những người có học vấn
và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật văn hóa và đang làmnghề lao động trí óc” [7, tr.978]
Từ những cách định nghĩa này, ta có thể khái quát những dấu hiệu đặc trưng
cơ bản về trí thức như sau:
Thứ nhất, trí thức là những người lao động trí óc phức tạp Đây là dấu hiệu
đặc trưng đầu tiên và cơ bản nhất để nhận biết trí thức V I Lênin cho rằng, tríthức “bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cảmọi người có học thức, các đại biểu của những người lao động tự do nói chung, các
đại biểu của lao động trí óc, khác với những đại diện cho lao động chân tay” [8,
tr.372] Về dấu hiệu này, cần phải chú ý những điểm sau: Trước hết, không phải
Trang 13chỉ có lao động của người trí thức mới cần đến trí óc Hầu hết các hoạt động củacon người, nhất là các hoạt động trong lao động đều cần phải có sự tham gia của trí
óc Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, giá trị của sản phẩm lao động ngày càng phụthuộc vào hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm thì lao động của con ngườicàng cần thiết phải có sự tham gia với tỷ lệ cao của trí óc
Hai là, trí thức là những người có trình độ học vấn cao hơn mặt bằng dân trí.
Đây là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết trí thức Để có thể tham gia lao độngtrí óc phức tạp, tư duy theo chiều sâu, có khả năng sáng tạo thì trí thức nhất thiếtphải có trình độ cao Tuy nhiên, mức độ cao về trình độ học vấn của người trí thứckhông phải là cố định mà nó có sự thay đổi linh hoạt theo thời gian, không gian Vềthời gian, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì mặt bằng dân trí khác nhau, vì vậytiêu chí về “trình độ cao” của người trí thức cũng khác nhau Về không gian, do có
sự chênh lệch về mặt bằng dân trí giữa các vùng nên tiêu trí về trình độ cao của cácvùng cũng không giống nhau
Ở nước ta hiện nay, người được coi là trí thức tối thiểu phải có trình độ từ caođẳng, đại học trở lên Đó là tiêu chí chung, song ở những vùng khó khăn, vùng sâu,vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số thì tiêu chí đó thường là thấp hơn Ở nhữngvùng đó, nhiều người mới chỉ có trình độ trung cấp, sơ cấp nhưng họ vẫn là nhữngngười có trình độ học vấn cao nhất của địa phương, có nhiều đóng góp cho sự pháttriển văn hoá xã hội của địa phương thì họ có thể được coi như những trí thức củavùng đó, địa phương đó, hoặc ít nhất chính sách với trí thức cũng phải bao hàmnhững đối tượng này
Ba là, trí thức là những người có đạo đức cao đẹp, có trách nhiệm công dân tốt Tiêu chí về trình độ kiến thức cao chỉ là tiêu chí “cần” của một người trí thức.
Để thực sự được coi là một trí thức thì họ phải là những người có đạo đức, có tráchnhiệm công dân, đó là yếu tố “đủ” Người có trình độ cao phải đồng thời là ngườimẫu mực về đạo đức, có ý thức đóng góp trí tuệ và công sức cho sự phát triển củađất nước, của xã hội Sự đóng góp của họ phải mang lại những giá trị cụ thể, được
Trang 14xã hội thừa nhận, tôn vinh và noi theo Đối với một trí thức thực thụ, được đemtrí tuệ của mình đóng góp cho đất nước, cho xã hội là một nhu cầu tự thân, một đòihỏi tinh thần bức thiết Như vậy, không phải tất cả những người lao động trí óc,không phải là tất cả những người có trình độ học vấn cao đều là trí thức.
Bốn là, trí thức có thành phần xuất thân đa dạng Trí thức không bao giờ là
một giai cấp, vì họ không đại diện cho một phương thức sản xuất nhất định Tríthức “không hợp thành một giai cấp độc lập về kinh tế”, họ chỉ là một tầng lớptrong xã hội Trí thức có thể xuất thân từ nhiều giai cấp khác nhau Lập trường của
họ phụ thuộc vào lập trường của giai cấp thống trị xã hội V I Lênin khẳng định:
“Thành phần của giới trí thức cũng lộ ra rõ rệt như thành phần của cái xã hội sảnxuất ra những giá trị vật chất” [9, tr.377] Người cũng từng nói: “Nếu không nhập
cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không” [9, tr.378].
Năm là, trí thức là những người có đặc trưng tâm lý, lối sống riêng Do đặc
thù lao động sáng tạo, độc lập nên trí thức thường là những người rất có lòng tựtrọng, tính tự tôn Họ nhạy cảm với xã hội nhưng cũng dễ dị ứng với xã hội Đốivới người trí thức, nhu cầu tinh thần cao nhất của họ là được tôn trọng, được tạomôi trường dân chủ rộng rãi để làm việc, nghiên cứu, trao đổi và sáng tạo Trongmột chế độ xã hội nhất định, giai cấp thống trị muốn tập hợp và sử dụng đội ngũnày thì việc đầu tiên và quan trọng nhất là làm cho trí thức đồng thuận với lậptrường, quan điểm của mình
Bên cạnh những đặc trưng cơ bản về người trí thức nêu trên, còn có nhữngđặc trưng khác như đặc trưng về tính cá nhân trong lao động của người trí thức,thời gian và không gian lao động thường mở…
Trên cơ sở phân tích về những đặc trưng cơ bản của trí thức, ta có thể khái
quát: Trí thức là những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn cao so với mặt bằng chung của xã hội về một hoặc nhiều lĩnh vực chuyên môn, có năng lực tư duy độc lập và sâu sắc, có đạo đức và trách nhiệm công dân cao, sáng tạo,
Trang 15truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với toàn xã hội.
1.2 Tính tất yếu mối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
xã hội, để chống lại nó một mình giai cấp công nhân thôi thì không đủ lực lượng”[1, tr.412] Do vậy, giai cấp công nhân phải chủ động liên minh với các giai tầngkhác để chống lại kẻ thù chung Trong xã hội tư bản, giai cấp nông dân và các tầnglớp lao động khác cũng bị áp bức bóc lột hết sức nặng nề nên nếu họ muốn giảiphóng được mình thì phải liên minh với giai cấp công nhân
Từ việc phân tích làm rõ địa vị kinh tế - xã hội của nông dân, cũng như bảnchất chính trị và lợi ích của họ mà việc liên minh của giai cấp nông dân với giai cấpcông nhân trở thành nhu cầu tự nhiên của bản thân giai cấp nông dân, Mác khẳngđịnh: Khi lợi ích của nông dân không còn hoà hợp với lợi ích của giai cấp tư sản,chủ nghĩa tư bản mà lại mâu thuẫn với giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản Vì thế,người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lịch sử lật
đổ tư sản, là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình
Tư tưởng của Mác - Ăngghen về liên minh giai cấp đã được đề cập đến rấtsớm và khá sâu sắc, đặc biệt là tư tưởng về liên minh giai cấp trong đấu tranh giànhchính quyền Các ông đã đề cập đến tính tất yếu của liên minh giai cấp trong cáchmạng vô sản, vai trò, nội dung, cơ sở, mục tiêu của liên minh giai cấp Những tư
Trang 16tưởng này là tiền đề cho các nhà mác xít chân chính sau này kế thừa và phát triểntrong điều kiện mới.
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triểnthành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản đã bộc lộ rõ tính chất của nó Bên cạnhnhững mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản, chủ nghĩa đế quốc còn tạo ranhững mâu thuẫn mới như: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộcđịa, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bảnvới nhau Trong khi đó, trung tâm cách mạng đã chuyển từ Đức sang Nga; phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước phát triển mới, một loạt cácđảng xã hội - dân chủ ở các nước ra đời; chủ nghĩa Mác đã từng bước thâm nhậpsâu rộng vào phong trào công nhân
Góc độ chính trị - xã hội: Thông qua những hoạt động lãnh đạo cách mạngNga trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, Lênin đã đề cập khá rõđến tư tưởng về liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tríthức; một sự phát triển khá đặc sắc của Lênin so với quan điểm của Mác -Ăngghen Sự phát triển đó là đòi hỏi khách quan của thời đại mới đặt ra Trongthực tiễn cách mạng Nga những năm 20 của thế kỷ XX, Lênin còn mạnh dạn sửdụng cả những chuyên gia tư sản vào quá trình phát triển kinh tế, Lênin “sẵn sàngđổi một tá những người cộng sản mà dương dương tự đắc lấy một chuyên gia tư sản”[10, tr.389], sẵn sàng trả lương rất cao cho các chuyên gia tư sản để tận dụng họ vàotrong quá trình phát triển đất nước.Lênin cũng chỉ rõ vai trò của liên minh công nôngtrong Cách mạng tháng Mười Nga: “Nếu không liên minh với nông dân thì khôngthể có được chính quyền của giai cấp vô sản, không thể nghĩ được đến việc duy trìchính quyền đó…” [10, tr.390] Việc duy trì liên minh giữa giai Cấp vô sản và nôngdân giúp giai cấp vô sản có thể giữ quyền lãnh đạo và chính quyền nhà nước
Quá trình phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học về liên minh giai cấp
là một tất yếu lịch sử, nó xuất phát từ thực tiễn phát triển của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa Thực tiễn chứng
Trang 17minh: ở đâu, lúc nào xây dựng được khối liên minh vững chắc thì cách mạng tiếnlên và giành thắng lợi; ngược lại thì cách mạng trì trệ, thụt lùi, thậm chí sụp đổ - đócũng là quy luật tất yếu trong sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhânquốc tế.
Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu của cách mạng ở nước ta Quá trình phát triển
lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học về liên minh giai cấp là một tất yếu lịch sử nóxuất phát từ thực tiễn phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vàthực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi; trở thành vấn đề có tính quy luật của
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo dảm cho sự nghiệp cách mạng đi đếnthắng lợi cuối cùng Thực tiễn đã chứng minh ở đâu, lúc nào xây dựng được khốiliên minh vững chắc thì cách mạng tiến lên và giành thắng lợi; ngược lại thì cáchmạng trì trệ, thụt lùi, thậm chí sụp đổ Đó cũng là quy luật tất yếu trong sự pháttriển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, dovậy những tư tưởng của Đảng luôn gắn bó chặt chẽ với những tư tưởng của Người
và cũng không ngừng vận động, phát triển phù hợp với từng giai đoạn lịch sử củacách mạng Việt Nam
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định đúng đắn con đường cách
mạng của dân tộc Việt Nam, Đảng ta “chủ chương làm tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới xã hội cộng sản”, tức là Đảng ta xác định
ngay từ đầu rằng cách mạng Việt Nam phải đi theo là con đường cách mạng vô sản,theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Do vậy, mọi chủ trương đường lối củaĐảng luôn có sự dẫn dắt chỉ đường của chủ nghĩa Mác - Lênin
Do đặc điểm dân tộc Việt Nam là dân tộc sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,lực lượng giai cấp công nhân phần lớn xuất thân từ giai cấp nông dân, gắn bó chặtchẽ với nông dân; lợi ích của giai cấp công nhân hoà hợp với lợi ích của nông dân
và của dân tộc Việt Nam Vì vậy Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳngđịnh rằng công nhân và nông dân là lực lượng chính của cách mạng Việt Nam, các
Trang 18lực lượng lao động khác là đồng minh tin cậy, là “ bầu bạn” của công nhân Hồ Chí
Minh đã dặn: “Công nông là cái gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi” [6, tr.351].
Trong các lực lượng “bầu bạn” của cách mạng, Đảng ta hết sức coi trọng độingũ trí thức, coi trí thức là “nhân tài của đất nước”, là lực lượng hết sức cần thiếtcho cách mạng cả trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức” Để tập hợp được lực lượng to
lớn trong đấu tranh giành chính quyền, Đảng ta còn có những hình thức linh hoạtsáng tạo, lôi kéo được quảng đại quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng để đấutranh vì quyền lời của cách mạng, của dân tộc; lực lượng đó không chỉ là côngnhân, nông dân và trí thức mà còn cả lực lượng trong hàng ngũ tiểu tư sản, cácđảng phái khác và kể cả tư sản dân tộc, nghĩa là các lực lượng đó ủng hộ chính
sách giải phóng dân tộc Đảng ta đặt ra nhiệm vụ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, tri thức, trung nông, Tân việt để kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản Còn bòn phú nông, tiểu địa chủ và bọn tư sản An Nam chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập, bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến ) thì phải đánh đổ” [4, tr.216].
Đây là đường lối sách lược mềm dẻo của đảng ta thể hiện tính linh hoạt, sángtạo trong việc sử dụng lực lượng cách mạng, động thời cũng là sự mở rộng sáng tạokhối liên minh giai cấp để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi
ích giai cấp, vì rằng “trong lúc này nếu không giải quyết đựơc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập dân tộc cho cả quốc gia dân tộc thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [4, tr.218].
Chính trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, từ hiện thực đấu tranhcách mạng của giai cấp công nhân, Đảng ta là người đầu tiên bổ sung phát triển lý
Trang 19luận về liên minh công nông thành lý luận liên minh giữa giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và tầng lớp trí, coi đây là lực lượng nền tảng trong xây dựng vàbảo về tổ quốc xã hội chủ nghĩa Những tư tưởng ấy được Đảng ta xác định từ rấtsớm, và được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng Đến đại hội lần thứ VII Đảngcộng sản Việt Nam những tư tưởng ấy được chính thức ghi vào trong văn kiện của
Đại hội Đến nay Đảng ta vẫn khẳng định tinh thần ấy và nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo” [5, tr.76].
Như vậy, lý luận xây dựng khối liên minh công nông vững chắc trong cáchmạng vô sản của chủ nghĩa xã hội khoa học không những được Đảng ta trung thành
và vận dụng một cách hết sức sáng tạo mà còn được phát triển lên một tầm cao mớithành khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đường lối đúng đắn đó của Đảng đã tạo nênmột sức mạnh phi thường trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, và ngay nay vớiđường lối đó đang tạo ra sức mạnh to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng xã hộichủ nghĩa ở nước ta trong những năm vừa qua
1.3 Nội dung liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ rõ sự liên minh về kinh tế giữa giai cấp côngnhân và giai cấp nông dân Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì liênminh về kinh tế là liên minh cơ bản, thường xuyên và lâu dài, là cơ sở cho liênminh trên các lĩnh vực khác
Theo Ph.Ăngghen, nhiệm vụ chủ yếu của chính đảng vô sản là phải khôngngừng giải thích cho nông dân thấy rằng, chừng nào chủ nghĩa tư bản đang cònnắm chính quyền thì tình cảnh của họ vẫn là tuyệt vọng mà thôi, tuyệt đối chắcchắn là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quy mô lớn sẽ đè bẹp sản xuất quy mô nhỏ,bất lực và lỗi thời của họ Chỉ cần cho nông dân thấy lợi ích chân chính của họ làphải chuyển ruộng đất của họ thành tài sản của hợp tác xã, tức là đưa nông dân đivào sản xuất hợp tác: “Dù sao thì điều chủ yếu cũng là phải làm cho nông dân hiểu
Trang 20rằng chúng ta chỉ có thể cứu vãn và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tàisản đó thành tài sản hợp tác xã và thành những doanh nghiệp hợp tác xã” [2,tr.481] Ph.Ăngghen cũng cho rằng, đó là khâu trung gian trong việc chuyển nềnsản xuất cá thể của nông dân quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không qua phát triển tưbản chủ nghĩa.
Nội dung của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và độingũ trí thức thể hiện trước hết ở chỗ, các giai cấp và tầng lớp đoàn kết, gắn bó chặtchẽ, trở thành lực lượng cách mạng chủ yếu nhất để bảo vệ thành quả cách mạng đãgiành được, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xây dựng và bảo vệ Nhànước xã hội chủ nghĩa, một công cụ chủ yếu để nhân dân lao động từng bước thực
sự làm chủ xã hội Để thực hiện được những nội dung và lợi ích nêu trên, việckhông ngừng nâng cao vai trò, nǎng lực và uy tín lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản
lý của Nhà nước là yêu cầu khách quan, bức thiết Có như vậy, xét về mặt chínhtrị - tư tưởng, Đảng mới có thể từng bước chǎm lo việc tuyên truyền, giáo dục giácngộ xã hội chủ nghĩa cho giai cấp công nhân, đặc biệt là giai cấp nông dân để cho
họ có điều kiện nhận thức và thực hiện đúng đường lối cách mạng của Đảng, phápluật và chính sách của Nhà nước trên mọi hoạt động của xã hội
Nội dung kinh tế của liên minh Đây là nội dung cơ bản quyết định nhất, là
cơ sở vật chất - kỹ thuật của liên minh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chỉ rõ nội dung cơ bản
nhất của thời kỳ này là: chính trị đã chuyển trọng tâm sang chính trị trong lĩnh vực kinh tế, đấu tranh giai cấp mang những nội dung và hình thức mới Nội dung này
cần thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích kinh tế thiết thân của giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí và các tầng lớp khác trong xã hội, nhằmtạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội
Nội dung kinh tế của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức ở nước ta thực chất là sự hợp tác giữa họ, đồng thời mở rộng liênkết hợp tác với các lực lượng khác, đặc biệt là đội ngũ doanh nhân… để xây dựng